Thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm dân sự là bao lâu?

Thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm dân sự là bao lâu?

Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm sau khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai, hợp đồng, thừa kế, ly hôn và các tranh chấp dân sự khác. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa sơ thẩm; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Tuy nhiên, để xác định tổng thời gian từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, còn phải xem xét thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gia hạn và những tình huống tố tụng có thể phát sinh. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định pháp luật và hướng dẫn cách xác định thời hạn xét xử sơ thẩm dân sự trong từng trường hợp cụ thể.

1. Thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm dân sự theo quy định

1.1. Thời hạn mở phiên tòa là 01 tháng hoặc 02 tháng

Căn cứ khoản 4 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, pháp luật quy định: “Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.”

Như vậy, thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với vụ án dân sự được xác định theo hai trường hợp:

  • Thời hạn thông thường: 01 tháng kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  • Trường hợp có lý do chính đáng: Thời hạn mở phiên tòa có thể là 02 tháng kể từ ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Điểm cần đặc biệt lưu ý là thời hạn 02 tháng không phải khoảng thời gian được tự động áp dụng cho mọi vụ án. Việc mở phiên tòa sau thời hạn thông thường 01 tháng phải có lý do chính đáng. Tòa án không thể tùy ý kéo dài thời hạn mở phiên tòa mà không có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật. Ngoài ra, thời hạn mở phiên tòa nêu trên được tính từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, không phải ngày nguyên đơn nộp đơn khởi kiện hoặc ngày Tòa án thụ lý vụ án.

Ví dụ, ngày 05/10/2026, Tòa án nhân dân khu vực ban hành quyết định đưa vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản ra xét xử sơ thẩm. Theo quy định thông thường, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ban hành quyết định. Nếu có lý do chính đáng thì thời hạn mở phiên tòa có thể là 02 tháng.

1.2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự khi nào?

Theo khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải thể hiện những nội dung cần thiết theo khoản 1 Điều 220, trong đó có:

  • Tên Tòa án và thông tin vụ án được đưa ra xét xử.
  • Thông tin về nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • Thành phần những người tiến hành tố tụng.
  • Ngày, giờ và địa điểm mở phiên tòa.
  • Hình thức xét xử công khai hoặc xét xử kín.
  • Những người được triệu tập tham gia phiên tòa.

Việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử giúp các đương sự biết rõ thời gian, địa điểm xét xử để chuẩn bị tài liệu, chứng cứ, ý kiến tranh luận và những công việc cần thiết. Đặc biệt, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa là những văn bản có ý nghĩa tố tụng quan trọng, cần được đương sự kiểm tra kỹ khi nhận được.

Nếu Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đương sự chưa nhận được văn bản, người tham gia tố tụng có thể liên hệ Tòa án đang giải quyết vụ án để đề nghị kiểm tra việc giao, gửi và xác định chính xác thời gian mở phiên tòa.

2. Từ khi thụ lý vụ án dân sự đến khi mở phiên tòa mất bao lâu?

Đây là nội dung thường gây nhầm lẫn nhất. Nhiều người cho rằng sau khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện thì trong vòng 01 tháng phải mở phiên tòa. Thực tế, thời hạn mở phiên tòa và thời hạn chuẩn bị xét xử là hai khoảng thời gian khác nhau.

Theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử được xác định tùy theo loại tranh chấp.

2.1. Đối với tranh chấp dân sự và hôn nhân gia đình

Theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28, thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án.

Nhóm này bao gồm nhiều tranh chấp thường gặp như tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng dân sự, thừa kế tài sản, quyền sở hữu tài sản, ly hôn, tranh chấp về nuôi con và phân chia tài sản khi ly hôn.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công phải thực hiện các công việc cần thiết để giải quyết vụ án, bao gồm nghiên cứu hồ sơ, xác minh và thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định.

Kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định theo khoản 3 Điều 203, bao gồm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc đưa vụ án ra xét xử.

Nếu vụ án được đưa ra xét xử, Tòa án tiếp tục có thời hạn 01 tháng để mở phiên tòa, trừ trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Như vậy, đối với vụ án dân sự hoặc hôn nhân gia đình được giải quyết theo thủ tục thông thường:

  • Không gia hạn: Thời gian từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa có thể lên đến 05 tháng theo các mốc thời hạn thông thường.
  • Có gia hạn chuẩn bị xét xử tối đa 02 tháng: Thời gian có thể lên đến 07 tháng nếu phiên tòa được mở trong thời hạn 01 tháng sau quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  • Có gia hạn chuẩn bị xét xử và có lý do chính đáng để mở phiên tòa trong thời hạn 02 tháng: Tổng thời gian có thể lên đến 08 tháng.

Đây là cách cộng các thời hạn luật định trong trường hợp Tòa án sử dụng hết thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn mở phiên tòa. Không phải mọi vụ án đều phải kéo dài đến những mốc thời gian này.

Ví dụ, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ngày 10/3/2026. Nếu không gia hạn hoặc phát sinh thủ tục đặc biệt, thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 04 tháng. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 01 tháng hoặc 02 tháng nếu có lý do chính đáng.

2.2. Đối với tranh chấp kinh doanh thương mại và lao động

Theo điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 là 02 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án.

Đây là nhóm tranh chấp về kinh doanh, thương mại và lao động, chẳng hạn tranh chấp hợp đồng thương mại giữa các doanh nghiệp, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh hoặc những tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

So với tranh chấp dân sự thông thường, thời hạn chuẩn bị xét xử của nhóm vụ án này ngắn hơn.

Sau khi kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử và có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 01 tháng hoặc 02 tháng nếu có lý do chính đáng.

Như vậy:

  • Không gia hạn: Thời gian từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa có thể lên đến 03 tháng.
  • Có gia hạn chuẩn bị xét xử tối đa 01 tháng: Tổng thời gian có thể lên đến 04 tháng nếu phiên tòa được mở trong thời hạn 01 tháng sau quyết định.
  • Có gia hạn chuẩn bị xét xử và có lý do chính đáng để mở phiên tòa trong thời hạn 02 tháng: Tổng thời gian có thể lên đến 05 tháng.

Ví dụ, Công ty A khởi kiện Công ty B yêu cầu thanh toán khoản tiền theo hợp đồng mua bán hàng hóa. Nếu đây là vụ án kinh doanh thương mại thuộc Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự và được giải quyết theo thủ tục thông thường, thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng kể từ ngày thụ lý, trừ trường hợp được gia hạn theo quy định.

2.3. Thời hạn xét xử được tính từ ngày nộp đơn hay ngày thụ lý?

Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án, không phải ngày người khởi kiện nộp đơn.

Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với trường hợp người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Đối với trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, thời điểm thụ lý được xác định theo quy định tương ứng tại khoản 4 Điều 195.

Ví dụ, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ngày 01/6/2026 nhưng đến ngày 20/6/2026, Tòa án mới thụ lý vụ án sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết. Khi đó, ngày 20/6/2026 mới là căn cứ để tính thời hạn chuẩn bị xét xử, không phải ngày 01/6/2026.

Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá Tòa án có giải quyết vụ án đúng thời hạn hay không.

3. Những trường hợp thời hạn mở phiên tòa sơ thẩm dân sự có thể kéo dài

Không phải mọi vụ án đều được giải quyết liên tục từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa. Trong thực tiễn, có những tình huống tố tụng khiến thời gian giải quyết kéo dài hoặc được tính lại theo quy định pháp luật.

3.1. Gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử

Theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử.

Thời gian gia hạn tối đa được xác định như sau:

  • Đối với vụ án dân sự và hôn nhân gia đình: Không quá 02 tháng.
  • Đối với vụ án kinh doanh thương mại và lao động: Không quá 01 tháng.

Ví dụ, trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất có nhiều đương sự, nhiều thửa đất và cần thực hiện hoạt động đo đạc, định giá, thu thập hồ sơ địa chính, nếu thuộc trường hợp có tính chất phức tạp theo quy định thì Chánh án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng.

Cần lưu ý rằng không phải cứ tranh chấp đất đai hoặc vụ án có nhiều chứng cứ là đương nhiên được gia hạn. Việc gia hạn phải có căn cứ thuộc trường hợp luật định và do người có thẩm quyền quyết định.

3.2. Vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết

Theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong những trường hợp luật định, chẳng hạn cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền đối với một vấn đề liên quan hoặc phát sinh căn cứ tạm đình chỉ khác.

Trong thời gian tạm đình chỉ, việc giải quyết vụ án chưa thể tiếp tục theo trình tự thông thường.

Đặc biệt, khoản 1 Điều 203 quy định trường hợp có quyết định tạm đình chỉ thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ví dụ, một vụ án tranh chấp thừa kế được Tòa án thụ lý nhưng sau đó phải tạm đình chỉ để chờ giải quyết một vấn đề pháp lý có liên quan. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn và Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại theo quy định, thay vì cộng dồn một cách máy móc với toàn bộ thời gian trước đó.

Do đó, vụ án bị tạm đình chỉ có thể kéo dài đáng kể so với thời hạn xét xử thông thường mà không thể chỉ dựa vào ngày thụ lý ban đầu để kết luận Tòa án vi phạm thời hạn.

3.3. Tòa án hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm

Cần phân biệt gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử với hoãn phiên tòa.

Gia hạn chuẩn bị xét xử xảy ra trước khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hoãn phiên tòa xảy ra khi đã đến giai đoạn mở phiên tòa nhưng phát sinh một trong những căn cứ hoãn theo quy định pháp luật.

Theo Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong những trường hợp luật định, chẳng hạn sự vắng mặt của người tham gia tố tụng mà việc xét xử không thể tiếp tục theo quy định.

Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm dân sự không được quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Đối với vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, thời hạn hoãn không quá 15 ngày.

Quyết định hoãn phiên tòa phải thể hiện lý do hoãn, thời gian và địa điểm mở lại phiên tòa. Nếu sau khi hoãn mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm đã thông báo thì phải thực hiện việc thông báo theo quy định.

Như vậy, nếu vụ án đã có quyết định đưa ra xét xử nhưng sau đó bị hoãn phiên tòa thì thời điểm xét xử thực tế có thể kéo dài hơn so với lịch mở phiên tòa ban đầu.

3.4. Vụ án dân sự được xét xử theo thủ tục rút gọn

Đối với những vụ án đáp ứng điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, thời hạn xét xử được quy định riêng và ngắn hơn so với thủ tục thông thường.

Theo Điều 318 Bộ luật Tố tụng dân sự, trong thời hạn không quá 01 tháng kể từ ngày thụ lý, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Tuy nhiên, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi vụ án đáp ứng các điều kiện theo Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc quy định pháp luật đặc thù có liên quan. Không phải vụ án có giá trị tranh chấp nhỏ hoặc đơn giản theo đánh giá của đương sự đều đương nhiên được xét xử theo thủ tục này.

Nếu phát sinh tình tiết mới khiến vụ án không còn đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn, Tòa án có thể chuyển vụ án sang thủ tục thông thường theo quy định.

3.5. Vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài

Đối với vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, việc xác định thời hạn xét xử có thể phức tạp hơn do phải thực hiện những thủ tục như tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ hoặc ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Khoản 1 Điều 203 đã loại trừ vụ án có yếu tố nước ngoài khỏi phạm vi áp dụng trực tiếp của thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường tại khoản này. Đặc biệt, Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trình tự thông báo thụ lý và ấn định thời gian mở phiên họp, phiên tòa cho đương sự ở nước ngoài.

Trong trường hợp áp dụng thủ tục thông báo cho đương sự ở nước ngoài theo Điều 476, thời điểm mở phiên tòa được ấn định sớm nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án, cùng những quy định riêng về việc mở lại phiên tòa và xử lý kết quả tống đạt.

Vì vậy, không thể áp dụng máy móc thời hạn chuẩn bị xét xử 04 tháng hoặc 02 tháng của vụ án thông thường cho mọi vụ án có yếu tố nước ngoài.

4. Tòa án chậm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm dân sự phải làm gì?

Trong thực tế, không ít đương sự gặp trường hợp vụ án đã được thụ lý nhiều tháng, thậm chí kéo dài hơn dự kiến nhưng vẫn chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Để xác định việc chậm giải quyết có vi phạm pháp luật hay không, cần xem xét toàn bộ tiến trình tố tụng và những quyết định đã được ban hành.

4.1. Kiểm tra thời hạn giải quyết vụ án

Trước hết, người tham gia tố tụng cần xác định chính xác ngày Tòa án thụ lý vụ án và loại quan hệ tranh chấp. Tiếp theo, cần làm rõ vụ án có thuộc trường hợp được gia hạn chuẩn bị xét xử, tạm đình chỉ hoặc giải quyết theo thủ tục đặc biệt hay không. Nếu đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì cần kiểm tra ngày ban hành quyết định, ngày dự kiến mở phiên tòa và những thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử.

Ví dụ, một vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản được Tòa án thụ lý ngày 01/3/2026. Đến tháng 11/2026, Tòa án vẫn chưa ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong trường hợp này, cần kiểm tra xem có quyết định gia hạn, tạm đình chỉ hoặc căn cứ tố tụng nào khác làm thay đổi thời hạn giải quyết hay không.

Nếu không có căn cứ pháp lý phù hợp, việc kéo dài thời gian giải quyết có thể đặt ra vấn đề vi phạm thời hạn tố tụng.

4.2. Làm đơn đề nghị Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử

Khi nhận thấy vụ án chậm được giải quyết, đương sự có thể gửi đơn đề nghị sớm đưa vụ án ra xét xử đến Tòa án đang thụ lý.

Nội dung đơn nên trình bày ngắn gọn, rõ ràng những vấn đề sau:

  • Thông tin về vụ án, số thụ lý và ngày thụ lý.
  • Tòa án đang giải quyết và Thẩm phán được phân công nếu đã biết.
  • Thời gian vụ án đã được thụ lý, giải quyết.
  • Những hoạt động tố tụng đã thực hiện và các quyết định đã nhận được.
  • Căn cứ pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử và mở phiên tòa.
  • Đề nghị Tòa án thông tin tiến độ giải quyết và sớm đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đơn đề nghị có thể gửi đến Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án để xem xét, chỉ đạo kiểm tra tiến độ giải quyết theo thẩm quyền.

Cần lưu ý rằng đơn đề nghị sớm xét xử không đồng nghĩa với đơn khiếu nại tố tụng. Việc đề nghị trước hết nhằm yêu cầu Tòa án kiểm tra và giải quyết vụ án theo đúng thời hạn pháp luật.

4.3. Khiếu nại hành vi chậm giải quyết vụ án

Nếu có căn cứ cho rằng hành vi hoặc quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự có thể thực hiện quyền khiếu nại theo Điều 499 và các điều từ Điều 500 đến Điều 509 Bộ luật Tố tụng dân sự, tùy trường hợp.

Theo Điều 504, khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án hoặc Hội thẩm nhân dân thuộc thẩm quyền giải quyết của Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án. Đối với khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Chánh án thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.

Thời hiệu khiếu nại thông thường là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà mình cho rằng có vi phạm pháp luật, theo Điều 502, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan được pháp luật ghi nhận.

Theo Điều 503, việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn, trong đó nêu rõ thông tin người khiếu nại, nội dung và lý do khiếu nại, yêu cầu giải quyết và chữ ký hoặc điểm chỉ.

Đặc biệt, cần phân biệt giữa việc Tòa án giải quyết vụ án kéo dài nhưng có căn cứ hợp pháp với trường hợp cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng không thực hiện nhiệm vụ trong thời hạn luật định mà không có căn cứ phù hợp. Không phải cứ thời gian giải quyết kéo dài hơn 04 tháng hoặc 06 tháng thì đương nhiên xác định được hành vi vi phạm.

Vì vậy, trước khi thực hiện quyền khiếu nại, người tham gia tố tụng nên kiểm tra đầy đủ hồ sơ, những quyết định tố tụng đã được ban hành và các mốc thời gian có liên quan để bảo đảm nội dung khiếu nại có căn cứ, chính xác.

Kết luận

Thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm dân sự được quy định trực tiếp tại khoản 4 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Trước đó, thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 04 tháng đối với vụ án dân sự, hôn nhân gia đình và 02 tháng đối với vụ án kinh doanh thương mại, lao động, kể từ ngày thụ lý; các thời hạn này có thể được gia hạn khi đáp ứng điều kiện pháp luật. Ngoài ra, việc tạm đình chỉ, hoãn phiên tòa hoặc áp dụng những thủ tục tố tụng đặc biệt cũng có thể làm thay đổi thời gian giải quyết thực tế. Vì vậy, khi xác định Tòa án có mở phiên tòa đúng hạn hay không, cần phân biệt rõ ngày thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử, ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và những quyết định làm thay đổi tiến trình tố tụng. Đây là cơ sở để đương sự thực hiện quyền đề nghị, kiến nghị hoặc khiếu nại khi có căn cứ cho rằng vụ án chậm được giải quyết trái quy định pháp luật.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?
★ ★ ★ ★ ★

Đã có 446 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!