Khái quát về nhà nước trong mối quan hệ với pháp luật

Khái quát về nhà nước trong mối quan hệ với pháp luật

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và cùng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức, quản lý đời sống xã hội. Việc tìm hiểu khái quát về nhà nước không chỉ giúp làm rõ nguồn gốc, bản chất, hình thức, chức năng và bộ máy nhà nước mà còn là cơ sở để nhận thức đúng vai trò của pháp luật trong việc thiết lập trật tự, bảo đảm quyền lực nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Qua đó, người học có thể hình thành cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, đồng thời hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong xã hội hiện đại.

1. Mối quan hệ hữu cơ giữa nhà nước và pháp luật

Mặc dù xuất hiện không cùng một thời điểm trong lịch sử song nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội – lịch sử khác tương đồng và có liên quan chặt chẽ với nhau.

Pháp luật xuất hiện ngay từ khi loài người sống thành xã hội với những quy tắc xử sự dưới dạng tập quán. Nhà nước hình thành trong giai đoạn lịch sử khi xã hội loài người đã phát triển đến một trình độ cao hơn, đã xuất hiện giai cấp với những lợi ích đối kháng.

Tuy vậy, cần phải nhận thức rằng, chỉ từ khi nhà nước ra đời, đóng góp vai trò to lớn và vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội, pháp luật mới thực sự trở nên có ý nghĩa như hiện nay. Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu nhận định nhà nước và pháp luật là hai người bạn đồng hành có số phận lịch sử như nhau, cùng xuất hiện, cùng tồn tại, cùng phát triển và cùng tiêu vong khi nhân loại đã tiến tới chủ nghĩa cộng sản.

Có thể khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa nhà nước và pháp luật ở một khía cạnh nhất định là có nhà nước mới có pháp luật và ngược lại, nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật.

Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật, dù ở mức độ “đại cương”, cũng không thể không xem xét đến những vấn đề cơ bản nhất về nhà nước và chỉ có vậy, kiến thức về pháp luật đại cương mới được coi là hoàn chỉnh.

2. Nguồn gốc, bản chất, hình thức và các kiểu nhà nước trong lịch sử

2.1. Quá trình hình thành nhà nước trong lịch sử

Nhà nước cũng như pháp luật là hiện tượng xã hội – lịch sử rất phức tạp. Bởi vậy quá trình ra đời gồm hoàn cảnh, thời điểm, nguyên nhân, các yếu tố làm xuất hiện ít tổ chức chính trị – xã hội đặc biệt là nhà nước… đã là đề tài làm đau đầu nhiều thế hệ con người.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về sự ra đời của nhà nước từ trước đến nay, hình thành những lý thuyết khác nhau ở quan điểm, quan niệm, thế giới quan. Trong đó có thể tạm chia thành hai hệ thống các lý thuyết cơ bản về nhà nước, một là hệ thống lý thuyết Mác – Lênin về nhà nước và hai là hệ thống các lý thuyết phi Mác xít, giải thích nguồn gốc hình thành và quá trình vận động, phát triển của nhà nước. Giữa các học thuyết này có những điểm dị biệt căn bản tuy cũng có một số điểm tương đồng.

2.1.1. Quan niệm về nguồn gốc hình thành nhà nước của Học thuyết Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác – Lênin giải thích sự ra đời của nhà nước trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nghĩa là nhà nước ra đời là kết quả của quá trình vận động của lịch sử xã hội loài người và luôn luôn gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất xã hội, gắn liền với sự phát triển của sản xuất và văn minh vật chất.

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định, với các tiền đề kinh tế (tư hữu tư nhân) và tiền đề xã hội (xã hội phân chia thành các tầng lớp, các giai cấp khác nhau về lợi ích, mâu thuẫn về lợi ích không thể điều hòa được).

Có thể sơ điểm cơ bản trong quan điểm của Học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và sự ra đời của nhà nước cần lưu ý như sau:

Thứ nhất: Nhà nước là một hiện tượng xã hội – lịch sử, như một hiện tượng xã hội – lịch sử khác, có quá trình xuất hiện, tồn tại, phát triển và diệt vong. Nhà nước không phải là một hiện tượng bất biến.

Nhà nước là sản phẩm gắn liền với cuộc sống xã hội loài người. Nhà nước bị ảnh hưởng và bị chi phối bởi mọi biến đổi của cuộc sống xã hội. Nhà nước ra đời là để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội. Trong giai đoạn lịch sử cổ đại của xã hội loài người, để phục vụ việc cai trị và quản lý xã hội của các tầng lớp trên giàu có, sở hữu nhiều tài sản như ruộng đất, công cụ và tư liệu sản xuất; hoặc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin hay để phục vụ cho nhu cầu liên kết những cá nhân con người với nhau nhằm tạo ra sức mạnh lớn hơn để đối phó với tự nhiên, đối phó với sự xâm chiếm đất đai của các dân tộc khác thì tổ chức cộng đồng này là nhà nước xuất hiện.

Cũng như sự phát triển của xã hội loài người, nhà nước cũng phát triển tương ứng theo từng giai đoạn và từng nấc thang từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ hoang dã đến văn minh. Ở điểm này, có thể nói, nhà nước cũng tiến hóa như một thực thể vật chất sống của giới tự nhiên. Vì vậy, không thể có một nhà nước bất biến trước mọi sự đổi thay của đời sống xã hội.

Thứ hai: Nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân quan trọng nhất làm xuất hiện nhà nước

Nguyên nhân kinh tế hay tiền đề kinh tế, theo một cách diễn đạt khác, chính là những điều kiện về mặt vật chất của xã hội. Tuy chưa đi đến tận cùng chân lý nhưng đa số các nhà có nhận thức của nhân loại đã thừa nhận rằng cơ sở hạ tầng, chế độ kinh tế, điều kiện vật chất quyết định thượng tầng kiến trúc xã hội như chính trị, nhà nước, pháp luật, tôn giáo…

Không thể không bị thuyết phục khi các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin, bằng các nghiên cứu cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn quá trình phát triển của xã hội loài người, đã chứng minh được rằng chế độ công xã nguyên thủy gắn liền với chế độ thị tộc ẩn chứa lượng xung khổng còn phù hợp khi phát triển là quá trình tất yếu diễn ra mà điển hình là sự phân công lao động xã hội.

Ba lần phân công lao động là những bước tiến lớn của xã hội, gia tăng sự tích tụ tài sản và góp phần hình thành và phát triển chế độ tư hữu, cụ thể:

  • Phân công lao động lần thứ nhất: Ngành chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt. Của cải xã hội ngày càng nhiều, xuất hiện của cải dư thừa, xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu làm thay đổi chế độ hôn nhân và gia đình, chế độ hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện thay cho chế độ quần hôn.
  • Phân công lao động lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Nó lại xuất hiện trở thành một lực lượng xã hội có số lượng ngày càng tăng, mâu thuẫn giai cấp tăng, xuất hiện nền sản xuất hàng hóa và thương nghiệp phát triển dẫn đến lần phân công lao động thứ ba.
  • Phân công lao động lần thứ ba: Thương mại phát triển, xuất hiện giai cấp không tham gia sản xuất nhưng có quyền lãnh đạo sản xuất và bắt người sản xuất phải phụ thuộc.

Đồng tiền xuất hiện, sự tích tụ của cải vào người giàu làm mâu thuẫn xã hội càng cao. Chính sự phân công lao động xã hội đã:

  • Làm cho kỹ năng lao động của con người ngày một tốt hơn dẫn đến năng suất lao động và sản phẩm vật chất tăng cao.
  • Chuyên biệt hóa quá trình lao động. Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt. Tiểu thủ công nghiệp xuất hiện và làm thay đổi bộ mặt xã hội. Con người ngày càng tự chủ hơn trước thiên nhiên. Đáng kể nhất là việc tự chủ hoàn toàn trong việc kiếm tìm nguồn thức ăn. Tiểu thủ công nghiệp, với vai trò đầu tiên quan trọng là chế tác công cụ lao động, cũng dẫn trở thành một ngành sản xuất riêng, độc lập với trồng trọt và chăn nuôi. Thợ thủ công ngày càng chuyên môn hóa và hình thành một giai tầng mới trong xã hội.

Đặc biệt, muốn hơn một chút là quá trình trao đổi sản phẩm vật chất diễn ra như một kích thích tố mạnh mẽ khiến cho năng suất lao động có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong hoạt động kinh tế sản xuất của loài người. Của cải vật chất được tích lũy và ngày một dư thừa. Chế độ tư hữu ra đời như là một sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển.

Thứ ba: Nguyên nhân xã hội là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy sự xuất hiện nhà nước

Xã hội loài người manh nha xuất hiện kẻ giàu và người nghèo như là hệ quả tiếp theo của tư hữu. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng đó là xuất hiện giai cấp, một sản phẩm của xã hội, được gọi là tiền đề về mặt xã hội hoặc nguyên nhân xã hội làm xuất hiện nhà nước. Đây là cú hích trực tiếp làm tan rã chế độ thị tộc và tạo thêm điều kiện đủ để nhà nước ra đời. Vì để bảo vệ lợi ích vật chất của mình, giai cấp giàu có, nắm trong tay lượng lớn của cải vật chất xã hội, tạo dựng một tổ chức có sức mạnh rất lớn trong xã hội là nhà nước. Giai cấp giàu có sử dụng nhà nước như một vũ khí, một công cụ hiệu năng để bảo vệ quyền và lợi ích giai cấp mình, để cai trị và đàn áp những giai tầng còn lại trong xã hội có giai cấp.

Đây là con đường hình thành cơ bản của nhà nước có tính điển hình ở phần lớn các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu. Một số nhà nước phương Đông cổ đại không hình thành theo cách thức này.

Qua nghiên cứu một cách sâu sắc cách thức hình thành nhà nước trong lịch sử nhân loại, Ph. Ăng-ghen chỉ ra các kiểu hình thành nhà nước điển hình là: Nhà nước Aten cổ đại, Nhà nước Roma, Nhà nước Giécmanh, Nhà nước phương Đông cổ đại.

Một là, theo Ph. Ăng-ghen, do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, các khu vực trên thế giới cho nên có sự không giống nhau về nguyên nhân, điều kiện ra đời của các nhà nước đầu tiên trên thế giới tức là có nhiều hình thức xuất hiện nhà nước khác nhau.

Hai là, như trên đã nói, Ph. Ăng-ghen đưa ra ba nhà nước đại diện cho ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình ở châu Âu là Nhà nước Aten, Nhà nước Roma và Nhà nước Giécmanh.

Từ những điều trình bày ở trên có thể nhận định rằng có bốn hình thức xuất hiện nhà nước điển hình trong lịch sử dưới đây:

  • Hình thức xuất hiện nhà nước dạng Nhà nước Aten: Nhà nước Aten ra đời ở Hy Lạp do sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản, xã hội bị phân hóa thành giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột và mâu thuẫn giữa hai giai cấp này trở nên nghiêm trọng không thể điều hòa được. Nhà nước nào được hình thành chủ yếu do hai nguyên nhân kinh tế và xã hội như vậy thì được xếp vào cùng một loại thuộc hình thức xuất hiện nhà nước thứ nhất.
  • Hình thức xuất hiện nhà nước dạng Nhà nước Roma: Nhà nước Roma là kết quả đấu tranh của giới bình dân chống lại giới quý tộc ở La Mã. Sau khi Nhà nước Roma được thiết lập thì giới bình dân lại hòa hợp với giới quý tộc. Nhà nước nào ra đời theo kiểu như vậy thì được xếp vào nhóm nhà nước thuộc hình thức hình thành nhà nước thứ hai.
  • Hình thức xuất hiện nhà nước dạng Nhà nước Giécmanh: Nhà nước Giécmanh hình thành do nhu cầu quản lý những vùng lãnh thổ mới chiếm được từ tay đế chế La Mã sau chiến thắng của người Giécmanh đối với người La Mã. Sự phân hóa giai cấp chỉ diễn ra sâu sắc sau khi Nhà nước Giécmanh ra đời. Những nhà nước nào được thiết lập do nhu cầu cai trị vùng đất mới như vậy được xếp vào nhóm nhà nước thuộc phương thức hình thành nhà nước thứ ba.
  • Hình thức xuất hiện nhà nước ở phương Đông cổ đại: Có thể nói, hầu hết các nhà nước ở phương Đông cổ đại được thiết lập xuất phát từ hai nhu cầu chính là chinh phục thiên nhiên mà chủ yếu là khai khẩn đất đai, làm thủy lợi phục vụ phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm. Sự phân hóa xã hội thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng trở nên rõ rệt và gay gắt sau khi nhà nước được hình thành.

Từ trình bày ở trên về nguồn gốc của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta thấy nhà nước không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà chính là kết quả tất yếu của sự phát triển kinh tế – xã hội trong lòng xã hội cộng sản nguyên thủy.

2.1.2. Quan niệm của các học thuyết khác

Ngoài Học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và nguồn gốc nhà nước mà điển hình là nghiên cứu nổi tiếng của Ph. Ăng-ghen Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đưa ra cách thức giải thích sự ra đời của nhà nước một cách khoa học, thuyết phục, còn một số học thuyết khác cũng cố gắng lý giải nguồn gốc ra đời của nhà nước trên những phương diện khác nhau. Ví dụ như thuyết thần quyền, thuyết quyền gia trưởng, thuyết tâm lý, thuyết bạo lực, thuyết siêu trái đất và thuyết khế ước xã hội.

Tìm hiểu về những học thuyết này là một việc làm cần thiết và hữu ích vì trên cơ sở so sánh, chúng ta thấy sáng tỏ thêm nguồn gốc ra đời của một hiện tượng xã hội – lịch sử cơ bản nhưng rất phức tạp như Nhà nước. Nội dung các học thuyết này có thể lược như sau:

– Thuyết thần quyền

Đại biểu của Thuyết thần học là J. Calvin, J. Althusius. Thuyết thần học là một biến dạng của chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy tâm là tên gọi chung của những học thuyết triết học cho rằng tinh thần, ý thức, tư duy, cái tâm lý là cái có trước, còn vật chất, tự nhiên, cái vật lý là cái có sau; đối lập với chủ nghĩa duy vật.

Thuyết thần học cho rằng nhà nước là sản phẩm sáng tạo của thượng đế và người đứng đầu nhà nước do thượng đế sai khiến xuống để trị vì thiên hạ. Như vậy, quyền lực của nhà nước là quyền lực của thượng đế và sự phục tùng quyền lực đó là cần thiết, tất yếu đối với tất cả các thành viên xã hội. Các giai cấp bóc lột đã triệt để lợi dụng thuyết thần học về nguồn gốc của nhà nước để phục vụ cho việc cai trị của mình trong xã hội có giai cấp.

– Thuyết quyền gia trưởng

Thuyết quyền gia trưởng cố gắng chứng minh nhà nước là kết quả liên kết của nhiều gia đình, một hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, còn quyền lực của nhà nước, về bản chất, giống như quyền lực của người gia trưởng trong gia đình.

Đại diện tiêu biểu cho thuyết này là nhà triết học và bác học Hy Lạp cổ đại Aristoteles.

– Thuyết tâm lý

Học thuyết này quan niệm sự ra đời của nhà nước bắt nguồn từ nhu cầu tâm lý của người nguyên thủy muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ, do đó nhà nước là tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh đạo xã hội do bản chất của con người là yếu đuối, luôn muốn tìm và dựa vào sức mạnh của kẻ khác trong xã hội. Đại biểu của học thuyết này là L. Petrazaxitki, Phoreder.

Có thể nói thuyết tâm lý về nguồn gốc của nhà nước là một biến dạng đặc biệt của chủ nghĩa duy tâm siêu hình đã trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho quyền lợi của các giai cấp thống trị xã hội.

– Thuyết bạo lực

Thuyết bạo lực cho rằng nhà nước là kết quả sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác trong các cuộc chiến tranh giữa thị tộc này với thị tộc kia, thị tộc chiến thắng thiết lập bộ máy bạo lực để nô dịch thị tộc chiến bại. Như vậy, theo thuyết này, chính vũ lực là nguồn gốc sinh ra nhà nước và nhà nước luôn luôn là công cụ của kẻ mạnh dùng để thống trị kẻ yếu. Trong xã hội thị tộc đã từng xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa các thị tộc để tranh giành lãnh thổ và cướp bóc của cải của nhau, thế nhưng kết quả chiến thắng của các cuộc chiến tranh đó, có chăng, chỉ là những vùng lãnh thổ mới với khối lượng của cải mới mà thị tộc chiến thắng chiếm được từ tay thị tộc chiến bại, chứ chưa bao giờ từng có một bộ máy nhà nước cả.

– Thuyết siêu trái đất

Quan niệm về “nhà nước siêu trái đất” cho rằng nhà nước là lực lượng ở bên ngoài du nhập vào trái đất là sự thử nghiệm những thành tựu của một nền văn minh ngoài trái đất.

Thuyết siêu trái đất là sản phẩm của một số người có đầu óc tưởng tượng mãnh liệt và có suy nghĩ muốn vượt ra ngoài biên giới vũ trụ. Tuy cũng không thiếu phần nghiêm túc song ý kiến này hầu như không có đủ căn cứ để chứng minh trên thực tế khi cho rằng Nhà nước ra đời trong xã hội loài người là kết quả của sự du nhập từ những nền văn minh bên ngoài vũ trụ vào nền văn minh trên trái đất.

– Thuyết khế ước xã hội

Thuyết khế ước xã hội ra đời và thịnh hành vào khoảng thời gian trước và sau các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu với mục đích chống lại sự độc đoán, chuyên quyền phong kiến; yêu cầu thiết lập sự bình đẳng cho mọi giai cấp tư sản.

Những học giả tiêu biểu của trường phái này là Joan Bodin, Thomas Hobbes, John Locke, Montesquieu và J. J. Rousseau. Theo các học giả của thuyết này, nhà nước là sản phẩm của một khế ước, hợp đồng do những con người sống trong trạng thái tự nhiên ký kết; một khi nhà nước ra đời trên cơ sở khế ước của xã hội thì nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ lợi ích của tất cả các thành viên của khế ước; nếu nhà nước không làm được bổn phận đó thì các thành viên khế ước sẽ tự thỏa thuận hủy bỏ khế ước để nhà nước thay đổi nhà nước đó và họ ký kết một khế ước mới để cho ra đời một nhà nước mới.

Nhà nước, sản phẩm của một “khế ước xã hội”, một hợp đồng được thỏa thuận và ký kết giữa tất cả các thành viên – công dân trong xã hội, ra đời với chức năng cơ bản là dùng pháp luật làm công cụ cơ bản để quản trị xã hội. Bảo vệ người yếu và không chế kẻ mạnh. Đảm bảo cho người có quyền được hưởng quyền và người có nghĩa vụ phải thực thi nghĩa vụ.

Các học thuyết nêu trên về nguồn gốc của nhà nước tuy phần nào có những lý giải đáng lưu ý về nguồn gốc nhà nước song tựu trung lại, mỗi học thuyết chỉ nêu ra được một số hiện tượng chứ không chỉ ra được bản chất vấn đề nguồn gốc của nhà nước, càng không chỉ ra được những nguyên nhân cốt rễ về vật chất và ý thức xã hội làm xuất hiện nhà nước.

2.2. Bản chất của nhà nước

2.2.1. Khái niệm bản chất của nhà nước

Bản chất của nhà nước luôn luôn là vấn đề cơ bản và quan trọng nhất trong tất cả những vấn đề về nhà nước. V. I. Lênin đã nói rằng bản chất của nhà nước là một trong những “vấn đề rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị”, bởi vì nó liên quan tới lợi ích chính trị của giai cấp thống trị. Nội dung khái niệm bản chất của nhà nước chỉ ra nhà nước của ai, do ai, vì ai. Nếu hiểu được nhà nước ra đời như thế nào thì mới phân tích đúng bản chất của nó.

Từ góc độ triết học, bản chất của nhà nước được hiểu là những thuộc tính bền vững, cốt lõi, tạo nên nội dung, thực chất bên trong của nhà nước, làm cho nhà nước khác với các tổ chức không phải là nhà nước.

Khi xem xét bản chất của nhà nước, người ta thường xem xét dưới hai khía cạnh: bản chất giai cấp và vai trò xã hội.

2.2.2. Bản chất giai cấp của nhà nước

Nhà nước nào cũng mang tính chất giai cấp, vì nó ra đời, tồn tại, phát triển trong xã hội có giai cấp; là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và luôn luôn do một giai cấp hoặc liên minh giai cấp nắm giữ. Tính chất giai cấp của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác; là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị giai cấp.

Trong xã hội có giai cấp thì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được thể hiện trên ba mặt: thống trị về kinh tế, thống trị về chính trị và thống trị về tư tưởng.

Giai cấp thống trị phải sử dụng các cơ quan cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… để trấn áp các lực lượng đối địch, bắt các giai cấp, tầng lớp khác phục tùng ý chí của mình. Trước khi nắm được bộ máy nhà nước thì giai cấp thống trị đã là giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế, nắm giữ toàn bộ những tư liệu sản xuất hoặc những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội. Bằng nhà nước, pháp luật, giai cấp thống trị thực hiện quyền lực kinh tế và truyền bá, bảo vệ hệ tư tưởng của mình.

  • Quyền lực kinh tế: giữ vai trò quyết định là cơ sở bảo đảm sự thống trị giai cấp. Quyền lực kinh tế thuộc về giai cấp nắm trong tay tư liệu sản xuất trong xã hội. Với tư liệu sản xuất trong tay, chủ sở hữu có thể bắt người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế. Tuy nhiên, quyền lực kinh tế không duy trì được quan hệ bóc lột nên giai cấp thống trị cần phải có Nhà nước để củng cố quyền lực kinh tế với giai cấp bị bóc lột. Nhờ có nhà nước, giai cấp nắm trong tay tư liệu sản xuất trở thành giai cấp thống trị về kinh tế.
  • Quyền lực chính trị: Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối kháng. Với ý nghĩa đó, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực chính trị. Ý chí của giai cấp thống trị thông qua nhà nước trở thành ý chí của nhà nước, ý chí của nhà nước có sức mạnh buộc các giai cấp khác phải tuân theo một “trật tự” do giai cấp thống trị đặt ra, phải phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
  • Quyền lực về tư tưởng: Giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư tưởng. Chẳng hạn, giai cấp thống trị thường nắm bộ máy thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng, trấn áp các tư tưởng đối lập.

Từ sự phân tích tính chất giai cấp của nhà nước ở trên cho thấy mỗi nhà nước là một bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp này đối với giai cấp khác. Nhà nước chủ nô là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô đối với nô lệ và những lao động khác; nhà nước phong kiến – bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ đối với nông dân và những người lao động khác; nhà nước tư sản – bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và những người lao động khác; nhà nước xã hội chủ nghĩa – bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với các lực lượng thù địch của chủ nghĩa xã hội.

Toàn bộ hoạt động của nhà nước đều thể hiện tính chất giai cấp nhưng hoạt động trấn áp bằng bạo lực các giai cấp và các lực lượng xã hội đối lập phản ánh tính chất giai cấp sâu đậm nhất và rõ rệt nhất.

2.2.3. Vai trò xã hội của nhà nước

Ngoài việc thực hiện các chức năng trên, Nhà nước còn phải giải quyết tất cả các vấn đề khác nảy sinh trong xã hội nghĩa là phải thực hiện các chức năng xã hội. Điều đó nói lên rằng nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp lại vừa mang bản chất xã hội.

Vai trò xã hội của nhà nước được thể hiện tập trung trong hoạt động quản lý kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, y tế, an ninh, trật tự xã hội và các hoạt động xã hội khác. Nhà nước nào cũng thể hiện vai trò xã hội, bởi vì nhà nước ra đời còn do nhu cầu quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản trong điều kiện xã hội có các giai cấp, tầng lớp xã hội khác biệt nhau về nhu cầu và lợi ích, nhất là những nhu cầu và lợi ích cơ bản.

Vai trò xã hội của nhà nước hiện tập trung và rõ rệt nhất trong các hoạt động quản lý xã hội của nhà nước. Nhà nước nào cũng thực hiện các chức năng quản lý xã hội với mức độ, phạm vi khác nhau nhằm, một mặt, củng cố, bảo vệ những giá trị xã hội đã đạt được, duy trì đời sống cộng đồng; mặt khác, điều chỉnh, điều hòa các nhu cầu, lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau để giữ gìn sự ổn định xã hội, tránh những mâu thuẫn, xung đột không đáng có gây ảnh hưởng xấu tới chế độ chính trị – xã hội hiện tồn.

Chẳng hạn:

Về đối nội: Nhà nước giải quyết các vấn đề nảy sinh từ đời sống xã hội như đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, các vấn đề về môi trường, phòng chống thiên tai, dịch họa, về dân tộc, tôn giáo và các chính sách xã hội khác…

Về đối ngoại: Nhà nước bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, bảo vệ công dân nước mình đang sinh hoạt công tác ở nước khác…

2.3. Hình thức nhà nước

2.3.1. Khái niệm về hình thức nhà nước

Hình thức nhà nước được hiểu là sự phản ánh cách thức tổ chức và những phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước của mỗi kiểu nhà nước trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Thông qua hình thức nhà nước biết được ai là chủ thể nắm quyền lực trong nhà nước và quyền lực đó được tổ chức thực thi như thế nào.

Như vậy, nội dung khái niệm “hình thức nhà nước” gồm hai yếu tố cơ bản là “cách thức tổ chức quyền lực nhà nước” và “các phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước”.

Hình thức nhà nước gồm:

  • Hình thức chính thể.
  • Hình thức cấu trúc nhà nước.

Hình thức chính thể gồm:

  • Chính thể quân chủ.
  • Chính thể cộng hòa.

Chính thể quân chủ gồm:

  • Quân chủ tuyệt đối.
  • Quân chủ hạn chế.

Chính thể cộng hòa gồm:

  • Cộng hòa quý tộc.
  • Cộng hòa dân chủ.

Hình thức cấu trúc nhà nước gồm:

  • Nhà nước đơn nhất.
  • Nhà nước liên bang.

2.3.2. Các kiểu hình thức nhà nước

Một Nhà nước bất kỳ đều được quy chiếu dưới hai hình thức:

a) Hình thức chính thể

Hình thức chính thể là cách thức tổ chức, trình tự thành lập các cơ quan cấp cao của nhà nước và quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau cũng như thái độ của các cơ quan ấy đối với nhân dân.

Có hai dạng chính thể là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa.

Chính thể quân chủ: Quyền lực cao nhất tập trung toàn bộ hoặc một phần vào tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế quyền lực là vua, công gọi là Quốc vương hay Vương quân hoặc Hoàng đế, Quốc trưởng.

Chính thể quân chủ lại được chia thành: quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.

Quân chủ tuyệt đối: là mô hình tổ chức nhà nước tiêu biểu của xã hội phong kiến. Quyền lực về cơ bản nằm trong tay một người là nhà vua.

Quân chủ hạn chế: Quyền lực của nhà vua đã bị hạn chế để nhường cho các thiết chế khác là cơ quan nhà nước được bầu ra theo nhiệm kỳ như nghị viện, chính phủ… Chẳng hạn ở các nước như Anh, Bỉ, Đan Mạch, Canada, Tây Ban Nha, Luxembourg, Nhật Bản, New Zealand… Nhiều nước như Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch… còn cho phép truyền ngôi cho cả con gái.

Chính thể cộng hòa: Quyền lực cao nhất thuộc về cơ quan được bầu ra trong thời hạn nhất định, như Đại hội nhân dân, Quốc hội.

Chính thể cộng hòa cũng có hai loại là cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc.

Cộng hòa dân chủ: Mọi công dân đủ điều kiện theo luật định được bầu cử để thành lập cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, mang tính phổ thông, không có đặc quyền, đặc lợi.

Pháp luật quy định quyền bầu cử cho mọi công dân đủ điều kiện luật định. Trong nhà nước cộng hòa dân chủ xã hội chủ nghĩa thì quyền bầu cử của mọi công dân đủ điều kiện luật định mới được bảo đảm, còn ở các nhà nước cộng hòa dân chủ tư sản thì việc quy định này chỉ mang tính chất hình thức.

Cộng hòa quý tộc: Chỉ có tầng lớp quý tộc mới có quyền bầu cử để thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Pháp luật chỉ quy định quyền bầu cử cho tầng lớp quý tộc.

Chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa có những đặc điểm khác nhau, tùy thuộc vào bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu của nhà nước, tập quán chính trị, mức độ đấu tranh giai cấp, tương quan lực lượng chính trị trong xã hội… Bởi vậy, cần phân biệt những hình thức nhà nước dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và cả những biến dạng của chúng trong cùng một chế độ kinh tế – xã hội.

b) Hình thức cấu trúc nhà nước

Hình thức cấu trúc là sự cấu tạo, tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước với nhau, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương.

Hình thức cấu trúc nhà nước có hai dạng là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.

Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có chủ quyền chung, có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất; các bộ phận hợp thành nhà nước là những đơn vị hành chính – lãnh thổ không có chủ quyền riêng, độc lập; có một hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương; có một hệ thống pháp luật thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia; công dân thường thường mang một quốc tịch. Ví dụ: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Ba Lan, Hungary, Pháp, Nhật…

Chẳng hạn, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có cấu trúc đơn nhất. Những đặc điểm của nhà nước đơn nhất được phản ánh như sau:

Thứ nhất, Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời; các đơn vị hành chính – lãnh thổ ở nước ta bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn.

Thứ hai, Nhà nước Việt Nam có một hệ thống các cơ quan nhà nước có sự phân công, phân nhiệm nhưng tạo thành hệ thống thống nhất từ trung ương xuống địa phương.

Thứ ba, Việt Nam có một hệ thống pháp luật thống nhất áp dụng chung trên toàn lãnh thổ Việt Nam mà Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác đều phải được ban hành trên cơ sở Hiến pháp, phù hợp với Hiến pháp. Các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp dưới phải phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên.

Nhà nước liên bang: là nhà nước được thiết lập từ hai hay nhiều nhà nước thành viên với những đặc điểm sau: nhà nước liên bang có chủ quyền chung nhưng mỗi nhà nước thành viên có chủ quyền riêng; có hai hệ thống các cơ quan nhà nước – một của nhà nước liên bang, một của mỗi nhà nước thành viên; có hai hệ thống pháp luật – một của nhà nước liên bang và một của mỗi nhà nước thành viên; công dân mang hai quốc tịch. Hiện nay có khoảng 28 nhà nước liên bang, điển hình như: Mỹ, Đức, Áo, Ấn Độ, Brazil, Argentina, Mexico, Iraq, Ethiopia, Thụy Sĩ…

Ngoài các hai hình thức nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang, cũng xuất hiện loại hình nhà nước liên minh. Nhà nước liên minh chỉ là sự liên kết tạm thời của hai hay nhiều nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhà nước liên minh tự giải tán hoặc có thể chuyển thành nhà nước liên bang.

2.4. Các kiểu nhà nước trong lịch sử

2.4.1. Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ (nhà nước chủ nô)

Sự ra đời và bản chất của nhà nước chủ nô

Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ở phương Tây, chủ yếu do chế độ tư hữu về tài sản và sự phân hóa xã hội thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa chúng nghiêm trọng đến mức không thể điều hòa được. Các nhà nước chủ nô phương Đông như Trung Hoa, Ấn Độ, Babylon, Ai Cập,… lại được hình thành từ hai nhu cầu thiết yếu nhất lúc bấy giờ là chinh phục thiên nhiên để làm nông nghiệp và chống ngoại xâm.

Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ dựa trên chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, nô lệ và sản phẩm lao động xã hội. Chủ nô có toàn quyền đối với tư liệu sản xuất và nô lệ. Nô lệ không được coi là con người mà chỉ là công cụ lao động biết nói là vật sở hữu riêng của chủ nô. Nhà nước chủ nô trước hết là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô đối với nô lệ và những người lao động khác. Tính chất giai cấp của nhà nước chủ nô thể hiện tập trung và rõ rệt nhất trong hoạt động trấn áp của nhà nước chủ nô đối với nô lệ và những người lao động khác. Ngoài ra, nhà nước chủ nô còn quản lý những công việc chung của xã hội như điều hành sản xuất, phân chia sản phẩm lao động, giữ gìn trật tự xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, y tế…

Chức năng của nhà nước chủ nô

Chức năng đối nội

Một là, bảo vệ và củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, nô lệ và sản phẩm lao động xã hội.

Hai là, đàn áp sự phản kháng của nô lệ và những người lao động khác bằng bạo lực.

Ba là, đàn áp nô lệ và những người lao động khác về tư tưởng.

Ngoài những chức năng đối nội nêu trên, nhà nước chủ nô cũng có một số hoạt động khác phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục,…

Chức năng đối ngoại

Một là, phòng thủ, chống xâm lược từ bên ngoài.

Hai là, tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm cướp bóc của cải, chiếm đoạt lãnh thổ của các quốc gia khác và bắt tù binh về làm nô lệ.

Ngoài ra, trong những thời điểm nhất định và tùy thuộc vào tình hình cụ thể của quốc tế, nhà nước chủ nô cũng có những hoạt động bang giao, hữu hảo với các quốc gia khác. Song các hoạt động này không phải là chủ yếu và chỉ mang tính nhất thời.

Bộ máy nhà nước chủ nô

Trong giai đoạn đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ, bộ máy nhà nước chủ nô còn đơn giản, được tổ chức theo mô hình quân sự – hành chính tức là cơ quan quân sự và người đứng đầu cơ quan đó đồng thời là cơ quan hành chính và người lãnh đạo cơ quan hành chính, có nơi còn kiêm cả chức vụ quan tòa. Vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ thì bộ máy nhà nước chủ nô đã trở nên phức tạp và nặng nề do nhu cầu quản lý xã hội khi cuộc đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ ngày càng trở nên quyết liệt và trong xã hội chiếm hữu nô lệ nảy sinh nhiều vấn đề mới cần giải quyết. Tuy vậy, các cơ quan cưỡng chế vẫn được chú trọng xây dựng hơn cả. Đặc biệt, giữa các cơ quan nhà nước đã có sự phân định khá rõ chức năng, nhiệm vụ chứ không còn kiêm nhiệm nhiều như trước đây nữa.

Hình thức nhà nước chủ nô

Hình thức chính thể chủ yếu và điển hình nhất là quân chủ chuyên chế với quyền quản lý tập trung của các cơ quan nhà nước ở trung ương, đứng đầu là vua. Nhà nước chủ nô còn được thiết kế theo mô hình cộng hòa, có thể là cộng hòa dân chủ hoặc cộng hòa quý tộc, mà điển hình là Nhà nước cộng hòa dân chủ Aten và Nhà nước cộng hòa quý tộc Spac.

Về hình thức cấu trúc, tất cả các nhà nước chủ nô đều là những nhà nước đơn nhất.

2.4.2. Kiểu nhà nước phong kiến

Sự ra đời và bản chất của nhà nước phong kiến

Vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, nô lệ, sản phẩm lao động xã hội và sự bóc lột sức lao động của nô lệ đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất; mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ ngày càng trở nên gay gắt, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy của nô lệ; lao động của người nông dân trên ruộng đất của các chúa đất đưa năng suất lao động cao hơn lao động của nô lệ và dần dần thay thế lao động của nô lệ; chế độ phong kiến dần dần thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ; nhà nước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô.

Quan hệ sản xuất phong kiến dựa trên chế độ sở hữu của địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất, chủ yếu là ruộng đất và sản phẩm lao động xã hội tạo nên cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến. Giai cấp địa chủ bóc lột nông dân bằng cách giao ruộng đất để họ canh tác, sau đó bắt họ nộp tô dưới dạng vật phẩm hoặc tiền. Ngoài hai giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân, trong xã hội phong kiến còn có các tầng lớp lao động khác như thợ thủ công, tiểu thương, thị dân,…

Về bản chất giai cấp, nhà nước phong kiến là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân và những người lao động khác, nhằm duy trì, bảo vệ sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của giai cấp địa chủ phong kiến.

Nhà nước phong kiến còn quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục; duy trì, bảo vệ trật tự xã hội; điều tiết các lợi ích, nhu cầu của các tầng lớp cư dân trong xã hội. Các hoạt động này thể hiện vai trò xã hội của nhà nước phong kiến.

Chức năng của nhà nước phong kiến

Chức năng đối nội

Một là, bảo vệ, củng cố và phát triển chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối với tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất và sản phẩm lao động xã hội, duy trì chế độ bóc lột đối với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác.

Hai là, đàn áp nông dân và các tầng lớp lao động khác khi họ nổi dậy chống lại chính quyền nhà nước phong kiến.

Ba là, đàn áp nông dân và những người lao động khác về tư tưởng.

Ngoài những chức năng nêu trên, nhà nước phong kiến cũng thể hiện vai trò quản lý xã hội trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục…

Chức năng đối ngoại

Nhà nước phong kiến thực hiện các hoạt động đối ngoại hòa bình, hữu hảo với các quốc gia khác trong một số lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa…

Bộ máy nhà nước phong kiến

So với bộ máy nhà nước chủ nô thì bộ máy nhà nước phong kiến phát triển hơn về cách thức tổ chức, phương thức hoạt động, phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào các cơ quan nhà nước ở trung ương mà đứng đầu là vua.

Hình thức nhà nước phong kiến

Hình thức chính thể của nhà nước phong kiến phổ biến là quân chủ. Nhà nước quân chủ phong kiến trải qua hai giai đoạn – phân quyền cát cứ và trung ương tập quyền.

Hình thức cấu trúc nhà nước của các nhà nước phong kiến đều là những nhà nước đơn nhất.

2.4.3. Kiểu nhà nước tư sản

Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước tư sản

Sự ra đời của nhà nước tư sản bắt nguồn từ những nguyên nhân kinh tế và xã hội. Chính giai cấp tư sản đã tiến hành cách mạng tư sản để xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập kiểu quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, với phương thức sản xuất mới và phương thức bóc lột mới đối với người lao động, nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh hơn, hiện đại hơn. Cùng với sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thì nhà nước phong kiến cũng bị thay thế bởi nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo – một kiểu nhà nước mới, tiến bộ hơn nhà nước phong kiến.

Bản chất của nhà nước tư sản

Bản chất của nhà nước tư sản thể hiện ở bản chất giai cấp và vai trò xã hội của nó.

Tính chất giai cấp của nhà nước tư sản được thể hiện ở chỗ: nhà nước tư sản là tổ chức quyền lực chính trị do giai cấp tư sản thiết lập, lãnh đạo, luôn luôn thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản; là bộ máy bạo lực, công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản và những người lao động khác; bộ máy nhà nước tư sản được tổ chức, hoạt động và hoàn thiện theo các nguyên tắc, mục tiêu do giai cấp tư sản đặt ra.

Vai trò xã hội thể hiện ở việc Nhà nước tư sản tổ chức quản lý các lĩnh vực khác nhau của xã hội, đã và đang thực hiện có hiệu quả các chính sách kinh tế – xã hội; phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; bảo vệ môi trường; chống tệ nạn xã hội và tội phạm;… Trong quan hệ quốc tế hiện nay, khi xu thế hòa bình, hòa hợp, hợp tác, dân chủ, tiến bộ đang ngự trị thì nhà nước tư sản đã điều chỉnh chính sách đối ngoại, tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội mang tính chất toàn cầu như xóa đói nghèo, chống tội phạm và bệnh tật, giảm tỷ lệ tăng dân số ở những nước nghèo và đông dân, bảo vệ môi trường thiên nhiên.

Chức năng của nhà nước tư sản

Chức năng đối nội

Một là, bảo vệ, củng cố quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động xã hội.

Hai là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Ba là, bảo vệ và truyền bá hệ tư tưởng tư sản.

Bốn là, tổ chức và quản lý kinh tế.

Năm là, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ.

Sáu là, giải quyết các vấn đề xã hội.

Do sự phát triển mọi mặt và nhu cầu, đòi hỏi của xã hội tư bản chủ nghĩa cũng như cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra sâu rộng trên khắp thế giới, trong nhà nước tư sản xuất hiện chức năng đối nội mới là giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách như ô nhiễm môi trường, thất nghiệp, sức khỏe cộng đồng, tệ nạn xã hội, tội phạm, dân số, đói nghèo, bảo hiểm xã hội,…

Chức năng đối ngoại

Hình thức, nội dung và các phương thức thực hiện các chức năng đối ngoại của nhà nước tư sản được xác định xuất phát từ yêu cầu của việc thực hiện các chức năng đối nội và chính sách đối ngoại, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh quốc tế trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, nhà nước tư sản thường xuyên thực hiện hai chức năng là: bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lược từ bên ngoài và quan hệ, hợp tác với các nước trên thế giới.

Bộ máy nhà nước tư sản

Bộ máy nhà nước tư sản được tổ chức trên cơ sở lý thuyết về “tam quyền phân lập”, do các học giả tư sản từ thế kỷ XVIII, mà người tiêu biểu nhất là L. Montesquieu, xây dựng vào thế kỷ XVIII. Mà người tiêu biểu nhất là L. Montesquieu. Theo các học giả tư sản tự do, nhân dân lao động là những người bị trị nên họ không thể hạn chế được quyền lực nhà nước do một tập đoàn có thế lực nhất trong xã hội nắm giữ, bởi vậy, phải thiết lập một cơ chế dùng quyền lực nhà nước để hạn chế quyền lực nhà nước. Hạt nhân, cốt lõi của cơ chế này là sự phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền lực độc lập với nhau – quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp, quyền lực tư pháp và ba cơ quan thực hiện ba quyền lực đó là nghị viện, chính phủ, tòa án và các cơ quan này hoàn toàn độc lập với nhau, luôn luôn kiểm soát lẫn nhau. Bằng cách phân chia quyền lực nhà nước và thực thi quyền lực nhà nước như vậy đã tạo nên cơ chế đối trọng nhau, kiềm chế nhau trong việc sử dụng quyền lực giữa ba cơ quan cấp cao của nhà nước, làm cho không một cơ quan nào nắm hết mọi quyền lực và cơ quan nào cũng bị kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực, nhờ đó mà hiến pháp và pháp luật mới được tôn trọng triệt để và được thực hiện một cách đúng đắn, đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất.

Hình thức nhà nước tư sản

Hình thức chính thể

Hình thức chính thể có hai loại là chính thể quân chủ lập hiến và chính thể cộng hòa dân chủ tư sản. Chính thể quân chủ lập hiến có hai biến dạng là quân chủ nghị nguyên và quân chủ đại nghị. Chính thể cộng hòa có ba biến dạng là cộng hòa đại nghị hay cộng hòa nghị viện, cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp.

Chính thể quân chủ nghị nguyên và quân chủ đại nghị

Trong nhà nước quân chủ nghị nguyên, quyền lực của quốc vương (vua, hoàng đế) bị hạn chế ở quyền lập pháp nhưng không bị hạn chế đối với quyền hành pháp. Nhà nước quân chủ đại nghị là nhà nước trong đó quyền lực của vị hoàng đế bị hạn chế ở cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực hành pháp. Ở đây, sự tồn tại của vị hoàng đế như là một biểu tượng của tinh thần anh minh dân tộc; của độc lập, chủ quyền, thống nhất quốc gia và dân tộc; sự đoàn kết dân tộc và sức mạnh tinh thần dân tộc. Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản và bộ phận có thế lực nhất của giai cấp địa chủ còn sót lại mà giai cấp tư sản chưa thể chiến thắng hoàn toàn được; có quyền ban hành hiến pháp, luật; bầu thành lập chính phủ và kiểm tra, giám sát chính phủ. Hình thức quân chủ đại nghị được áp dụng ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa hiện nay như Nhật Bản, Anh, Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển, Gioocđani,…

Chính thể cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp

Trong nhà nước cộng hòa đại nghị, cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản và một số tầng lớp xã hội khác, có quyền ban hành hiến pháp, luật; bầu và phế truất tổng thống; thành lập, kiểm tra, giám sát chính phủ và có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ. Tổng thống do nghị viện bầu, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước nghị viện và có quyền lực hạn chế. Chính phủ được thành lập bằng con đường nghị viện dựa trên số ghế đã chiếm đa số tuyệt đối trong hạ viện, đối với nước có chế độ hai viện của đảng chính trị nào đó và thủ lĩnh đảng được người đứng đầu nhà nước bổ nhiệm hay được nghị viện bầu làm thủ tướng chính phủ.

Trong các nhà nước cộng hòa tổng thống, nghị viện vẫn là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản và một số tầng lớp xã hội khác, có quyền ban hành hiến pháp và luật; không có quyền bầu tổng thống và thành lập chính phủ; không có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ và không được giải tán chính phủ. Tổng thống do đại biểu của cử tri bầu bằng cách bỏ phiếu kín. Tổng thống có quyền lực rất lớn: vừa là nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ vừa là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang; có quyền thành lập, kiểm tra, giám sát, giải tán chính phủ; có quyền phủ quyết một phần hay toàn bộ các luật mà nghị viện đã thông qua. Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước tổng thống.

Ngoài chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống, trong một số nước có thiết lập chế độ cộng hòa hỗn hợp, kết hợp cộng hòa đại nghị với cộng hòa tổng thống. Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản và một số tầng lớp xã hội khác; ban hành hiến pháp, luật; thành lập chính phủ và kiểm tra, giám sát chính phủ. Tổng thống do cử tri bầu trực tiếp bằng cách bỏ phiếu kín và cũng có quyền lực lớn: vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Tổng thống có quyền bổ nhiệm thủ tướng chính phủ là thủ lĩnh đảng đã giành được đa số phiếu trong hạ viện và kiểm tra hoạt động của chính phủ.

Chính phủ vừa trực thuộc nghị viện vừa trực thuộc tổng thống.

Hình thức cấu trúc nhà nước tư sản có hai loại là: nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.

2.4.4. Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa là kết quả tất yếu của những mâu thuẫn sâu sắc và ngày càng trở nên nghiêm trọng đến mức không thể điều hòa được giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Từ những mâu thuẫn đó dẫn đến cuộc cách mạng giành chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, để cho cuộc cách mạng đó nổ ra được thì phải có đủ các điều kiện là các tiền đề về kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng.

Tiền đề về kinh tế

Trong những nước tư bản chủ nghĩa, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến bộ hơn so với phương thức sản xuất phong kiến nhưng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thì trở nên bất lực trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội gay gắt, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở nên lạc hậu, mâu thuẫn với tính chất xã hội hóa và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất. Ở các nước thuộc địa nửa phong kiến, những tàn dư của chế độ phong kiến cùng với chế độ thực dân kìm hãm sự phát triển kinh tế; quan hệ sản xuất phong kiến dựa trên chế độ tư hữu của giai cấp địa chủ đối với ruộng đất, sản phẩm lao động xã hội và sự bóc lột dã man, tàn bạo của giai cấp địa chủ phong kiến đối với giai cấp nông dân bằng phát canh thu tô đã gây nên mâu thuẫn ngày càng trở nên nghiêm trọng giữa quan hệ sản xuất phong kiến với nhu cầu làm chủ ruộng đất và giải phóng sức lao động của nông dân.

Tiền đề về chính trị – xã hội

Giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa và các nước thuộc địa nửa phong kiến càng ngày càng tăng nhanh về số lượng, trưởng thành về chất lượng. Sự trưởng thành này thể hiện ở chỗ họ ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình là đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và chế độ thực dân, phong kiến; tính tổ chức, tính kỷ luật, ý thức giai cấp công nhân trị của họ ngày càng được tăng cường. Giai cấp công nhân thành lập đội tiên phong chiến đấu của mình là đảng cộng sản. Đảng cộng sản thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục học thuyết Mác – Lênin cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động; vận động, thuyết phục, tổ chức nhân dân đứng lên tiến hành cuộc cách mạng nhằm xóa bỏ chế độ cũ, thiết lập chế độ mới, giải phóng nhân dân lao động khỏi gông xiềng áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, của chế độ thực dân, phong kiến. Bằng những hoạt động đó, đảng cộng sản đã gây được niềm tin và tạo ra được uy tín của mình trong nhân dân lao động và trở thành tổ chức lãnh đạo cách mạng.

Sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa

Cho đến nay, lịch sử đã biết đến sự ra đời của ba loại hình nhà nước xã hội chủ nghĩa là Công xã Pari năm 1871, Nhà nước Xô Viết Nga năm 1917 và các nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân ra đời trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1939 – 1945.

Công xã Pari là nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới, ra đời trong cuộc khởi nghĩa của giai cấp công nhân ở Pari. Tuy nhiên, Công xã Pari là một nhà nước vô sản chưa hoàn hảo vì chưa có đảng cộng sản lãnh đạo, chưa thiết lập được liên minh công – nông, chưa áp dụng những biện pháp kiên quyết nhất để trấn áp các lực lượng thù địch. Mặc dù chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng nó đã đưa ra được mô hình phác thảo đầu tiên của nhà nước xã hội chủ nghĩa và những bài học quý báu có giá trị to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn cho Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cách mạng vô sản toàn thế giới sau này.

Nhà nước Xô Viết Nga ra đời từ cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Đây là nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh đầu tiên trên thế giới vì nó đã khắc phục được ba hạn chế cơ bản mà Công xã Pari mắc phải. Nhà nước Xô Viết Nga có Đảng Cộng sản bôn-sê-vích Nga lãnh đạo, đã thiết lập được liên minh công – nông vững chắc vốn là nguyên tắc tối cao của chuyên chính vô sản và áp dụng những biện pháp kiên quyết nhất để trấn áp thủ đoạn giai cấp, bảo vệ chính quyền Xô Viết non trẻ.

Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bản chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ: nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức quyền lực chính trị thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do giai cấp công nhân lãnh đạo mà đội tiên phong của nó là đảng cộng sản.

Vai trò xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Vai trò xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện tập trung ở hoạt động tổ chức và quản lý xã hội vì mục tiêu tất cả vì con người, cho con người, vì con người; như xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ; bảo vệ môi trường thiên nhiên và giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách khác.

Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Chức năng đối nội

Một là, tổ chức và quản lý kinh tế.

Hai là, tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ.

Ba là, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói nghèo; bảo vệ, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường; phòng, chống tệ nạn xã hội; phát triển thể dục, thể thao, du lịch; điều tiết sự hưởng thụ xã hội; thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, cứu trợ xã hội; phát triển dịch vụ xã hội.

Bốn là, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Năm là, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Sáu là, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất.

Chức năng đối ngoại

Một là, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Hai là, quan hệ và hợp tác với các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau.

Ba là, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ xã hội.

Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất, cùng thực hiện nhiệm vụ chiến lược và chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, được thành lập và có được thẩm quyền theo quy định của pháp luật, nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược và chức năng của nhà nước.

Cơ cấu của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa

Các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra

Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất bao gồm Quốc hội, Hội nghị, Hội nghị đại biểu nhân dân toàn quốc… ở trung ương và Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương.

Các cơ quan hành chính nhà nước

Bao gồm Chính phủ ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương.

Các cơ quan xét xử

Các cơ quan xét xử bao gồm tòa án nhân dân, tòa án quân sự và các tòa án khác được thành lập theo luật định.

Các cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Các cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật gồm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ở trung ương, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương và Viện Kiểm sát quân sự.

Nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu nhà nước)

Nguyên thủ quốc gia có thể là một cá nhân hoặc một tập thể. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 quy định nguyên thủ quốc gia là một cá nhân; Hiến pháp năm 1980 quy định nguyên thủ quốc gia là một tập thể; Hiến pháp năm 1992 thiết lập lại chức danh chủ tịch nước là một cá nhân nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu nhà nước.

Hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa

Hình thức chính thể

Tất cả các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều được tổ chức theo hình thức cộng hòa dân chủ xã hội chủ nghĩa, mặc dù tên gọi ở mỗi nước có thể khác nhau.

Hình thức cấu trúc

Từ góc độ hình thức cấu trúc, nhà nước xã hội chủ nghĩa có hai loại là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.

3. Khái niệm, đặc điểm và chức năng của nhà nước

3.1. Khái niệm nhà nước

Từ những phân tích trên, có thể nhận thức về nhà nước như sau:

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.

V. I. Lênin cho rằng: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ nơi đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện.

3.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước

Đặc điểm của nhà nước được hiểu là nét riêng biệt, tiêu biểu, điển hình mà dựa vào đó có thể phân biệt được nhà nước với tổ chức khác không phải là nhà nước.

Nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt, không còn hòa nhập hoàn toàn với cư dân nữa

Quyền lực này là quyền lực nhà nước mà chủ thể của nó là giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã có quyền lực nhưng đó là quyền lực xã hội, do tất cả các thành viên xã hội thiết lập và họ tự giác phục tùng, không cần bộ máy cưỡng chế nào cả, do đó nó hoàn toàn hòa nhập với cư dân. Khi nhà nước ra đời thì quyền lực xã hội nhường chỗ cho một thứ quyền lực mới – quyền lực nhà nước của giai cấp thống trị, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước, bởi vậy nó không thể hòa nhập hoàn toàn với cư dân được. Để thực hiện quyền lực này, nhà nước có bộ máy chuyên nghiệp, vừa làm nhiệm vụ cưỡng chế vừa quản lý xã hội mà các cơ quan chủ yếu của nó là quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù.

Thứ hai: Nhà nước phân chia cư dân theo lãnh thổ, tổ chức thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ trong phạm vi biên giới quốc gia

Kể từ khi ra đời, nhà nước phân chia quốc gia thành các đơn vị nhỏ để thực hiện vai trò và chức năng quản lý, mỗi vùng dân cư được gọi là một đơn vị hành chính – lãnh thổ, ví dụ tỉnh, huyện, xã,… và hình thành mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương.

Thứ ba: Nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật ấy bằng tất cả sức mạnh của mình, đặc biệt là sức mạnh cưỡng chế

Trong xã hội có giai cấp, chỉ có nhà nước mới có quyền và có điều kiện ban hành pháp luật, bởi vì nhà nước là tổ chức quyền lực của giai cấp thống trị, có bộ máy cưỡng chế đặc biệt, đại diện chính thức cho toàn xã hội, có nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Các tổ chức xã hội khác không có quyền ban hành pháp luật, trừ khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy quyền ban hành. Sau khi ban hành pháp luật, nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng mọi khả năng, điều kiện của mình về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, tổ chức, xã hội, pháp luật,…

Đặc biệt, nhà nước sử dụng các cơ quan cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù,… để bảo đảm thực thi pháp luật được nghiêm chỉnh, thống nhất và xử lý kịp thời những cá nhân, tổ chức, cơ quan vi phạm pháp luật. Chỉ có nhà nước mới có các cơ quan cưỡng chế đó và tính cưỡng chế nhà nước đã trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của pháp luật.

Thứ tư: Nhà nước quy định và thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc

Thuế là nguồn thu chủ yếu của nhà nước để nuôi dưỡng những người chuyên làm công tác quản lý trong bộ máy nhà nước và xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, văn hóa, phúc lợi xã hội,… nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Mỗi nhà nước có chính sách thuế riêng, phù hợp với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của mình và chế độ thuế cũng biến đổi cùng với sự thay đổi mọi mặt của nhà nước, xã hội và tình hình quốc tế.

Thứ năm: Nhà nước là tổ chức quyền lực mang chủ quyền quốc gia

Các tổ chức xã hội khác không có đặc trưng này. Chủ quyền quốc gia là một khái niệm chính trị – pháp lý, thể hiện quyền tự quyết của nhà nước. Với tư cách là tổ chức đại diện cho toàn xã hội, nhà nước có quyền quyết định và thực hiện các chính sách đối nội, đối ngoại của mình, không lệ thuộc vào ý chí từ bên ngoài, không chịu sự áp đặt của nhà nước khác. Chỉ có nhà nước mới có quyền nhân danh cả quốc gia và toàn dân tộc trong quan hệ đối ngoại. Trong thời đại hiện nay, nhà nước là chủ thể của công pháp quốc tế.

3.3. Chức năng của nhà nước

Chức năng của nhà nước là những phương hướng, phương diện hoặc mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ cơ bản, chiến lược của nhà nước.

Cần phân biệt chức năng của nhà nước với nhiệm vụ chiến lược của nhà nước. Nhà nước nào cũng có những nhiệm vụ chiến lược. Nhiệm vụ chiến lược của nhà nước là các vấn đề chủ yếu nhất về đối nội, đối ngoại trong khoảng thời gian lâu dài mà nhà nước phải giải quyết để đạt được những mục tiêu cơ bản mà mình đã đặt ra. Còn chức năng của nhà nước là hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của nhà nước. Trong quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược của nhà nước và chức năng của nhà nước thì nhiệm vụ chiến lược của nhà nước là cơ sở để xác định số lượng, nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện chức năng của nhà nước, còn chức năng của nhà nước là “phương thức” thực hiện nhiệm vụ chiến lược của nhà nước.

Chức năng của nhà nước có nhiều loại vì hoạt động quản lý xã hội của nhà nước hết sức đa dạng và phức tạp trong hai lĩnh vực hoạt động chủ yếu và bao trùm nhất của nhà nước là đối nội và đối ngoại.

Người ta cũng căn cứ vào hai lĩnh vực hoạt động quan trọng ấy của nhà nước mà phân chia các chức năng của nhà nước thành hai nhóm – nhóm các chức năng đối nội và nhóm các chức năng đối ngoại.

Chức năng đối nội: là những hoạt động chủ yếu nhất, quan trọng nhất, mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định tương đối của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng, cấp bách liên quan tới quốc kế dân sinh ở trong nước.

Chức năng đối ngoại: là những hoạt động chủ yếu nhất, quan trọng nhất, mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định tương đối của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng, cấp bách liên quan tới quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới; vừa để phục vụ cho xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở trong nước và bảo vệ tổ quốc, vừa phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ, tác động lẫn nhau, trong đó các chức năng đối nội giữ vai trò chủ đạo và có ý nghĩa quyết định đối với các chức năng đối ngoại. Việc thực hiện các chức năng đối ngoại luôn luôn xuất phát từ yêu cầu, mục tiêu của chức năng đối nội và nhằm phục vụ các chức năng đối nội.

Các chức năng của nhà nước được thực hiện thông qua những hình thức và phương pháp hoạt động nhất định của bộ máy nhà nước. Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, do đó, các chức năng của nhà nước được thực hiện chủ yếu dưới ba hình thức pháp lý cơ bản là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Ba hình thức pháp lý này quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau là tiền đề, điều kiện của nhau.

Các phương pháp hoạt động của bộ máy nhà nước rất đa dạng, phụ thuộc vào bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu của nhà nước. Các nhà nước đều sử dụng hai phương pháp chung, cơ bản là giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế. Đối với các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản thì cưỡng chế là phương pháp chủ yếu, thể hiện rõ nhất tính chất giai cấp của họ nhằm đàn áp, bóc lột nhân dân lao động.

Nhà nước XHCN coi giáo dục, thuyết phục là phương pháp cơ bản trong hoạt động của mình nhằm động viên, khích lệ và tổ chức quần chúng tham gia ngày càng đông đảo vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Còn cưỡng chế chỉ được áp dụng khi giáo dục, thuyết phục không đạt hiệu quả và cũng nhằm giáo dục, dựa trên cơ sở giáo dục, chứ không đàn áp, gây nên đau đớn về thể xác và tinh thần cho con người, không hạ thấp danh dự, nhân phẩm con người.

4. Bộ máy nhà nước và chế độ chính trị

4.1. Khái niệm bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị.

Trong xã hội có giai cấp, bộ máy nhà nước là công cụ chủ yếu nhất và có hiệu lực nhất để duy trì, bảo vệ, phát huy sự thống trị của giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng.

Ngoài ra, còn có các tổ chức chính trị – xã hội do các nhóm xã hội khác nhau thành lập để đáp ứng nhu cầu và lợi ích riêng của họ và trong một chừng mực nhất định tham gia thực hiện quyền lực của giai cấp thống trị. Bởi vậy, cần phân biệt bộ máy nhà nước với hệ thống chính trị.

Bộ máy nhà nước chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước như: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù, hành chính, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, khoa học, ngoại giao… Hệ thống chính trị bao gồm bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội khác cùng thực hiện nền chuyên chính của giai cấp thống trị.

4.2. Tổ chức bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước được tổ chức theo hệ thống và các nguyên tắc thống nhất từ trung ương xuống các địa phương.

Tùy thuộc vào bản chất và hoàn cảnh xã hội lịch sử cũng như điều kiện kinh tế – xã hội và trình độ phát triển mà cách thức tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau.

Bộ máy nhà nước thực hiện những nhiệm vụ và chức năng chung của cả nhà nước, còn mỗi cơ quan nhà nước lại thực hiện các nhiệm vụ, chức năng riêng nhằm tham gia thực hiện nhiệm vụ, chức năng chung của nhà nước. Cơ quan nhà nước là một nhóm công chức tạo nên bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, được thành lập và có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

4.3. Chế độ chính trị và các thành tố cơ bản của chế độ chính trị

Chế độ chính trị là toàn bộ các phương pháp, thủ đoạn, cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước của mình.

Chế độ chính trị quan hệ chặt chẽ với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của nhà nước và các điều kiện khác về kinh tế, chính trị, xã hội, thể hiện mức độ dân chủ trong một nhà nước.

Từ khi có nhà nước cho tới nay, giai cấp thống trị đã sử dụng nhiều phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước nhưng nhìn chung, có hai phương pháp chính là phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ.

  • Phương pháp dân chủ: dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn chế, dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp,…
  • Phương pháp phản dân chủ: thể hiện tính độc tài, đáng chú ý là khi những phương pháp này phát triển đến cao độ sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phát xít.

Tương ứng với hai phương pháp ấy là hai chế độ nhà nước – chế độ nhà nước dân chủ và chế độ nhà nước phản dân chủ. Trong xã hội XHCN, giai cấp công nhân và nhân dân lao động chỉ sử dụng phương pháp dân chủ XHCN để thực hiện quyền lực nhà nước của mình.

5. Vài nhận thức căn bản về nhà nước pháp quyền

5.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền

Lý thuyết “Nhà nước pháp quyền” ra đời trong các cuộc cách mạng tư sản chống chủ nghĩa phong kiến. Nó là sự phát triển tới đỉnh cao các tư tưởng thời cổ đại về sự ngự trị của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội.

Nội dung chủ yếu của lý thuyết “Nhà nước pháp quyền” bao gồm: pháp luật giữ vai trò tối thượng, thống trị trong đời sống nhà nước và xã hội; bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật; quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh quyền lực – quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp, quyền lực tư pháp và ba cơ quan nắm giữ và thực hiện ba quyền lực đó là nghị viện, chính phủ, tòa án tối cao độc lập với nhau, chế ước nhau; giữa nhà nước với công dân có mối quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của hai bên.

5.2. Những đặc điểm của nhà nước pháp quyền

Thứ nhất, tổ chức nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật, bản thân nhà nước cũng đặt mình trong khuôn khổ pháp luật. Hình thức tổ chức nhà nước được xây dựng trên cơ sở của sự phân công lao động hợp lý giữa các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Một hình thức nhà nước mà nền tư pháp được tổ chức khoa học, có hiệu quả và độc lập chỉ tuân theo pháp luật.

Thứ hai, trong nhà nước pháp quyền phải hiện hữu một nền hành chính trong sạch, hiệu quả, phục vụ tốt những nhu cầu đa dạng, chính đáng của cá nhân, tổ chức.

Thứ ba, một hình thức tổ chức nhà nước mà pháp luật có vị trí, vai trò xã hội to lớn là phương tiện điều chỉnh quan trọng hàng đầu đối với các quan hệ xã hội là công cụ của nhà nước và toàn xã hội. Nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của pháp luật song nhà nước pháp quyền không loại trừ đạo đức.

Thứ tư, pháp luật trong nhà nước pháp quyền thực sự vì con người. Theo đó, pháp luật là công cụ ghi nhận các quyền con người, quy định cơ chế bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ của nhà nước, cá nhân và tổ chức, không có ngoại lệ nào.

5.3. Những điều kiện tiền đề cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền

Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Pháp luật phải được coi là tối thượng trong mọi hoạt động của nhà nước, xã hội và công dân.

Hai là, hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải được kiện toàn, của dân, do dân và vì dân.

Ba là, hệ thống tư pháp độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Ở nước ta hiện nay, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang trong giai đoạn đầu tiên: giai đoạn nhận thức. Từ nhận thức đến hành động còn là một khoảng cách khá xa. Song nếu có nhận thức tốt, cả về lý luận lẫn cơ sở thực tiễn và có quyết tâm chính trị, có thể trong một tương lai không xa, nhà nước pháp quyền sẽ trở thành hiện thực.

Câu hỏi ôn tập Chương 2

  1. Trình bày nguyên nhân ra đời của nhà nước. So sánh các ý kiến khác nhau về vấn đề này.
  2. Tại sao nói chức năng đối nội của nhà nước quyết định nội dung chức năng đối ngoại của nó? Cho ví dụ.
  3. Phân tích khái niệm nhà nước.
  4. Phân tích đặc điểm của nhà nước.
  5. Hình thức nhà nước và các kiểu hình thức nhà nước.
  6. Hình thức của nhà nước Việt Nam hiện nay là gì?
  7. So sánh lợi ích mang lại từ việc tổ chức nhà nước dưới hình thức đơn nhất và hình thức liên bang.
  8. Tìm hiểu bản chất của các chế độ quân chủ trên thế giới hiện nay.
  9. Phân biệt Bộ máy nhà nước và Hệ thống chính trị.
  10. Những nội dung cơ bản của lý thuyết nhà nước pháp quyền là gì?

Kết luận

Có thể thấy, nhà nước và pháp luật tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ, trong đó nhà nước sử dụng pháp luật như một công cụ quan trọng để tổ chức và quản lý xã hội, còn pháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, hình thức, chức năng, bộ máy nhà nước và những đặc trưng của nhà nước pháp quyền giúp làm rõ cơ chế vận hành của quyền lực nhà nước cũng như vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về nhà nước và pháp luật

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?
★ ★ ★ ★ ★

Đã có 1310 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!