Có cáo trạng bao lâu thì xử? Đây là câu hỏi được nhiều bị can, bị hại và những người tham gia tố tụng quan tâm khi vụ án hình sự đã kết thúc giai đoạn điều tra và được Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng truy tố. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, thời gian từ khi có cáo trạng đến khi mở phiên tòa không được ấn định giống nhau cho tất cả các vụ án, mà phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm và quá trình chuẩn bị xét xử của Tòa án. Về nguyên tắc, sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng, Tòa án phải thụ lý, tiến hành chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn luật định. Kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định pháp luật.
- 1. Có cáo trạng bao lâu thì Tòa án mở phiên tòa xét xử?
- 1.1. Viện kiểm sát chuyển bản cáo trạng và hồ sơ vụ án đến Tòa án
- 1.2. Tòa án tiếp nhận hồ sơ và chuẩn bị xét xử
- 1.3. Thời hạn mở phiên tòa sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
- 2. Thời gian từ khi có cáo trạng đến khi xét xử đối với từng loại tội phạm
- 2.1. Đối với tội phạm ít nghiêm trọng
- 2.2. Đối với tội phạm nghiêm trọng
- 2.3. Đối với tội phạm rất nghiêm trọng
- 2.4. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
- 3. Những trường hợp đã có cáo trạng nhưng Tòa án chưa mở phiên tòa
- 3.1. Gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử
- 3.2. Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung
- 3.3. Vụ án bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
- 3.4. Tòa án đã có quyết định xét xử nhưng phải hoãn phiên tòa
- 3.5. Vụ án có người chưa thành niên hoặc được giải quyết theo thủ tục đặc biệt
- 4. Đã có cáo trạng nhưng Tòa án chậm mở phiên tòa thì phải làm gì?
- 4.1. Kiểm tra thời điểm Tòa án thụ lý vụ án
- 4.2. Kiểm tra vụ án đã có quyết định đưa ra xét xử hay chưa
- Kết luận
1. Có cáo trạng bao lâu thì Tòa án mở phiên tòa xét xử?
Theo Điều 244, Điều 276 và Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, thời gian từ khi Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng đến khi Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm được xác định qua ba giai đoạn cơ bản.
1.1. Viện kiểm sát chuyển bản cáo trạng và hồ sơ vụ án đến Tòa án
Theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án có thẩm quyền. Đối với vụ án phức tạp, thời hạn chuyển hồ sơ và bản cáo trạng có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
Như vậy, việc Viện kiểm sát ban hành cáo trạng không đồng nghĩa với việc Tòa án đã nhận được hồ sơ vụ án ngay trong ngày hôm đó. Trên thực tế, giữa thời điểm ban hành cáo trạng và thời điểm Tòa án tiếp nhận hồ sơ có thể tồn tại một khoảng thời gian nhất định theo quy định pháp luật.
Đây là điểm quan trọng vì thời hạn chuẩn bị xét xử của Tòa án được tính từ ngày thụ lý vụ án, không phải ngày Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng.
1.2. Tòa án tiếp nhận hồ sơ và chuẩn bị xét xử
Theo Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi tiếp nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng, Tòa án phải kiểm tra tài liệu, vật chứng kèm theo và việc giao cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can. Nếu hồ sơ đáp ứng các điều kiện theo quy định, Tòa án phải nhận và thụ lý vụ án ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.
Sau khi được phân công, Thẩm phán tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử như nghiên cứu hồ sơ, xem xét chứng cứ, giải quyết những vấn đề tố tụng phát sinh và quyết định hướng xử lý vụ án theo quy định.
Theo khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử được phân chia theo bốn loại tội phạm:
- Tội phạm ít nghiêm trọng: 30 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.
- Tội phạm nghiêm trọng: 45 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.
- Tội phạm rất nghiêm trọng: 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.
Trong những thời hạn này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án.
Do đó, thời hạn chuẩn bị xét xử không đồng nghĩa với thời hạn bắt buộc phải mở phiên tòa, mà là khoảng thời gian để Tòa án xem xét và ban hành một trong những quyết định tố tụng tương ứng.
1.3. Thời hạn mở phiên tòa sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
Theo khoản 3 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đây là quy định trực tiếp xác định khoảng thời gian giữa việc ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và việc thực tế mở phiên tòa.
Ví dụ, ngày 01/10/2026, Tòa án ban hành quyết định đưa một vụ án hình sự ra xét xử. Trong điều kiện thông thường, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ban hành quyết định. Nếu có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định thì thời hạn có thể kéo dài đến 30 ngày.
Như vậy, nếu chỉ mới có bản cáo trạng thì chưa thể xác định chính xác ngày mở phiên tòa. Muốn tính thời hạn, cần biết vụ án đã được Tòa án thụ lý hay chưa, thuộc loại tội phạm nào và đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hay chưa.
2. Thời gian từ khi có cáo trạng đến khi xét xử đối với từng loại tội phạm
Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự, tội phạm được phân thành bốn loại dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội phạm đó.
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Đối với tội phạm ít nghiêm trọng
Tội phạm ít nghiêm trọng là loại tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Theo Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với loại tội phạm này là 30 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án.
Nếu Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định.
Như vậy, trong trường hợp giải quyết theo thủ tục thông thường, không gia hạn và không phát sinh những quyết định tố tụng làm thay đổi tiến trình xét xử, thời gian từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa tối đa theo các mốc thời hạn thông thường là 45 ngày.
Ví dụ, đối với vụ án cố ý gây thương tích được truy tố theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nếu mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng là 03 năm tù thì vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 30 ngày kể từ ngày thụ lý, sau đó Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn luật định nếu đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2.2. Đối với tội phạm nghiêm trọng
Tội phạm nghiêm trọng là loại tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là trên 03 năm đến 07 năm tù. Theo Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm nghiêm trọng là 45 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày, trừ trường hợp có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Như vậy, trong điều kiện giải quyết thông thường, không gia hạn hoặc phát sinh những thủ tục đặc biệt, thời gian từ ngày Tòa án thụ lý đến khi mở phiên tòa có thể lên đến 60 ngày.
2.3. Đối với tội phạm rất nghiêm trọng
Tội phạm rất nghiêm trọng là loại tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là trên 07 năm đến 15 năm tù. Theo khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với loại tội phạm này là 02 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn mở phiên tòa thông thường tiếp tục là 15 ngày.
Do đó, nếu vụ án được giải quyết theo trình tự thông thường, không có quyết định gia hạn hoặc những tình huống làm thay đổi tiến trình tố tụng, thời gian từ khi Tòa án thụ lý đến khi mở phiên tòa có thể lên đến 02 tháng 15 ngày.
2.4. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là loại tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Đây là nhóm tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm đặc biệt lớn, thường đòi hỏi việc nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra chứng cứ và chuẩn bị xét xử hết sức thận trọng.
Theo Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày theo quy định thông thường.
Như vậy, nếu không có quyết định gia hạn hoặc những thủ tục đặc biệt khác, thời gian từ khi Tòa án thụ lý đến khi mở phiên tòa có thể lên đến 03 tháng 15 ngày.
Lưu ý: Các khoảng thời gian nêu tại phần này được tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án và giả định Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử vào thời điểm cuối thời hạn chuẩn bị xét xử. Đây không phải thời hạn cố định cho mọi vụ án và cũng chưa bao gồm thời gian Viện kiểm sát chuyển cáo trạng đến Tòa án.
3. Những trường hợp đã có cáo trạng nhưng Tòa án chưa mở phiên tòa
Trong thực tiễn, không phải vụ án nào cũng được đưa ra xét xử trong thời gian thông thường nêu trên. Một số trường hợp có thể làm cho thời gian từ khi ban hành cáo trạng đến khi mở phiên tòa kéo dài đáng kể.
3.1. Gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử
Theo khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử.
Thời gian gia hạn tối đa được xác định như sau:
- Tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng: Không quá 15 ngày.
- Tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng: Không quá 30 ngày.
Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Ví dụ, đối với vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 30 ngày. Nếu vụ án phức tạp và được Chánh án quyết định gia hạn hợp pháp thêm 15 ngày thì thời hạn chuẩn bị xét xử có thể kéo dài đến 45 ngày. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiếp tục phải thực hiện thời hạn mở phiên tòa theo khoản 3 Điều 277.
Như vậy, việc gia hạn chỉ được thực hiện trong những trường hợp luật định và phải do người có thẩm quyền quyết định, không phải Tòa án có thể tự do kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử.
3.2. Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung
Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến khiến vụ án đã có cáo trạng nhưng chưa được đưa ra xét xử.
Theo Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc những trường hợp luật định, chẳng hạn thiếu chứng cứ cần thiết mà không thể bổ sung tại phiên tòa, có căn cứ về hành vi phạm tội khác hoặc phát hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trong trường hợp này, vụ án phải trải qua các hoạt động tố tụng bổ sung trước khi tiếp tục giải quyết tại Tòa án.
Đáng chú ý, theo khoản 2 Điều 277, đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Do đó, thời gian kể từ khi Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng đầu tiên đến khi mở phiên tòa có thể dài hơn đáng kể nếu vụ án phải điều tra bổ sung.
3.3. Vụ án bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu xuất hiện những căn cứ luật định, Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án. Đối với trường hợp tạm đình chỉ, hoạt động giải quyết vụ án được tạm dừng cho đến khi có căn cứ phục hồi theo quy định pháp luật. Khi vụ án được phục hồi, khoản 2 Điều 277 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử được tính theo thủ tục chung kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.
Như vậy, nếu vụ án đã có cáo trạng nhưng sau đó bị tạm đình chỉ thì không thể tiếp tục tính thời hạn mở phiên tòa một cách máy móc theo mốc thời gian thụ lý ban đầu.
Đối với trường hợp đình chỉ vụ án, nếu quyết định đình chỉ có hiệu lực và không bị hủy bỏ theo trình tự luật định thì vụ án không tiếp tục được đưa ra xét xử sơ thẩm như trường hợp thông thường.
3.4. Tòa án đã có quyết định xét xử nhưng phải hoãn phiên tòa
Một trường hợp khác là Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, đã ấn định ngày mở phiên tòa nhưng sau đó phát sinh căn cứ hoãn phiên tòa.
Theo Điều 297 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc hoãn phiên tòa có thể xảy ra trong những trường hợp như vắng mặt người tham gia tố tụng mà pháp luật yêu cầu phải hoãn, cần xác minh hoặc thu thập bổ sung chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại hoặc định giá tài sản theo quy định.
Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.
Do đó, cần phân biệt thời hạn mở phiên tòa lần đầu theo Điều 277 với thời hạn mở lại phiên tòa sau khi có quyết định hoãn theo Điều 297.
3.5. Vụ án có người chưa thành niên hoặc được giải quyết theo thủ tục đặc biệt
Không phải tất cả các vụ án hình sự đều áp dụng đầy đủ thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường tại Điều 277.
Đối với vụ án có người chưa thành niên là người bị buộc tội, Điều 129 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, quy định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm về nguyên tắc không quá một phần hai thời hạn tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp vụ án có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc thuộc những trường hợp đặc biệt được luật quy định thì có thể áp dụng thời hạn theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ngoài ra, đối với vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn, Điều 462 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là 10 ngày kể từ ngày thụ lý; nếu quyết định đưa vụ án ra xét xử thì phải mở phiên tòa trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Cần lưu ý, trong thủ tục rút gọn, Viện kiểm sát sử dụng quyết định truy tố theo quy định riêng, không phải bản cáo trạng theo quy trình truy tố thông thường.
Vì vậy, khi tính thời hạn xét xử phải xác định vụ án đang được giải quyết theo thủ tục thông thường hay thủ tục đặc biệt, tránh áp dụng nhầm các mốc thời gian.
4. Đã có cáo trạng nhưng Tòa án chậm mở phiên tòa thì phải làm gì?
Việc đã nhận được bản cáo trạng nhưng chờ đợi trong thời gian dài mà chưa được xét xử có thể khiến bị can, bị hại và gia đình lo lắng, đặc biệt đối với những vụ án có người đang bị tạm giam. Để xác định Tòa án có chậm giải quyết vụ án trái quy định hay không, trước hết cần làm rõ ngày Tòa án thụ lý vụ án, loại tội phạm bị truy tố và tình trạng tố tụng hiện tại.
4.1. Kiểm tra thời điểm Tòa án thụ lý vụ án
Đây là bước quan trọng nhất. Theo Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự, ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng hợp lệ, Tòa án phải thụ lý vụ án.
Nếu chỉ căn cứ vào ngày ghi trên bản cáo trạng thì chưa thể xác định chính xác thời hạn chuẩn bị xét xử. Chẳng hạn, Viện kiểm sát ban hành cáo trạng ngày 01/10/2026 nhưng Tòa án nhận và thụ lý hồ sơ ngày 05/10/2026 thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày thụ lý, không phải từ ngày 01/10/2026.
Người tham gia tố tụng có thể liên hệ Tòa án có thẩm quyền hoặc thông qua người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để xác định tình trạng giải quyết vụ án theo quyền tố tụng tương ứng.
4.2. Kiểm tra vụ án đã có quyết định đưa ra xét xử hay chưa
Nếu Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc xác định thời hạn mở phiên tòa trở nên rõ ràng hơn. Theo khoản 3 Điều 277, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định hoặc 30 ngày nếu thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đồng thời, Điều 286 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, trừ những quy định đặc biệt tương ứng.
Do đó, khi đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, người tham gia tố tụng cần kiểm tra ngày ban hành quyết định, thời gian và địa điểm xét xử, đồng thời chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ và các nội dung cần thiết để tham gia phiên tòa.
Kết luận
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, sau khi Viện kiểm sát ban hành cáo trạng, hồ sơ vụ án phải được chuyển đến Tòa án trong thời hạn thông thường là 03 ngày hoặc không quá 10 ngày đối với vụ án phức tạp. Kể từ ngày Tòa án thụ lý, thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày hoặc 30 ngày nếu có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, thời gian thực tế có thể kéo dài nếu vụ án được gia hạn chuẩn bị xét xử, trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc phát sinh những thủ tục tố tụng khác. Vì vậy, mốc thời gian quan trọng nhất để xác định tiến độ xét xử không chỉ là ngày ban hành cáo trạng mà còn là ngày Tòa án thụ lý vụ án và ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.


Để lại một phản hồi