Nhận thức chung về pháp luật đại cương

Nhận thức chung về pháp luật đại cương

Pháp luật đại cương là môn học nền tảng giúp người học hình thành những nhận thức cơ bản về nhà nước, pháp luật và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Không chỉ cung cấp các khái niệm, nguyên lý chung, môn học còn làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật đại cương với các ngành khoa học pháp lý, khoa học xã hội – nhân văn, đồng thời khẳng định ý nghĩa của kiến thức pháp luật đối với mỗi cá nhân trong học tập, lao động, quản lý và tham gia các quan hệ xã hội. Vì vậy, việc nhận thức đúng về vị trí, đối tượng và vai trò của pháp luật đại cương là cơ sở quan trọng để tiếp cận những nội dung pháp lý chuyên sâu hơn.

1. Pháp luật đại cương là một lĩnh vực khoa học pháp lý

Pháp luật đại cương trong mối quan hệ với các ngành khoa học pháp lý

Hệ thống khoa học pháp lý (luật học) được phân chia thành nhiều lĩnh vực và có nhiều cách phân chia khác nhau tùy theo từng tiêu chí. Tuy vậy, việc phân chia này chủ yếu phục vụ cho mục đích nghiên cứu chuyên sâu về lý thuyết, có nghĩa là phục vụ mục đích tự thân của mỗi bộ môn khoa học.

Nếu phân chia hệ thống khoa học pháp lý thành từng lĩnh vực pháp luật, hệ thống này sẽ bao gồm lĩnh vực lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật, lĩnh vực luật hiến pháp, lĩnh vực luật hành chính và tố tụng hành chính, lĩnh vực luật hình sự và tố tụng hình sự, lĩnh vực luật dân sự và tố tụng dân sự, lĩnh vực luật kinh tế – thương mại, lĩnh vực luật lao động, lĩnh vực luật tài chính – ngân hàng, lĩnh vực luật đất đai, lĩnh vực luật môi trường, lĩnh vực luật khoa học công nghệ…

Ưu điểm của cách thức phân chia này là đáp ứng được sự phát triển liên tục, không ngừng của cuộc sống xã hội nói chung và của khoa học pháp lý nói riêng. Khi cuộc sống thực tiễn vận động và phát triển đi lên, các vấn đề mới xuất hiện, nhu cầu điều chỉnh bởi pháp luật là tất yếu và một lĩnh vực khoa học pháp lý mới được ra đời để phục vụ cho việc nghiên cứu, nhận thức, tìm hiểu những vấn đề đó.

Nếu phân chia theo nhóm thì có thể có các nhóm như sau:

– Nhóm các khoa học lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật bao gồm khoa học nghiên cứu lý thuyết về nhà nước và pháp luật, khoa học nghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật (trên thế giới và ở Việt Nam).

– Nhóm các khoa học pháp lý có tính chất chuyên ngành bao gồm các khoa học pháp lý cơ bản: hành chính, hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, đất đai, tài nguyên – môi trường, tài chính – ngân hàng.

– Nhóm các khoa học pháp lý ứng dụng bao gồm Tội phạm học, khoa học điều tra, giám định tư pháp…

Ưu điểm của cách thức phân chia này là có tính khái quát tương đối cao. Việc khu biệt hệ thống pháp luật vốn dĩ rất rộng thành các nhóm độc lập giúp cho việc nhận thức vấn đề một cách tổng quan hơn.

Pháp luật đại cương là một chuyên ngành khoa học pháp lý cung cấp những kiến thức cơ bản nhất (đại cương), có tính chất nền tảng cho việc nhận thức những tri thức đối với nhiều lĩnh vực khoa học trong hệ thống khoa học pháp lý. Vì vậy, có thể thấy, Pháp luật đại cương nằm trong nhóm các khoa học về lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật, theo cách thức phân chia thứ hai.

Pháp luật đại cương cung cấp những kiến thức tổng thể và khái quát nhất mang tính lý luận về Nhà nước và Pháp luật, trả lời những câu hỏi như nhà nước và pháp luật là gì, chúng khác biệt với các hiện tượng lịch sử – xã hội khác ra sao, xuất hiện từ bao giờ, xuất hiện như thế nào và để làm gì, dưới các hình thức nào, đặc biệt là quá trình tiến hóa của chúng đã, đang và sẽ diễn ra như thế nào…

Như vậy, Pháp luật đại cương có đối tượng nghiên cứu giao thoa với đối tượng nghiên cứu của khoa học lý luận cũng như khoa học lịch sử nhà nước và pháp luật. Có thể nói rằng đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó Pháp luật đại cương là cái riêng, cái thu nhỏ của hai lĩnh vực khoa học lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Đối với các khoa học pháp lý chuyên ngành, mối quan hệ với Pháp luật đại cương là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết. Pháp luật đại cương cung cấp kiến thức tổng quan về nhà nước và pháp luật mang tính cơ bản cho các khoa học pháp lý chuyên ngành và khoa học pháp lý ứng dụng. Về phần mình, các khoa học pháp lý chuyên ngành và khoa học pháp lý ứng dụng bổ sung và cụ thể hóa các vấn đề trong xã hội có liên quan đến nhà nước và pháp luật mà Pháp luật đại cương đặt ra. Ví dụ: vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước trong khoa học hiến pháp, các hành vi vi phạm pháp luật bị coi là tội phạm trong khoa học luật hình sự, vấn đề tổ chức kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng thể hiện nguyên tắc tự định đoạt, tự thỏa thuận giữa các bên trong khoa học luật thương mại…

Pháp luật đại cương trong mối quan hệ với các ngành khoa học xã hội – nhân văn

Nghiên cứu các quy luật vận động của xã hội, của các hiện tượng diễn ra trong xã hội loài người, hệ thống khoa học xã hội – nhân văn bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Có thể kể đến những ngành khoa học xã hội – nhân văn điển hình mà Pháp luật đại cương có mối quan hệ chặt chẽ như Triết học, Chính trị học, Tâm lý học, Kinh tế học. Mối quan hệ này là mối quan hệ giữa các thành phần trong một hệ thống, giữa các cấu trúc riêng với nhau trong một tập hợp thống nhất. Trong đó Triết học đóng vai trò quan trọng nhất, vai trò trung tâm dẫn dắt các mối quan hệ.

Triết học đặt ra cho Pháp luật đại cương những vấn đề phải giải quyết một cách khái quát nhất, mang tính phương pháp luận, về nhà nước và pháp luật trong mối quan hệ với các hiện tượng tự nhiên và các hiện tượng xã hội. Triết học đóng vai trò dẫn đường.

Pháp luật đại cương đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể mang tính chất cơ bản, quan trọng nhất về nhà nước và pháp luật, quan hệ giữa “hai hiện tượng lịch sử – xã hội” là nhà nước và pháp luật với nhau. Pháp luật đại cương thực hiện nhiệm vụ cụ thể hóa, đóng vai trò của kẻ được dẫn dắt bởi triết học.

Chính trị học là khoa học xã hội nghiên cứu những quy luật vận động của xã hội, lấy đối tượng là các lực lượng chính trị, các cuộc đấu tranh chính trị, các liên minh chính trị, các nhân tố chính trị là cá nhân, đoàn thể, tổ chức, đảng phái, giai cấp, phong trào chính trị mà Nhà nước và pháp luật là những thành tố quan trọng đặc biệt. Quan hệ giữa Pháp luật đại cương với Chính trị học là mối quan hệ giao thoa, tương hỗ với nhau. Không thể tách rời nhà nước và pháp luật ra khỏi đời sống chính trị – xã hội và cũng không thể nói tới các vấn đề chính trị nếu không nghiên cứu nhà nước và pháp luật.

Tâm lý học nghiên cứu về cảm xúc, ý chí và hành vi, hành động của con người, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi và ý chí của con người. Pháp luật đại cương (cũng như các khoa học pháp lý nói chung) cũng nghiên cứu về ý chí, hành vi, hành động của con người nhưng trong phạm vi hẹp hơn khi ý chí, hành vi của con người thể hiện trước các quy tắc xử sự, các quy phạm pháp luật. Đây là mối quan hệ song trùng và bổ trợ cho nhau.

Đặc biệt, ra đời gần như đồng thời với các khoa học pháp lý chuyên ngành và ứng dụng, Tâm lý học pháp luật được coi là một khoa học liên ngành pháp lý – tâm lý ứng dụng, có đóng góp rất lớn cho việc nghiên cứu, ứng dụng và giải quyết những yêu cầu của cuộc sống nhân loại.

Đạo đức học nghiên cứu hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình. Bởi vậy, đối tượng nghiên cứu của Đạo đức học có nhiều điểm tương đồng với đối tượng nghiên cứu của Pháp luật đại cương. Điểm khác biệt nằm ở chỗ hệ thống các quy tắc chuẩn mực, đối tượng mà Pháp luật đại cương nghiên cứu phần lớn mang tính áp đặt, cưỡng chế, khoa học, chặt chẽ và nhiều khi lạnh lùng, cứng nhắc.

Kinh tế học được hiểu như sau:

“Theo một khái niệm chung nhất, kinh tế học là một bộ môn khoa học xã hội giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng. Vấn đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay các đơn vị kinh tế phải lựa chọn. Các nhà kinh tế cho rằng: Kinh tế học là “khoa học của sự lựa chọn”. Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người. Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong thế giới có nguồn lực hạn chế.”

Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế tổng thể và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, hộ tiêu dùng, người lao động và Chính phủ. Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu để hướng tới, đó là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ. Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của người lao động là tối đa hóa tiền công và mục tiêu của Chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã hội. Kinh tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết bài toán tối đa hóa lợi ích kinh tế này.”

Nếu hiểu theo nghĩa này thì đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học có rất nhiều điểm giao thoa với đối tượng nghiên cứu của Pháp luật đại cương nói riêng và các khoa học pháp lý nói chung, nhất là khoa học luật kinh tế – thương mại. Đối tượng nghiên cứu chung của các khoa học này chính là hành vi ứng xử theo các quy phạm pháp luật, quy tắc tập quán (tập quán xã hội và kinh tế – thương mại) của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ kinh tế – thương mại nói riêng. Nói cách khác, theo quan điểm kinh tế học thuần túy thì Pháp luật đại cương và các khoa học pháp lý khác có mục tiêu phục vụ cho việc phát triển kinh tế và là một hợp phần không thể tách rời khỏi kinh tế.

Song, về cơ bản, mối quan hệ giữa Kinh tế học với Pháp luật đại cương và các khoa học pháp lý khác là mối quan hệ tương tác giữa các khoa học xã hội – nhân văn với nhau. Chúng gắn kết chặt chẽ, luôn bổ sung cho nhau và tác động qua lại với nhau. Nghiên cứu về nhà nước và pháp luật đóng góp cho việc nghiên cứu các quy luật kinh tế nói chung, hành vi ứng xử của từng chủ thể trong các quan hệ kinh tế nói riêng.

Quan niệm về Pháp luật đại cương

Từ những vấn đề đã được trình bày ở trên, có thể rút ra một khái niệm về Pháp luật đại cương như sau:

Pháp luật đại cương là một lĩnh vực khoa học pháp lý thuộc khoa học xã hội và nhân văn với đối tượng nghiên cứu là hệ thống các tri thức căn bản, cốt lõi về pháp luật và về nhà nước như là một hiện tượng lịch sử – xã hội gắn liền với pháp luật, quá trình xuất hiện, tồn tại phát triển và tiêu vong của chúng, hệ thống pháp luật Việt Nam và những hệ thống pháp luật tiêu biểu, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nhân loại trên thế giới.

Pháp luật đại cương là gì?
Pháp luật đại cương là gì?

2. Pháp luật đại cương là môn học cơ sở bắt buộc trong chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam

Cơ sở pháp lý của hoạt động giảng dạy môn học Pháp luật đại cương

Mặc dù môn học Pháp luật đại cương đã được đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa từ nhiều năm nay trong các trường đại học và cao đẳng ở nước ta nhưng cơ sở pháp lý cho hoạt động này chủ yếu là các văn bản dưới luật (ngoại trừ các đạo luật chuyên ngành về Giáo dục – Đào tạo).

Ngày 20/06/2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã chính thức thông qua Luật số 14/2012/QH13 về Giáo dục, phổ biến pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 và ngày 04/04/2013, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành Nghị định số 28/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phổ biến, giáo dục pháp luật.

Như vậy, hoạt động giảng dạy và học tập môn học Pháp luật đại cương đã có một cơ sở pháp lý vững chắc khi có một đạo luật điều chỉnh một cách chính thức, cụ thể và chi tiết.

Cơ sở thực tiễn của hoạt động giảng dạy môn học Pháp luật đại cương

Giáo dục pháp luật nói chung và việc giảng dạy môn học Pháp luật đại cương nói riêng trong các trường đại học và cao đẳng có vai trò và ý nghĩa rất lớn vì:

– Thứ nhất: Nhận thức về nhà nước và pháp luật có tầm quan trọng đặc biệt

Một công dân tốt trước hết phải là một công dân có ý thức pháp luật cao nghĩa là phải có kiến thức hiểu biết về pháp luật càng sâu rộng càng tốt. Không những vậy, công dân tốt còn phải là người luôn luôn thực hiện đúng và đầy đủ mọi quy tắc pháp luật.

Môn học Pháp luật đại cương cung cấp những kiến thức pháp luật căn bản cho mỗi công dân. Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay ở nước ta, mỗi cá nhân, mỗi công dân nói chung, đều cần phải có kiến thức và trình độ pháp luật đại cương mới đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế – xã hội.

– Thứ hai: Cung cấp kiến thức cơ sở cho nhiều ngành học khác

Pháp luật đại cương cung cấp kiến thức cơ sở ngành cho khối ngành khoa học xã hội – nhân văn, kinh tế, luật. Đối với khối ngành khoa học tự nhiên, cơ bản và kỹ thuật – công nghệ, pháp luật là kiến thức đại cương bắt buộc. Ở tất cả các ngành học, kiến thức pháp luật đại cương đều phục vụ đắc lực cho việc tăng cường nhận thức nội dung kiến thức chuyên ngành. Ngay cả khối ngành kỹ thuật – công nghệ, kiến thức về pháp luật nói chung, kiến thức về sở hữu trí tuệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ, những quy định pháp luật về khoa học – công nghệ như thị trường khoa học công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ, thương mại điện tử,… nói riêng, đều được cung cấp trên cơ sở nền tảng là môn học Pháp luật đại cương.

– Thứ ba: Yêu cầu bắt buộc đối với chất lượng nguồn nhân lực

Một trong những điều kiện tiên quyết phải được trang bị đối với những người lao động nói chung và đội ngũ người lao động lành nghề nói riêng là vốn kiến thức chuyên môn và kỹ năng “mềm”, trong đó có kiến thức về pháp luật.

Nếu như đối với công chức, viên chức, những người lao động làm công, ăn lương trong các cơ quan hành chính công quyền và các đơn vị sự nghiệp nhà nước, kiến thức “mềm” đó là hiểu biết những quy định pháp luật về hành chính, nhà nước, về chế độ làm việc, chế độ lao động, chế độ lương, thưởng và bảo hiểm xã hội… thì những người lao động trong các tổ chức, doanh nghiệp phi nhà nước cần được trang bị những hiểu biết về pháp luật lao động và việc làm, về an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, cứu trợ, thất nghiệp…), về an toàn vệ sinh lao động… nhằm tự bảo vệ mình trước các rủi ro trong quá trình làm việc.

Thiếu những kiến thức cơ bản và phổ thông về pháp luật, những kiến thức và kỹ năng “mềm”, không thể coi đó là nguồn lao động có chất lượng.

– Thứ tư: Kiến thức không thể thiếu đối với các nhà quản trị ở mọi cấp độ

Ở mọi cấp độ quản trị, từ nhà quản trị cấp thấp, cấp trung đến nhà quản trị cấp cao, đều phải sử dụng một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện những nghiệp vụ quản trị, đó là những quy tắc pháp lý.

Trong hoạt động quản trị tại một doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, công tác tổ chức thực hiện, lãnh đạo và sử dụng quyền lực, quyền hạn đến nhân sự thực hiện và kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện, đều cần phải thiết lập và dựa trên những quy định pháp luật để hành động. Những quy tắc pháp luật là một thành tố quan trọng trong tất cả các vấn đề của hoạt động quản trị.

Bởi vậy, tất cả các nhà quản trị đều phải là những người có kiến thức, càng sâu rộng càng tốt, về pháp luật. Ví dụ, nhà quản trị phải nắm chắc được những vấn đề pháp lý về các loại hợp đồng.

– Thứ năm: Kiến thức không thể thiếu cho mỗi cá nhân chung sống trong cộng đồng

Quan điểm về giáo dục hiện nay như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO đã đưa ra là9:

“Giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản mà trong một cuộc đời mỗi con người, chúng sẽ là những trụ cột của kiến thức:

– Học để biết là nắm những công cụ để hiểu.

– Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác động vào môi trường sống của mình.

– Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những người khác trong mọi hoạt động của con người.

– Học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ ba loại hình trên”.

Như vậy, một trong những kiến thức quan trọng cần phải học tập mới có được để con người có thể chung sống tốt với nhau là kiến thức pháp luật.

Kết luận

Có thể thấy, pháp luật đại cương vừa là một lĩnh vực khoa học pháp lý có tính nền tảng, vừa là môn học cơ sở cần thiết trong chương trình đào tạo. Những kiến thức về nhà nước, pháp luật và mối quan hệ của chúng với các lĩnh vực khoa học khác không chỉ giúp người học xây dựng tư duy pháp lý mà còn nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Đây chính là nền tảng để mỗi cá nhân vận dụng pháp luật một cách đúng đắn trong học tập, công việc và đời sống xã hội.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?
★ ★ ★ ★ ★

Đã có 1833 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!