Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân là một trong những hệ thuộc luật cơ bản của Tư pháp quốc tế, thường được gọi bằng thuật ngữ Lex societatis. Hệ thuộc này được sử dụng để xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh những vấn đề thuộc quy chế pháp lý của pháp nhân có yếu tố nước ngoài như năng lực pháp luật dân sự, tên gọi, người đại diện theo pháp luật, tổ chức, tổ chức lại, giải thể và quan hệ giữa pháp nhân với các thành viên. Do pháp nhân có thể được thành lập tại một quốc gia nhưng hoạt động, đầu tư hoặc có tài sản tại nhiều quốc gia khác nhau nên việc xác định pháp nhân mang quốc tịch nước nào và pháp luật nước nào điều chỉnh địa vị pháp lý của pháp nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong Tư pháp quốc tế.
- 1. Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân là gì?
- 2. Vì sao phải xác định quốc tịch của pháp nhân?
- 3. Các tiêu chí xác định quốc tịch của pháp nhân trong Tư pháp quốc tế
- 3.1. Xác định theo nơi thành lập pháp nhân
- 3.2. Xác định theo nơi đặt trụ sở thực tế
- 3.3. Một số dấu hiệu thực tế khác
- 4. Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
- 4.1. Xác định quốc tịch pháp nhân theo nơi thành lập
- 4.2. Pháp luật quốc tịch điều chỉnh quy chế pháp lý của pháp nhân
- 5. Ngoại lệ khi pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch tại Việt Nam
- 6. Phạm vi của Lex societatis và những vấn đề không thuộc Lex societatis
- 7. Ví dụ về hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
- 8. Ý nghĩa của hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
- 9. Một số lưu ý khi học về hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
- Kết luận
1. Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân là gì?
Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân – Lex societatis là nguyên tắc lựa chọn pháp luật theo đó những vấn đề thuộc quy chế pháp lý của pháp nhân được xác định theo pháp luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch.
Có thể hiểu đơn giản, đối với cá nhân, Tư pháp quốc tế thường sử dụng các hệ thuộc như luật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú để xác định một số vấn đề về địa vị pháp lý. Đối với pháp nhân, cũng cần có một dấu hiệu tương đối ổn định để xác định hệ thống pháp luật gắn bó với pháp nhân đó. Dấu hiệu này chính là quốc tịch của pháp nhân.
Ví dụ, Công ty A được thành lập hợp pháp tại Nhật Bản nhưng có hoạt động kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam. Khi cần xác định những vấn đề như cơ cấu tổ chức nội bộ, người đại diện theo pháp luật hoặc việc tổ chức lại Công ty A, trước hết phải xác định quốc tịch của công ty. Nếu theo quy phạm xung đột có thẩm quyền, công ty mang quốc tịch Nhật Bản thì pháp luật Nhật Bản về nguyên tắc sẽ điều chỉnh những vấn đề thuộc phạm vi của Lex societatis.

Do đó, cần phân biệt hai nội dung có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau:
- Quốc tịch của pháp nhân: cho biết pháp nhân được coi là thuộc về hệ thống pháp luật của quốc gia nào.
- Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân: nguyên tắc sử dụng pháp luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch để điều chỉnh những vấn đề nhất định thuộc quy chế pháp lý của pháp nhân.
Nói cách khác, quốc tịch là dấu hiệu kết nối, còn Lex societatis là hệ thuộc luật sử dụng dấu hiệu đó để xác định pháp luật áp dụng.
2. Vì sao phải xác định quốc tịch của pháp nhân?
Trong quan hệ dân sự và thương mại quốc tế, một pháp nhân có thể đồng thời có nhiều mối liên hệ với nhiều quốc gia. Công ty có thể thành lập tại Singapore, đặt văn phòng điều hành tại Việt Nam, có cổ đông ở Nhật Bản, tài sản tại Hàn Quốc và kinh doanh trên nhiều thị trường khác nhau.
Nếu không xác định được pháp nhân thuộc hệ thống pháp luật nào thì sẽ rất khó trả lời những câu hỏi như:
- Tổ chức đó có tư cách pháp nhân hay không?
- Pháp nhân có năng lực thực hiện một loại hoạt động nhất định hay không?
- Ai là người đại diện theo pháp luật?
- Cơ cấu tổ chức nội bộ được xác định như thế nào?
- Quyền và nghĩa vụ giữa pháp nhân với thành viên được điều chỉnh bởi pháp luật nào?
- Khi pháp nhân tổ chức lại hoặc giải thể thì pháp luật nào được áp dụng?
- Thành viên của pháp nhân phải chịu trách nhiệm như thế nào đối với nghĩa vụ của pháp nhân?
Vì vậy, quốc tịch của pháp nhân đóng vai trò như một điểm nối pháp lý tương đối ổn định, từ đó xác định pháp luật điều chỉnh quy chế pháp lý của pháp nhân.
Hệ thuộc này cũng góp phần bảo đảm tính dự đoán trong giao dịch quốc tế. Khi giao dịch với một công ty nước ngoài, các bên có thể xác định trước hệ thống pháp luật cơ bản điều chỉnh tư cách và tổ chức của công ty đó thay vì phải tìm kiếm một hệ thống pháp luật mới ở mỗi quốc gia nơi công ty hoạt động.
3. Các tiêu chí xác định quốc tịch của pháp nhân trong Tư pháp quốc tế
Không phải mọi quốc gia đều sử dụng cùng một tiêu chí để xác định quốc tịch của pháp nhân. Trong lý luận và pháp luật so sánh, có một số phương pháp thường được nhắc đến.
3.1. Xác định theo nơi thành lập pháp nhân
Theo phương pháp này, pháp nhân được coi là mang quốc tịch của quốc gia mà tại đó pháp nhân được thành lập hoặc đăng ký thành lập hợp pháp.
Đây thường được gọi là thuyết thành lập – incorporation theory.
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là tính rõ ràng và ổn định. Nơi thành lập của pháp nhân thường có thể xác định tương đối dễ dàng thông qua giấy tờ đăng ký hoặc hồ sơ thành lập. Việc pháp nhân mở chi nhánh, di chuyển hoạt động kinh doanh hoặc thay đổi nơi điều hành không làm thay đổi ngay quốc tịch của pháp nhân.
Pháp luật Việt Nam hiện nay lựa chọn phương pháp này.
3.2. Xác định theo nơi đặt trụ sở thực tế
Một cách tiếp cận khác là căn cứ vào trụ sở thực tế hoặc trung tâm điều hành thực tế của pháp nhân, thường được gọi là real seat theory.
Theo cách tiếp cận này, điều quan trọng không chỉ là pháp nhân được đăng ký ở đâu mà còn là hoạt động quản lý và điều hành thực sự được tiến hành tại quốc gia nào.
Phương pháp này nhằm tạo mối liên hệ thực chất giữa pháp nhân và hệ thống pháp luật điều chỉnh nó. Tuy nhiên, việc xác định trụ sở thực tế đôi khi phức tạp hơn, đặc biệt đối với tập đoàn xuyên quốc gia hoặc doanh nghiệp có bộ máy quản lý phân tán tại nhiều nước.
3.3. Một số dấu hiệu thực tế khác
Trong lý luận Tư pháp quốc tế cũng có thể gặp những dấu hiệu khác như:
- Nơi đặt cơ quan quản lý trung tâm.
- Nơi tiến hành hoạt động kinh doanh chủ yếu.
- Nơi đặt trụ sở chính.
- Trong một số bối cảnh đặc biệt, yếu tố kiểm soát hoặc mối liên hệ thực chất với một quốc gia.
Tuy nhiên, đây không phải những tiêu chí được áp dụng thống nhất trong mọi hệ thống pháp luật. Mỗi quốc gia lựa chọn phương pháp phù hợp với chính sách pháp luật của mình.
Điểm cần ghi nhớ là không thể tự suy đoán quốc tịch pháp nhân chỉ dựa vào nơi công ty đang kinh doanh. Phải căn cứ vào quy phạm xung đột của hệ thống pháp luật đang được sử dụng để xác định quốc tịch.
4. Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
Pháp luật Việt Nam quy định tương đối rõ vấn đề này tại Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015.
4.1. Xác định quốc tịch pháp nhân theo nơi thành lập
Khoản 1 Điều 676 quy định:
Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập.
Như vậy, Việt Nam lựa chọn nơi thành lập làm dấu hiệu cơ bản để xác định quốc tịch pháp nhân.
Ví dụ, một công ty được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc thì khi áp dụng Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015, quốc tịch của công ty được xác định theo pháp luật của Hàn Quốc.
Việc công ty đó sau này mở văn phòng, có tài sản hoặc tiến hành hoạt động kinh doanh chủ yếu tại Việt Nam không tự động làm thay đổi căn cứ xác định quốc tịch theo Điều 676.
Đây là biểu hiện khá rõ của thuyết thành lập – incorporation theory trong pháp luật Tư pháp quốc tế Việt Nam.
4.2. Pháp luật quốc tịch điều chỉnh quy chế pháp lý của pháp nhân
Sau khi xác định được quốc tịch, khoản 2 Điều 676 sử dụng pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch để điều chỉnh một loạt vấn đề thuộc quy chế pháp lý của pháp nhân.
Các vấn đề này bao gồm:
- Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân.
- Tên gọi của pháp nhân.
- Đại diện theo pháp luật của pháp nhân.
- Việc tổ chức pháp nhân.
- Việc tổ chức lại pháp nhân.
- Việc giải thể pháp nhân.
- Quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân.
- Trách nhiệm của pháp nhân và thành viên đối với các nghĩa vụ của pháp nhân.
Có thể thấy phạm vi của Lex societatis tập trung chủ yếu vào sự tồn tại, địa vị pháp lý và cơ cấu nội bộ của pháp nhân.
Ví dụ, một công ty được thành lập tại nước A có hoạt động tại Việt Nam. Khi cần xác định ai là người đại diện theo pháp luật của công ty về nguyên tắc phải xem xét pháp luật của nước A, bởi đại diện theo pháp luật thuộc phạm vi khoản 2 Điều 676.
Tương tự, nếu cần xác định thành viên công ty chịu trách nhiệm như thế nào đối với nghĩa vụ của pháp nhân thì cũng phải xem xét pháp luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch, trừ trường hợp có quy định đặc biệt khác.
5. Ngoại lệ khi pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch tại Việt Nam
Điểm đặc biệt quan trọng của Điều 676 nằm ở khoản 3.
Theo đó, trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.
Ví dụ, Công ty A được thành lập tại nước ngoài và mang quốc tịch nước ngoài. Nếu Công ty A thực hiện một giao dịch dân sự tại Việt Nam thì khi xem xét năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân đối với giao dịch đó, pháp luật Việt Nam được áp dụng.
Quy định này nhằm bảo đảm các pháp nhân nước ngoài khi tham gia giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ những giới hạn về năng lực mà pháp luật Việt Nam đặt ra.
Tuy nhiên, cần hiểu chính xác phạm vi của ngoại lệ này.
Khoản 3 không quy định rằng cứ pháp nhân nước ngoài giao dịch tại Việt Nam thì toàn bộ quy chế pháp lý của pháp nhân đều chuyển sang chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Ngoại lệ chỉ trực tiếp đề cập đến năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam.
Những vấn đề khác như tên gọi, người đại diện theo pháp luật, tổ chức nội bộ, tổ chức lại, giải thể hay quan hệ giữa pháp nhân với thành viên về nguyên tắc vẫn được xem xét theo khoản 2 Điều 676, tức pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch.
Đây là điểm rất dễ bị nhầm khi học hệ thuộc Lex societatis.
6. Phạm vi của Lex societatis và những vấn đề không thuộc Lex societatis
Việc một pháp nhân mang quốc tịch của nước A không có nghĩa mọi quan hệ mà pháp nhân tham gia đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước A.
Lex societatis chủ yếu điều chỉnh quy chế pháp lý của chính pháp nhân.
Trong khi đó, các quan hệ khác mà pháp nhân tham gia có thể chịu các hệ thuộc luật hoàn toàn khác.
Ví dụ, một công ty Nhật Bản mua một bất động sản tại nước ngoài. Việc xác định tư cách và người đại diện của công ty có thể thuộc Lex societatis nhưng quyền đối với bất động sản lại thường chịu Lex rei sitae – luật nơi có tài sản.
Nếu công ty Nhật Bản ký hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng có thể được xác định theo pháp luật do các bên lựa chọn – Lex voluntatis hoặc pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất, chứ không đương nhiên áp dụng pháp luật Nhật Bản chỉ vì một bên là công ty Nhật Bản.
Nếu tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Việt Nam thì thủ tục tố tụng về nguyên tắc lại chịu Lex fori – luật Tòa án Việt Nam.
Do đó, trong cùng một vụ việc có thể đồng thời xuất hiện:
- Lex societatis: xác định tư cách và quy chế của pháp nhân.
- Lex voluntatis: xác định luật áp dụng cho hợp đồng.
- Lex rei sitae: xác định quyền đối với tài sản.
- Lex fori: xác định thủ tục tố tụng.
- Luật có mối liên hệ gắn bó nhất: được sử dụng trong những trường hợp pháp luật quy định.
Đây là lý do khi giải quyết tình huống Tư pháp quốc tế cần tách từng vấn đề pháp lý trước khi lựa chọn hệ thuộc luật.
7. Ví dụ về hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
Ví dụ 1: Xác định người đại diện theo pháp luật. Công ty A được thành lập tại Nhật Bản và có chi nhánh kinh doanh tại Việt Nam. Khi cần xác định ai là người đại diện theo pháp luật của Công ty A, vấn đề này thuộc phạm vi quy chế pháp nhân. Theo Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015, về nguyên tắc phải căn cứ vào pháp luật của nước mà Công ty A mang quốc tịch, tức hệ thống pháp luật được xác định trên cơ sở nơi thành lập của công ty.
Ví dụ 2: Xác định trách nhiệm của thành viên pháp nhân. Công ty B được thành lập tại nước X. Một tranh chấp phát sinh về việc thành viên của công ty có phải dùng tài sản riêng để chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ của công ty hay không. Đây là vấn đề liên quan đến trách nhiệm của pháp nhân và thành viên đối với nghĩa vụ của pháp nhân nên về nguyên tắc phải được xác định theo pháp luật nước mà Công ty B có quốc tịch.
Ví dụ 3: Tổ chức lại pháp nhân. Một công ty nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam tiến hành sáp nhập hoặc tổ chức lại. Việc công ty có thể tổ chức lại theo hình thức nào, cơ cấu nội bộ thay đổi ra sao và những vấn đề thuộc quy chế tổ chức của công ty về nguyên tắc chịu sự điều chỉnh của luật quốc tịch pháp nhân.
Ví dụ 4: Pháp nhân nước ngoài giao dịch tại Việt Nam. Công ty C được thành lập ở nước ngoài và ký một giao dịch dân sự tại Việt Nam. Khi cần xác định năng lực pháp luật dân sự của Công ty C đối với giao dịch này thì theo khoản 3 Điều 676, pháp luật Việt Nam được áp dụng. Đây là ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc chung của Lex societatis.
Ví dụ 5: Phân biệt luật quốc tịch pháp nhân với luật hợp đồng. Công ty Việt Nam ký hợp đồng với một công ty Hàn Quốc và hai bên chọn pháp luật Singapore điều chỉnh hợp đồng. Khi cần xác định người ký hợp đồng phía công ty Hàn Quốc có phải người đại diện theo pháp luật hay không thì có thể phải xem xét Lex societatis của công ty. Nhưng quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lại có thể chịu pháp luật Singapore theo sự lựa chọn hợp pháp của các bên. Hai vấn đề không nên bị đồng nhất.
8. Ý nghĩa của hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
Trước hết, hệ thuộc này giúp xác định một cách tương đối ổn định địa vị pháp lý của pháp nhân trong quan hệ quốc tế. Một công ty hoạt động ở nhiều nước vẫn có một hệ thống pháp luật cơ bản điều chỉnh sự tồn tại và tổ chức của nó.
Thứ hai, Lex societatis giúp bảo đảm tính liên tục của quy chế pháp nhân. Nếu mỗi khi công ty mở chi nhánh hoặc chuyển hoạt động kinh doanh sang một quốc gia khác mà toàn bộ cơ cấu pháp lý của công ty cũng thay đổi theo pháp luật nước sở tại thì hoạt động xuyên biên giới sẽ rất phức tạp.
Thứ ba, hệ thuộc này giúp các chủ thể giao dịch với pháp nhân nước ngoài xác định được pháp luật cần kiểm tra khi xem xét tư cách, năng lực, đại diện và trách nhiệm của pháp nhân.
Thứ tư, quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015 góp phần tạo ra sự rõ ràng trong việc xác định quốc tịch pháp nhân tại Việt Nam, bởi pháp luật đã lựa chọn cụ thể nơi thành lập làm dấu hiệu kết nối thay vì phải suy đoán dựa trên trụ sở hoặc hoạt động kinh doanh.
Thứ năm, ngoại lệ tại khoản 3 Điều 676 giúp Việt Nam bảo đảm quyền quản lý đối với hoạt động giao dịch của pháp nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, không để một pháp nhân dựa hoàn toàn vào pháp luật nước ngoài để thực hiện những giao dịch mà pháp luật Việt Nam không cho phép.
9. Một số lưu ý khi học về hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
Thứ nhất, cần ghi nhớ công thức cơ bản:
Lex societatis = pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch.
Thứ hai, theo pháp luật Việt Nam:
Quốc tịch pháp nhân → xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập.
Thứ ba, Lex societatis chủ yếu điều chỉnh quy chế pháp lý của pháp nhân, không điều chỉnh tất cả các quan hệ mà pháp nhân tham gia.
Thứ tư, khoản 3 Điều 676 là ngoại lệ quan trọng nhưng chỉ liên quan trực tiếp đến năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài khi xác lập, thực hiện giao dịch tại Việt Nam. Không nên mở rộng ngoại lệ này thành việc áp dụng pháp luật Việt Nam cho toàn bộ tổ chức và hoạt động nội bộ của pháp nhân nước ngoài.
Thứ năm, cần phân biệt quốc tịch pháp nhân với nơi pháp nhân đang hoạt động kinh doanh. Một công ty được thành lập tại nước A nhưng có nhà máy, chi nhánh hoặc thị trường chính tại Việt Nam không vì thế mà đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam theo Điều 676.
Thứ sáu, trong một vụ việc cụ thể phải phân chia từng vấn đề pháp lý. Có thể pháp luật quốc tịch điều chỉnh tư cách của công ty, pháp luật do các bên lựa chọn điều chỉnh hợp đồng và pháp luật nơi có tài sản điều chỉnh quyền sở hữu. Không nên sử dụng Lex societatis cho toàn bộ vụ việc chỉ vì có một pháp nhân nước ngoài tham gia.
Kết luận
Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân – Lex societatis là hệ thuộc luật cơ bản trong Tư pháp quốc tế, theo đó những vấn đề thuộc quy chế pháp lý của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch. Các quốc gia có thể sử dụng những tiêu chí khác nhau như nơi thành lập hoặc trụ sở thực tế để xác định quốc tịch pháp nhân, trong khi pháp luật Việt Nam tại Điều 676 Bộ luật Dân sự 2015 lựa chọn nơi thành lập pháp nhân làm căn cứ. Luật quốc tịch của pháp nhân về nguyên tắc điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự, tên gọi, đại diện theo pháp luật, tổ chức, tổ chức lại, giải thể, quan hệ giữa pháp nhân với thành viên và trách nhiệm đối với nghĩa vụ của pháp nhân. Tuy nhiên, khi pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân đối với giao dịch đó được xác định theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy, để vận dụng Lex societatis chính xác cần xác định đúng quốc tịch pháp nhân, phân biệt quy chế pháp nhân với các quan hệ mà pháp nhân tham gia và nhận diện đúng phạm vi của ngoại lệ theo pháp luật Việt Nam.


Để lại một phản hồi