Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là một trong những nguyên tắc nền tảng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nội dung cốt lõi của nguyên tắc này là khẳng định Nhân dân mới là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, còn Quốc hội, Chính phủ, Tòa án và các cơ quan nhà nước khác là những thiết chế được tổ chức để thực hiện những bộ phận quyền lực theo Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 xác định Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” và khẳng định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa về mặt tuyên bố chính trị mà còn là cơ sở để xây dựng chế độ bầu cử, dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, bảo vệ quyền con người, giám sát bộ máy công quyền và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước. 

Mục lục

1. Nội dung và cơ sở của nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

Khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đồng thời khẳng định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quy định này phải được hiểu trước hết theo nghĩa: Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước chứ không phải cơ quan nhà nước.

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng không phải là chủ sở hữu quyền lực nhà nước. Chính phủ thực hiện quyền hành pháp nhưng không phải nguồn gốc của quyền hành pháp. Tòa án thực hiện quyền tư pháp nhưng cũng không tự tạo ra quyền tư pháp cho mình.

Các cơ quan đó tồn tại và có thẩm quyền bởi Hiến pháp và pháp luật xác lập cho chúng những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định trong cơ chế thực hiện quyền lực của Nhân dân.

Một nghiên cứu của Viện Khoa học pháp lý đã nhấn mạnh rằng không nên đồng nhất nguyên tắc quyền lực thuộc về Nhân dân với việc toàn bộ quyền lực tập trung vào Quốc hội. Quyền lực phải được hiểu là thuộc về Nhân dân, còn toàn bộ bộ máy nhà nước là hệ thống thiết chế được trao những quyền năng nhất định để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực đó. [1]

Có thể hình dung mối quan hệ này theo chuỗi:

Nhân dân → Hiến pháp và pháp luật → tổ chức bộ máy nhà nước → phân công thẩm quyền → các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực.

Như vậy, quyền lực mà một cơ quan hay người có chức vụ nhà nước thực hiện không phải quyền lực cá nhân của họ.

Một Thẩm phán có quyền xét xử không phải vì cá nhân Thẩm phán có quyền đối với đương sự, mà vì pháp luật trao thẩm quyền xét xử cho Tòa án và trao cho Thẩm phán quyền thực hiện hoạt động xét xử theo những điều kiện nhất định.

Tương tự, Chính phủ có quyền ban hành một số loại văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật vì đó là chức năng, thẩm quyền đã được xác lập trong hệ thống quyền lực nhà nước.

Nguyên tắc này có tính lịch sử và được kế thừa qua các bản Hiến pháp Việt Nam

Tư tưởng quyền lực thuộc về Nhân dân không phải đến Hiến pháp năm 2013 mới xuất hiện.

Ngay Điều thứ 1 Hiến pháp năm 1946 đã xác định về bản chất rằng quyền bính trong nước thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam.

Hiến pháp năm 1959 tiếp tục ghi nhận tất cả quyền lực trong nước thuộc về nhân dân; Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định nguyên tắc này; Hiến pháp năm 1992 và các lần sửa đổi sau đó phát triển theo hướng xác định Nhà nước là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa nhưng có bước phát triển quan trọng: không chỉ xác định ai là chủ thể của quyền lực mà còn quy định rõ hơn Nhân dân thực hiện quyền lực bằng những phương thức nào.

Điều 6 Hiến pháp quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng:

  • Dân chủ trực tiếp.
  • Dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi một nguyên tắc về chủ quyền nhân dân sẽ khó có ý nghĩa thực tế nếu chỉ xác định “quyền lực thuộc về ai” mà không tạo ra cơ chế để chủ thể đó thực hiện, trao quyền và kiểm soát quyền lực.

Nghị quyết số 203/2025/QH15 đã sửa đổi một số nội dung của Hiến pháp năm 2013 về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền địa phương nhưng không thay đổi nội dung cốt lõi của Điều 2 và Điều 6 nêu trên. Vì vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân vẫn là nền tảng hiến định hiện hành.

2. Phân tích nội dung của nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước

Đây là nội dung trung tâm nhất.

Nếu quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân thì không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có thể coi quyền lực công là quyền lực riêng của mình.

Cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện quyền lực:

  • Trong phạm vi được giao.
  • Theo đúng chức năng, nhiệm vụ.
  • Theo trình tự, thủ tục luật định.
  • Vì lợi ích công và mục tiêu mà quyền lực được trao.

Từ góc độ lý luận về chủ quyền nhân dân, một nghiên cứu của Viện Khoa học pháp lý phân tích rằng chủ quyền nhân dân cao hơn quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước là một bộ phận quyền lực mà thông qua Hiến pháp, Nhân dân giao cho Nhà nước thực hiện. Hiến pháp đồng thời trở thành phương tiện để Nhân dân tổ chức và giới hạn quyền lực ấy. [2]

Điều này có ý nghĩa rất lớn.

Nếu một cán bộ sử dụng chức vụ để mang lại lợi ích cá nhân, hành vi đó không chỉ có thể vi phạm pháp luật mà còn đi ngược bản chất của quyền lực công: quyền lực được trao để phục vụ xã hội lại bị chuyển hóa thành công cụ phục vụ lợi ích riêng.

Vì vậy, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là một trong những cơ sở lý luận quan trọng của yêu cầu chống:

  • Tham nhũng.
  • Lạm quyền.
  • Lợi dụng chức vụ.
  • Quan liêu.
  • Hách dịch.
  • Cửa quyền.

Điều 8 Hiến pháp năm 2013 cũng yêu cầu cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân.

Quyền lực thuộc về Nhân dân không có nghĩa Nhân dân trực tiếp thực hiện mọi quyền lực hằng ngày

Một quốc gia hiện đại có hàng chục hoặc hàng trăm triệu dân và hàng triệu quyết định quản lý phải được đưa ra mỗi ngày.

Không thể tổ chức để toàn thể Nhân dân trực tiếp biểu quyết:

  • Mỗi đạo luật.
  • Mỗi quyết định hành chính.
  • Mỗi bản án.
  • Mỗi quyết định ngân sách.
  • Mỗi quyết định quản lý nhà nước.

Vì vậy, việc Nhân dân là chủ thể quyền lực không đồng nghĩa với việc tất cả hoạt động quyền lực phải do Nhân dân trực tiếp thực hiện.

Nhân dân có thể trực tiếp thực hiện một số quyền lực, đồng thời trao hoặc ủy thác việc thực hiện những bộ phận quyền lực khác cho các thiết chế nhà nước.

Đây chính là sự kết hợp giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được Điều 6 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.
Điều quan trọng là sau khi trao quyền, Nhân dân không mất tư cách chủ thể của quyền lực.

Cơ quan được giao quyền phải chịu trách nhiệm, chịu giám sát và chỉ được hoạt động trong giới hạn thẩm quyền.

Nói cách khác:

Trao quyền không đồng nghĩa chuyển giao vĩnh viễn quyền làm chủ.

Quyền lực nhà nước là thống nhất ở Nhân dân

Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp xác định quyền lực nhà nước là thống nhất, đồng thời có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

“Thống nhất” trước hết cần được hiểu là quyền lực nhà nước có chung nguồn gốc là Nhân dân.

Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp không phải ba quyền lực có ba chủ thể tối cao khác nhau.

Quốc hội không sở hữu quyền lập pháp như một quyền lực riêng.

Chính phủ không sở hữu quyền hành pháp.

Tòa án cũng không sở hữu quyền tư pháp.

Các cơ quan đó chỉ thực hiện những phương diện khác nhau của quyền lực nhà nước thống nhất.

Từ đó có thể mô tả:

Quyền lực thống nhất ở Nhân dân → Hiến pháp phân công thực hiện → lập pháp – hành pháp – tư pháp → phối hợp và kiểm soát lẫn nhau.

Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là nguyên tắc nền tảng, trong khi phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực là phương thức tổ chức việc thực hiện quyền lực thống nhất đó.

Quyền lực của Nhân dân phải hướng tới lợi ích của Nhân dân

“Của Nhân dân” mới phản ánh nguồn gốc của quyền lực.

Hiến pháp còn xác định Nhà nước do Nhân dân và vì Nhân dân.

“Do Nhân dân” thể hiện phương diện hình thành và thực hiện quyền lực.

“Vì Nhân dân” thể hiện mục tiêu của quyền lực.

Một Nhà nước không thể chỉ chứng minh rằng các cơ quan của mình được thành lập đúng trình tự, mà còn phải bảo đảm quyền lực được sử dụng để phục vụ lợi ích công cộng và bảo vệ quyền của con người.

Điều 3 Hiến pháp đặt trách nhiệm cho Nhà nước trong việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Do đó, quyền con người và quyền công dân đồng thời là giới hạn đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Cơ quan nhà nước không thể viện dẫn rằng mình đại diện cho lợi ích chung để tùy tiện xâm phạm quyền cá nhân.

Hiến pháp quy định các quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo luật và trong những trường hợp cần thiết vì các lý do được Hiến pháp xác định.

Đây là mối quan hệ hai chiều:

Nhân dân trao quyền cho Nhà nước để bảo vệ lợi ích chung; đồng thời quyền và tự do của Nhân dân trở thành giới hạn đối với chính quyền lực được trao.

3. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng những hình thức nào?

Thực hiện quyền lực thông qua bầu cử

Bầu cử là một trong những cơ chế quan trọng nhất để Nhân dân hình thành các cơ quan đại diện.

Điều 27 Hiến pháp năm 2013 xác định công dân đủ 18 tuổi có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Điều 7 yêu cầu bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân phải tuân theo các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Thông qua lá phiếu, người dân lựa chọn những người đại diện thực hiện quyền lực nhà nước.

Ý nghĩa của bầu cử không chỉ nằm ở việc “chọn cán bộ”.

Sâu hơn, đó là một cơ chế:

Nhân dân → trao sự tín nhiệm → hình thành cơ quan đại diện → cơ quan đại diện thực hiện quyền lực theo Hiến pháp và pháp luật.

Sự tín nhiệm này cũng không phải bất biến.

Điều 7 Hiến pháp quy định đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.

Như vậy, quyền của Nhân dân không kết thúc ngay sau ngày bầu cử.

Thực hiện quyền lực bằng dân chủ trực tiếp

Dân chủ trực tiếp nghĩa là người dân tự mình tham gia quyết định hoặc biểu thị ý chí về những vấn đề nhất định, thay vì hoàn toàn thông qua người đại diện.

Một trong những hình thức rõ nét nhất là trưng cầu ý dân.

Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 định nghĩa trưng cầu ý dân là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Luật cũng xác định nguyên tắc phải bảo đảm để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí và thực hiện việc bỏ phiếu theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Điều 29 Hiến pháp cũng xác định công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

So với dân chủ đại diện:

Dân chủ đại diện: Nhân dân lựa chọn người thay mặt mình thực hiện quyền lực.

Dân chủ trực tiếp: Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí đối với vấn đề được đưa ra.

Hai phương thức không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau.

Một nhà nước hiện đại không thể chỉ dựa vào dân chủ trực tiếp nhưng nếu toàn bộ quyền lực của người dân chỉ dừng ở việc định kỳ đi bầu cử thì nội dung quyền làm chủ cũng chưa được phát huy đầy đủ.

Thực hiện quyền làm chủ thông qua việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội

Điều 28 Hiến pháp quy định công dân có quyền:

  • Tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
  • Tham gia thảo luận các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
  • Kiến nghị với cơ quan nhà nước.

Đồng thời, Nhà nước phải tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền này và phải công khai, minh bạch trong tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị.

Đây là nội dung rất quan trọng bởi quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ được thực hiện vào ngày bầu cử.

Trong thời gian giữa hai cuộc bầu cử, người dân vẫn có thể tham gia vào quá trình vận hành quyền lực thông qua:

  • Góp ý chính sách.
  • Kiến nghị.
  • Tham gia quản lý tại cộng đồng.
  • Tiếp cận thông tin.
  • Phản ánh các vấn đề quản lý.
  • Tham gia các hình thức dân chủ ở cơ sở.

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 tiếp tục cụ thể hóa nhiều cơ chế theo hướng Nhân dân biết, bàn, quyết định, tham gia ý kiến, kiểm tra và giám sát những vấn đề nhất định tại cơ sở. Đây là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để chuyển nguyên tắc quyền lực thuộc về Nhân dân từ phạm vi Hiến pháp sang đời sống hằng ngày.

Nhân dân kiểm tra và giám sát việc thực hiện quyền lực

Nếu người dân chỉ có quyền trao quyền nhưng không có quyền kiểm tra người nhận quyền thì rất khó bảo đảm quyền lực thực tế vẫn thuộc về Nhân dân.

Do đó, giám sát là một nội dung tất yếu của nguyên tắc này.

Điều 8 Hiến pháp yêu cầu cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ phải chịu sự giám sát của Nhân dân. Điều 30 tiếp tục bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo đối với các hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Người dân có thể thực hiện sự giám sát bằng nhiều con đường:

  • Phản ánh và kiến nghị.
  • Khiếu nại.
  • Tố cáo.
  • Tiếp cận thông tin.
  • Theo dõi hoạt động của cơ quan dân cử.
  • Giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội.
  • Tham gia góp ý đối với chính sách và hoạt động của cơ quan nhà nước.

Đặc biệt, Nghị quyết số 203/2025/QH15 khi sửa đổi Điều 9 Hiến pháp đã tiếp tục nhấn mạnh vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thể hiện ý chí, nguyện vọng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp, thực hiện giám sát, phản biện xã hội và phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân tới cơ quan nhà nước.

Như vậy, giám sát không phải yếu tố nằm ngoài quyền lực của Nhân dân mà chính là một phương thức bảo vệ quyền làm chủ của Nhân dân sau khi quyền lực đã được giao cho bộ máy nhà nước thực hiện.

4. Ý nghĩa và yêu cầu bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

Đây là cơ sở xác lập tính chính danh của quyền lực nhà nước

Nếu Nhân dân là chủ thể tối cao thì quyền lực của các cơ quan nhà nước chỉ có cơ sở khi nó nằm trong cấu trúc quyền lực do Hiến pháp xác lập.

Cơ quan nhà nước không thể tự tạo thêm quyền hạn ngoài phạm vi được trao.

Điều này làm thay đổi căn bản cách hiểu về quan hệ giữa Nhà nước và người dân.

Công dân không chỉ là đối tượng bị quản lý.

Họ đồng thời là chủ thể của quyền lực mà bộ máy quản lý đang thực hiện.

Từ đó, công chức không đơn giản là người có quyền ra lệnh cho dân mà là người thực hiện công vụ trong phạm vi quyền lực công được trao.

Là cơ sở của việc kiểm soát quyền lực

Quyền lực nhà nước có khả năng rất lớn:

  • Ban hành pháp luật.
  • Thu thuế.
  • Hạn chế một số quyền trong trường hợp luật định.
  • Xử phạt.
  • Cưỡng chế.
  • Xét xử.
  • Tước tự do khi có căn cứ pháp luật.

Chính vì quyền lực mạnh như vậy, nguy cơ lạm dụng cũng luôn tồn tại.

Nếu quyền lực thuộc về Nhân dân thì người được trao quyền không thể đồng thời là người tự quyết định hoàn toàn giới hạn quyền lực của mình.

Do đó, cần có cơ chế kiểm soát.

Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền nhấn mạnh nguyên tắc mọi quyền lực phải được kiểm soát bằng cơ chế và ràng buộc với trách nhiệm; quyền lực càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Văn bản đồng thời đặt ra yêu cầu kết hợp cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước với sự giám sát của Nhân dân và tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Vì vậy:

Quyền lực thuộc về Nhân dân → quyền lực được trao phải có giới hạn → việc thực hiện quyền lực phải được giám sát → lạm dụng quyền lực phải bị xử lý.

Đây là mối liên hệ trực tiếp giữa chủ quyền nhân dân và kiểm soát quyền lực.

Là cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Một Nhà nước của Nhân dân không thể chỉ quan tâm đến việc bộ máy hoạt động hiệu quả.

Hiệu quả quyền lực phải gắn với việc tôn trọng con người.

Hiến pháp năm 2013 dành riêng Chương II để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời xác định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền đó.

Ở phương diện này, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân có hai tác động đồng thời:

  • Tạo cơ sở để người dân tham gia tạo lập và thực hiện quyền lực.
  • Tạo giới hạn để quyền lực đó không tùy tiện xâm phạm chính người đã tạo ra nó.

Đây là lý do dân chủ và pháp quyền phải đi cùng nhau.

Nếu chỉ nhấn mạnh quyền lực của đa số nhưng không bảo vệ quyền con người thì quyền của cá nhân có thể bị tổn hại.

Ngược lại, nếu chỉ ghi nhận quyền trên văn bản mà không có cơ chế tham gia và giám sát quyền lực thì khả năng bảo đảm quyền trên thực tế cũng bị hạn chế.

Nguyên tắc phải được bảo đảm bằng cơ chế thực tế chứ không chỉ bằng tuyên bố

Đây là điểm rất quan trọng khi phân tích nguyên tắc.

Một quy định hiến định chỉ thực sự có giá trị đầy đủ nếu có thể chế và điều kiện để thực hiện.

Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật khi đánh giá việc thực hiện nguyên tắc này đã chỉ ra rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế trong cơ chế dân chủ trực tiếp; một số hình thức tham gia của người dân chưa có quy trình, thủ tục đủ cụ thể để phát huy đầy đủ trên thực tế.

Do đó, để nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân được thực hiện hiệu quả cần tiếp tục:

  • Bảo đảm bầu cử thực chất và trách nhiệm của đại biểu trước cử tri.
  • Mở rộng điều kiện để Nhân dân tham gia xây dựng chính sách và pháp luật.
  • Hoàn thiện các cơ chế dân chủ trực tiếp.
  • Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và tính minh bạch của hoạt động công quyền.
  • Nâng cao hiệu quả tiếp nhận, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo.
  • Tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan và người có thẩm quyền.
  • Hoàn thiện cơ chế để Nhân dân trực tiếp và gián tiếp kiểm soát quyền lực nhà nước.
  • Xử lý nghiêm việc lạm dụng, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân.

Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế để Nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực nhà nước, đồng thời bảo đảm các quyền tiếp cận thông tin, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại và tố cáo.

Nói cách khác, nguyên tắc:“Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”

Sẽ chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi trả lời được đồng thời bốn câu hỏi:

  • Nhân dân trao quyền bằng cách nào?
  • Người nhận quyền phải chịu trách nhiệm ra sao?
  • Nhân dân kiểm tra quyền lực bằng phương thức nào?
  • Điều gì xảy ra khi quyền lực bị sử dụng sai mục đích?

Khi bốn vấn đề đó được giải quyết bằng các cơ chế pháp lý hữu hiệu, quyền làm chủ mới chuyển từ nguyên tắc hiến định thành thực tiễn vận hành của Nhà nước.

Kết luận

Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân khẳng định Nhân dân là chủ thể tối cao và là nguồn gốc của quyền lực nhà nước; còn các cơ quan nhà nước chỉ là những thiết chế được Hiến pháp và pháp luật trao thẩm quyền để thực hiện quyền lực đó. Hiến pháp năm 2013 không chỉ tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này mà còn xác định rõ Nhân dân thực hiện quyền lực bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Quyền làm chủ được thể hiện thông qua bầu cử, ứng cử, trưng cầu ý dân, tham gia quản lý nhà nước và xã hội, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, thực hiện dân chủ ở cơ sở và giám sát hoạt động của bộ máy công quyền. Đồng thời, việc quyền lực thuộc về Nhân dân đòi hỏi mọi quyền lực được trao phải có giới hạn, chịu sự kiểm soát, gắn với trách nhiệm giải trình và hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Vì vậy, giá trị sâu sắc nhất của nguyên tắc không chỉ nằm ở việc khẳng định “ai là người có quyền lực”, mà còn ở yêu cầu xây dựng những cơ chế thực chất để Nhân dân có thể trao quyền, thực hiện quyền và kiểm soát việc sử dụng quyền lực nhà nước.


[1] https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=136, truy cập ngày 10/9/2026.

[2] Mô hình tổ chức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp năm 1946 – Những giá trị lịch sử và đương đại, https://tlpl.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-de-tai.aspx?CategoryDT=DT&ItemID=734, truy cập ngày 10/9/2026.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?
★ ★ ★ ★ ★

Đã có 915 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!