Kỹ năng xây dựng bản luận cứ bảo vệ cho người bị hại

Chuyên mụcKỹ năng mềm, Luật Luật sư Bản luận cứ

Kỹ năng xây dựng bản luận cứ bảo vệ cho người bị hại.

..

Mục lục:

1. Chuẩn bị luận cứ bảo vệ cho bị hại

2. Cơ cấu bản luận cứ bảo vệ cho bị hại

..

1. Chuẩn bị luận cứ bảo vệ cho bị hại

1.1. Tổng hợp các tài liệu đã thu thập được

Trước khi thực hiện việc chuẩn bị viết bản luận cứ bảo vệ cho bị hại luật sư đã có những hoạt động, thu thập chứng cứ, gặp gỡ bị hại để trao đổi về những vấn đề liên quan đến nội dung vụ án, những yêu cầu của bị hại đưa ra kiểm tra tính phù hợp, mâu thuẫn giữa các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; giữa các đồ vật, tài liệu liên quan mà luật sư đã thu thập được với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Từ đó luật sư sẽ có những đề xuất trực tiếp với cơ quan đang thụ lý hồ sơ vụ án hoặc sẽ xuất trình tại phiên toà làm cơ sở để bảo vệ cho thân chủ. Đối với những trường hợp bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại thì luật sư phải gặp gỡ trao đổi và yêu cầu bị hại cung cấp những giấy tờ có liên quan đến chi phí thực tế.

Khi đã có đủ những chứng cứ tài liệu đã thu thập được luật sư tiến hành tổng hợp lại những tài liệu đó để phân tích và đánh giá.

1.2. Chuẩn bị các tài liệu liên quan phục vụ cho việc bảo vệ

Đó là việc chuẩn bị những tài liệu liên quan để phục vụ cho việc chuẩn bị bài luận cứ bào vệ cho bị hại bao gồm:

1.2.1. Văn bản pháp luật:

Bao gồm Bộ luật hình sự; bộ luật tố tụng hình sự; các văn bản pháp luật liên quan, đặc biệt là các văn bản như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán hoặc các công văn hướng dẫn có liên quan đến hoạt động bảo vệ cho bị hại tại Toà án.

1.2.2. Các tài liệu khác:

Các tài liệu liên quan đến nhân thân của bị cáo, bị hại và các tài liệu khác liên quan đến tình tiết của vụ án hoặc để phục vụ cho việc chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ cô đọng và đi vào lòng người.

1.3. Xác định phương hướng viết bản bảo vệ

Trường hợp xét thấy đủ cơ sở để cho rằng việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung sẽ có lợi cho thân chủ là người vị hại thì định hướng theo yêu cầu toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại thì luật sư có thể định hướng xác định hành vi phạm tộitrách nhiệm dân sự của bị cáo.

Xuất phát từ những trường hợp trên khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ngoài việc thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật, luật sư cần phải nhấn mạnh một số điểm sau:

Nguyên nhân, bối cảnh xảy ra vụ án, tính chất nghiêm trọng cho xã hội và hành vi thực hiện tội phạm, mối quan hệ giữa bị hại và bị cáo;

Các hậu quả thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, kèm theo các tài liệu, chứng cứ, kết quả giám định tổn hại về sức khoẻ do Hội đồng giám định pháp y kết luận, kết quả giám định thiệt hại về tài sản, giám định tài chính kế toán, những tổn hại về mặt tinh thần, gia cảnh của bị hại vào thời điểm xét xử sơ thẩm, thái độ của bị cáo trong việc xử lý mối quan hệ sau khi thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại, từ đó đánh giá về bản chất hành vi, tư cách và thái độ ăn năn, hối cải, có khả năng phục thiện hay không của bị cáo;

Yêu cầu xử lý nghiêm khắc hành vi phạm tội theo tính chất mức độ và các tình tiết định tội và khung hình phạt;

Đề xuất và nêu các căn cứ pháp lý trong việc yêu cầu các mức bồi thường và trách nhiệm về mặt dân sự đối với bị cáo, đồng thời yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm bồi thường như kê biên tài sản, phong toả tài khoản cá nhân

1.4. Trao đổi với thân chủ

Sau khi dự thảo luận cứ bào chữa luật sư cần trao đổi một lần nữa về yêu cầu của thân chủ và trao đổi thống nhất phản ánh đúng bản chất quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ.

2. Cơ cấu bản luận cứ bảo vệ cho bị hại

2.1. Phần mở đầu

Đây là phần có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình tranh luận của luật sư để thu hút sự chú ý của Hội đồng xét xử và của chủ toạ. Giới thiệu về bản thân mình và nêu lý do được tham gia bảo vệ cho bị hại thế hiện rõ tư cách của luật sư tại phiên toà là người được tham gia phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong vụ án. Trong thực tế có một số cách mở đầu cho bài luận cứ bảo vệ như sau:

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!

Thưa vị luật sư đồng nghiệp!

Tôi là Nguyễn Văn Thắng là luật sư thuộc văn phòng Luật sư Thoáng Thâm Thúy, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Nhận lời mời của gia đình bị hại và được sự chấp thuận của Hội đồng xét xử tôi tham gia phiên toà hôm nay để bảo vệ cho bà Nguyễn Thị Hà là bị hại trong vụ án “Mua bán phụ nữ”. Sau đây tôi xin trình bày một số quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hà:

Ngay từ lời mở đầu của bản luận cứ bảo vệ cho bị hại, Luật sư phải thể hiện lời tự giới thiệu về bản thân và khẳng định tư cách tham gia tố tụng tại phiên toà. Tuỳ từng bối cảnh của mỗi phiên toà mà luật sư có thể đưa ra những lời mở đầu khác nhau, tạo ra ấn tượng, cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Nó hoàn toàn không bị ràng buộc bởi sự bất biến, rập khuôn, mà thể hiện sự thích ứng, linh hoạt của luật sư đối với mỗi vụ án khác nhau.

2.2. Phần nội dung

Đây là phần trọng tâm chủ yếu của bài bảo vệ của luật sư, chính là sự kết tinh của quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, quá trình thẩm vấn công khai các chứng cứ tại phiên toà. Đối với bản luận cứ bảo vệ cho bị hại có cấu trúc như sau:

2.2.1. Bảo vệ theo hướng cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho thân chủ.

2.2.1.1. Cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo

Việc cáo buộc bị cáo đòi hỏi bản luận cứ bảo vệ phải chỉ ra được những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự, các tình tiết định khung tăng nặng hơn so với khung mà viện kiểm sát truy tố. Ở vị trí người bảo vệ, kỹ năng bảo vệ phải được thực hiện ngược lại với vị trí của người bào chữa theo hướng giảm nhẹ.

Trường hợp do bị cáo và gia đình bị cáo ngay từ khi xảy ra vụ án đã có thái độ đúng mức xem xét, hỗ trợ cho gia đình bị hại, tìm mọi biện pháp để khắc phục hậu quả của vụ án, bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại và các tổn thất khác do bị cáo gây ra, tự nhận thức được hành vi phạm tội, có thái độ, ăn năn, hối cải, có thể đề xuất giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giảm mức bồi thường thiệt hại còn lại, lui lại tiến độ thanh toán, bồi thường cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, sinh hoạt của bị cáo…

Tuy nhiên, trong quá trình phát biểu quan điểm khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, luật sư cần hiểu mặc dù các yêu cầu tăng nặng, giảm nhẹ về trách nhiệm hình sự và về bồi thường thiệt hại có nhiều điểm trùng hợp, thậm chí nhất trí tán đồng với quan điểm của kiểm sát viên, nhưng xét về bản chất nghề nghiệp vẫn có những khác biệt nhất định giữa tư cách kiểm sát viên và luật sư. Vì vậy, ngôn ngữ, văn phong cần chừng mực, sự quan tâm đến số phận của bị hại không nên dùng những từ ngữ mạnh, chỉ trích, mạt sát, xúc phạm danh dự nhân phẩm của bị cáo. Cần chủ yếu phân tích, đánh giá các chứng cứ có ý nghĩa xác định hành vi phạm tội và liên quan đến trách nhiệm dân sự của bị cáo, khéo léo trong vai trò cào buộc bị cáo của một luật sư  để tránh đồng nhất mình với vài trò của Kiểm sát viên còn quyền quyết định tội danh và hình phạt là thuộc về Hội đồng xét xử.

2.2.1.2. Yêu cầu bị cáo thực hiện trách nhiệm dân sự

Luật sư phải định hướng về việc yêu cầu bồi thường hoặc phản đối lại yêu cầu bồi thường của phía đối tụng với thân chủ của mình. Bản định hướng phải chi tiết và cụ thể, có căn cứ pháp lý, và chi phí hợp lý

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại luật sư phải xác định được bao gồm: Có thiệt hại xảy ra ( thiệt hại bảo gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần); Phải có hành vi trái pháp luật ; thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật; người gây thiệt hại phải có lỗi ( lỗi cố ý và lỗi vô ý).

Luật sư phải xem xét đến năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo; tính chi phí hợp lý bao gồm những chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá cả trung bình của thị trường ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.

Luật sư khi tham gia bảo vệ về bồi thường thiệt hại cần yêu cầu bị hại có nghĩa vụ chứng minh. Bị hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường là những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu… theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị;

Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nướcthẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Khoản chi phí bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

Luật sư cần phải lưu ý những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ…Những khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết; Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm bao gồm những chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị giảm sút; Bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.

2.2.2. Bảo vệ theo hướng yêu cầu Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Khi có cơ sở cho rằng việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung sẽ có lợi cho thân chủ là người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì luật sư có thể định hướng bảo vệ cho thân chủ theo hướng yêu cầu Toà án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung.

2.3. Phần kết luận

Luật sư cần tóm tắt những điểm chính đã trình bày, đưa ra các đề xuất đề áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án theo hướng có lợi cho thân chủ, tóm tắt lại đề xuất về trách nhiệm hình sự của bị cáo và trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải thực hiện bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Phần kết luận là phần khép lại của bản luận cứ bảo vệ, bởi thế luật sư phải dùng những từ ngữ, câu văn mang tính chất biểu cảm, cách nói, cách thể hiện ở mức độ đúng mực nhằm tác động đến tình cảm, lòng trắc ẩn, sự sẻ chia của Hội đồng xét xử mà bị hại phải chịu đựng do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo gây ra.

Kính thưa HĐXX!

Trong vụ án này, hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Văn A không những trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do, thân thể, danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ mà còn gây tâm lý hoang mang cho người dân nơi bị cáo sinh sống, vi phạm trật tự an ninh xã hội ở địa phương. Chỉ vì nghe những lời dụ dỗ, lôi kéo của những đối tượng người Trung Quốc, muốn kiếm tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo lại có hành vi lừa bán phụ nữ qua biên giới. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo phải chịu những hình phạt nghiêm minh trước pháp luật, để làm gương cho người khác cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Mua bán phụ nữ” – áp dụng điểm d, khoản 2, điều 119, Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2, điều 42 – Bộ luật hình sự; điều 611 – Bộ luật dân sự Đề nghị Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn A chịu trách nhiệm thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị Hà số tiền 15.000.000 đồng.

Trên đây là quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Hà bị hại trong vụ án “Mua bán phụ nữ”. Rất mong Hội đồng xét xử xem xét và chấp thuận để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và thể hiện tính công bằng của pháp luật.

5/5 - (1 bình chọn)

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*