Đây là vấn đề quan trọng trong tố tụng hình sự, đặc biệt đối với bị can, người bào chữa, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát có trách nhiệm giao bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can, gửi cho Cơ quan điều tra và người bào chữa, đồng thời chuyển bản cáo trạng cùng hồ sơ vụ án đến Tòa án có thẩm quyền. Tuy nhiên, không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều được nhận bản cáo trạng. Pháp luật có sự phân biệt giữa việc giao, gửi bản cáo trạng với việc thông báo kết quả giải quyết vụ án, nhất là đối với bị hại và các đương sự.
- 1. Bản cáo trạng là gì?
- 2. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát được gửi cho những ai?
- 2.1. Bị can hoặc người đại diện của bị can
- 2.2. Người bào chữa của bị can
- 2.3. Cơ quan điều tra
- 2.4. Tòa án có thẩm quyền xét xử
- 2.5. Viện kiểm sát cấp trên
- 2.6. Bị hại, đương sự có được Viện kiểm sát gửi bản cáo trạng không?
- 3. Một số quy định liên quan đến việc giao, gửi bản cáo trạng
- 3.1. Viện kiểm sát phải giao bản cáo trạng trong thời hạn bao lâu?
- 3.2. Bị can không nhận được bản cáo trạng thì phải làm gì?
- 3.3. Bị can bỏ trốn hoặc đang ở nước ngoài thì việc giao cáo trạng thực hiện thế nào?
- 3.4. Gia đình bị can có được nhận bản cáo trạng không?
- 3.5. Bị can có quyền phản đối nội dung bản cáo trạng không?
- Kết luận
1. Bản cáo trạng là gì?
Bản cáo trạng là văn bản tố tụng do Viện kiểm sát ban hành để quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án xét xử về một hoặc nhiều tội danh cụ thể, trên cơ sở kết quả điều tra và các chứng cứ được thu thập trong vụ án hình sự.
Theo khoản 1 Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng. Đây là văn bản đánh dấu việc Viện kiểm sát kết thúc giai đoạn truy tố bằng quyết định đưa bị can ra trước Tòa án để xem xét trách nhiệm hình sự.

Bản cáo trạng có ý nghĩa quan trọng bởi nó xác định hành vi bị truy tố, căn cứ buộc tội, tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Đây cũng là cơ sở để bị can và người bào chữa biết rõ nội dung buộc tội, chuẩn bị chứng cứ và xây dựng phương án bào chữa trong giai đoạn xét xử.
Theo Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự, nội dung bản cáo trạng phải thể hiện những vấn đề cơ bản như:
- Diễn biến hành vi phạm tội và những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can.
- Thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị can.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng.
- Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
- Phần kết luận xác định tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ngoài ra, bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ban hành; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra cáo trạng.
Cần lưu ý rằng bản cáo trạng không phải bản án và cũng không phải quyết định xác định bị can có tội của Tòa án. Việc Viện kiểm sát ban hành cáo trạng chỉ thể hiện quan điểm truy tố trên cơ sở chứng cứ của vụ án. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, một người chỉ bị coi là có tội khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Bởi vậy, bản cáo trạng là văn bản buộc tội của Viện kiểm sát, còn việc xác định một người có phạm tội hay không và phải chịu hình phạt như thế nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án.
2. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát được gửi cho những ai?
Theo khoản 2 Điều 240 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung, sau khi ban hành bản cáo trạng, Viện kiểm sát có trách nhiệm giao, gửi bản cáo trạng cho những chủ thể nhất định theo quy định pháp luật. Việc giao, gửi này nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, tạo điều kiện cho hoạt động xét xử của Tòa án và thực hiện chức năng kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án.
Cần phân biệt giữa các chủ thể được trực tiếp nhận bản cáo trạng và những người chỉ được thông báo về việc giải quyết vụ án.
2.1. Bị can hoặc người đại diện của bị can
Bị can là chủ thể có quyền được nhận bản cáo trạng trực tiếp từ Viện kiểm sát. Đây là quyền tố tụng quan trọng, được ghi nhận tại điểm c khoản 2 Điều 60 và khoản 2 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Việc giao bản cáo trạng giúp bị can biết chính xác hành vi mà mình bị truy tố, tội danh, căn cứ buộc tội và các điều khoản của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát áp dụng. Trên cơ sở đó, bị can có thể chuẩn bị phương án tự bào chữa hoặc phối hợp với người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi vụ án được đưa ra xét xử.
Nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định việc giao cáo trạng thông qua người đại diện của bị can thì Viện kiểm sát phải thực hiện theo đúng quy định tương ứng. Việc giao nhận phải được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Đặc biệt, ngay cả khi bị can đang bị tạm giam, quyền được nhận bản cáo trạng vẫn phải được bảo đảm. Việc bị can bị hạn chế quyền tự do thân thể không đồng nghĩa với việc họ bị tước bỏ quyền biết nội dung truy tố và chuẩn bị bào chữa.
2.2. Người bào chữa của bị can
Theo khoản 2 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm gửi bản cáo trạng cho người bào chữa.
Người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân hoặc trợ giúp viên pháp lý trong những trường hợp pháp luật quy định. Việc gửi cáo trạng được thực hiện đối với người đã tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa hợp lệ.
Bản cáo trạng là tài liệu đặc biệt quan trọng đối với hoạt động bào chữa. Thông qua cáo trạng, người bào chữa có thể nghiên cứu nội dung buộc tội, đối chiếu với tài liệu trong hồ sơ vụ án, đánh giá chứng cứ và chuẩn bị những lập luận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can.
Chẳng hạn, trong một vụ án hình sự, nếu Viện kiểm sát truy tố bị can về tội danh có khung hình phạt nghiêm khắc nhưng người bào chữa nhận thấy chứng cứ chưa đủ để xác định một tình tiết định khung, họ có thể nghiên cứu, thu thập và đưa ra các căn cứ phản bác quan điểm truy tố.
Do đó, việc gửi bản cáo trạng cho người bào chữa không chỉ là một thủ tục thông báo mà còn trực tiếp phục vụ nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội.
2.3. Cơ quan điều tra
Cơ quan điều tra cũng thuộc nhóm chủ thể được Viện kiểm sát gửi bản cáo trạng theo khoản 2 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ và ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố khi có đủ căn cứ theo quy định.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát xem xét chứng cứ, đánh giá kết quả điều tra và quyết định việc truy tố. Bản cáo trạng là văn bản thể hiện kết quả của quá trình xem xét đó.
Việc gửi cáo trạng cho Cơ quan điều tra giúp cơ quan này nắm được quyết định truy tố, tội danh và những nội dung mà Viện kiểm sát xác định trên cơ sở kết quả điều tra.
Cần lưu ý, Cơ quan điều tra nhận bản cáo trạng không có nghĩa cơ quan này có quyền quyết định việc truy tố hoặc xét xử. Quyền quyết định truy tố thuộc Viện kiểm sát, còn việc xét xử và ra bản án thuộc thẩm quyền của Tòa án.
2.4. Tòa án có thẩm quyền xét xử
Theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án. Đối với vụ án phức tạp, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
Khác với việc gửi bản cáo trạng cho người bào chữa hoặc Cơ quan điều tra, việc chuyển cáo trạng đến Tòa án được thực hiện kèm theo hồ sơ vụ án, nhằm chuyển vụ án sang giai đoạn xét xử.
Khi nhận được hồ sơ và bản cáo trạng, Tòa án có trách nhiệm kiểm tra các tài liệu, vật chứng kèm theo và việc thực hiện những thủ tục cần thiết trước khi thụ lý vụ án.
Đặc biệt, Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rằng nếu bản cáo trạng chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì về nguyên tắc, Tòa án chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Viện kiểm sát thực hiện việc giao cáo trạng theo đúng quy định.
Quy định này cho thấy việc giao cáo trạng cho bị can là một thủ tục quan trọng cần được kiểm tra trước khi Tòa án thụ lý vụ án, không phải công việc có thể tùy ý bỏ qua.
2.5. Viện kiểm sát cấp trên
Ngoài những chủ thể được trực tiếp giao, gửi bản cáo trạng nêu trên, khoản 3 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự còn quy định các quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố được nêu tại khoản 1 Điều này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cấp trên.
Mục đích của quy định là bảo đảm hoạt động kiểm tra, giám sát trong hệ thống Viện kiểm sát. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền xem xét, rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ những quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật theo quy định.
Cần phân biệt quy định về gửi quyết định truy tố cho Viện kiểm sát cấp trên với quy định về giao bản cáo trạng cho bị can, người bào chữa hoặc chuyển hồ sơ đến Tòa án. Mỗi hoạt động có mục đích và trình tự riêng.
Trong trường hợp Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định truy tố nhưng phân công Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử thì việc chuyển hồ sơ kèm bản cáo trạng giữa các cấp Viện kiểm sát còn được thực hiện theo Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.6. Bị hại, đương sự có được Viện kiểm sát gửi bản cáo trạng không?
Đây là vấn đề dễ nhầm lẫn trong thực tiễn.
Theo khoản 2 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có nghĩa vụ thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ nhưng không quy định bắt buộc phải gửi trực tiếp bản cáo trạng cho tất cả những chủ thể này như đối với bị can hoặc người bào chữa.
Nói cách khác, cần phân biệt:
- Bị can hoặc người đại diện của bị can: Được giao bản cáo trạng.
- Người bào chữa: Được gửi bản cáo trạng.
- Cơ quan điều tra: Được gửi bản cáo trạng.
- Tòa án: Được chuyển bản cáo trạng kèm hồ sơ vụ án.
- Bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ: Được thông báo theo quy định, không đương nhiên được gửi riêng toàn văn cáo trạng theo khoản 2 Điều 240.
Tuy nhiên, việc không thuộc nhóm chủ thể được tự động gửi cáo trạng không có nghĩa bị hại không được biết kết quả giải quyết vụ án.
Theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị hại có quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án, đưa ra chứng cứ, yêu cầu, đề nghị mức bồi thường, tham gia phiên tòa và thực hiện các quyền tố tụng khác.
Đặc biệt, theo điểm d khoản 3 Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người mà mình bảo vệ sau khi kết thúc điều tra.
Vì vậy, nếu cần nghiên cứu bản cáo trạng để chuẩn bị bảo vệ quyền lợi tại phiên tòa, bị hại có thể thông qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để thực hiện các quyền tiếp cận tài liệu trong phạm vi luật định.
3. Một số quy định liên quan đến việc giao, gửi bản cáo trạng
3.1. Viện kiểm sát phải giao bản cáo trạng trong thời hạn bao lâu?
Theo khoản 2 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn thông thường để Viện kiểm sát thực hiện việc giao, gửi bản cáo trạng là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định truy tố.
Đối với vụ án phức tạp, thời hạn giao bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can có thể được kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
Đồng thời, Điều 244 quy định thời hạn chuyển hồ sơ vụ án kèm bản cáo trạng đến Tòa án thông thường là 03 ngày kể từ ngày ra cáo trạng và có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày nếu vụ án phức tạp.
Cần lưu ý rằng thời hạn giao, gửi cáo trạng và thời hạn Viện kiểm sát quyết định việc truy tố là hai loại thời hạn tố tụng khác nhau. Thời hạn quyết định truy tố được tính từ thời điểm Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, còn thời hạn giao cáo trạng được tính từ thời điểm ban hành quyết định truy tố theo quy định.
3.2. Bị can không nhận được bản cáo trạng thì phải làm gì?
Trường hợp bị can chưa nhận được bản cáo trạng mặc dù đã có quyết định truy tố, trước hết cần xác định nguyên nhân như chưa thực hiện việc giao, gửi, có sai sót trong quá trình tống đạt hoặc có vướng mắc liên quan đến tình trạng của bị can.
Nếu việc giao cáo trạng chưa được thực hiện đúng quy định, bị can hoặc người bào chữa có thể đề nghị Viện kiểm sát kiểm tra, thực hiện việc giao cáo trạng và cung cấp thông tin liên quan đến thủ tục này.
Khi hồ sơ đã được chuyển đến Tòa án, cần chú ý quy định tại Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự về trách nhiệm của Tòa án trong việc kiểm tra xem bản cáo trạng đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can hay chưa.
Nếu phát hiện có hành vi, quyết định tố tụng trái pháp luật, bị can có quyền khiếu nại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bị can chưa trực tiếp nhận được cáo trạng đều đương nhiên làm cho quyết định truy tố vô hiệu. Việc đánh giá hậu quả pháp lý phải căn cứ vào nguyên nhân, thủ tục đã thực hiện và các quy định đặc biệt áp dụng cho vụ án.
3.3. Bị can bỏ trốn hoặc đang ở nước ngoài thì việc giao cáo trạng thực hiện thế nào?
Đây là nội dung đáng chú ý trong những quy định được sửa đổi, bổ sung gần đây.
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự, được bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15, Viện kiểm sát có thể quyết định truy tố bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa theo quy định trong những trường hợp nhất định, bao gồm:
- Bị can bỏ trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nã không có kết quả.
- Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động nhằm quyết định việc truy tố.
Đặc biệt, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng theo khoản 2 Điều 243, bản cáo trạng phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
Đây là cơ chế đặc biệt nhằm giải quyết những trường hợp không thể thực hiện việc giao cáo trạng trực tiếp theo thủ tục thông thường.
Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế này phải đáp ứng những điều kiện luật định, không thể mặc nhiên sử dụng đối với mọi trường hợp bị can vắng mặt.
3.4. Gia đình bị can có được nhận bản cáo trạng không?
Cha mẹ, vợ, chồng, con hoặc những người thân thích khác của bị can không đương nhiên được Viện kiểm sát giao bản cáo trạng chỉ vì có quan hệ gia đình với bị can.
Theo khoản 2 Điều 240, việc giao bản cáo trạng được thực hiện cho bị can hoặc người đại diện của bị can. Vì vậy, người thân chỉ thuộc diện được giao cáo trạng theo quy định này nếu họ đồng thời có tư cách người đại diện hợp pháp trong trường hợp tương ứng.
Nếu người thân là người bào chữa đã được đăng ký hợp lệ thì việc nhận bản cáo trạng được xem xét theo tư cách người bào chữa, không phải chỉ vì quan hệ gia đình.
Trong thực tiễn, gia đình có thể hỗ trợ bị can mời luật sư, chuẩn bị tài liệu và phối hợp thực hiện các quyền tố tụng phù hợp. Tuy nhiên, việc gia đình trực tiếp nhận bản cáo trạng và quyền được nhận cáo trạng theo pháp luật tố tụng là hai vấn đề cần phân biệt.
3.5. Bị can có quyền phản đối nội dung bản cáo trạng không?
Có. Việc được giao bản cáo trạng không có nghĩa bị can bắt buộc phải đồng ý với toàn bộ nội dung truy tố của Viện kiểm sát.
Theo Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị can có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến đối với chứng cứ và đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa.
Nếu cho rằng nội dung bản cáo trạng chưa chính xác, chưa đầy đủ hoặc việc áp dụng tội danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự không phù hợp, bị can và người bào chữa có thể đưa ra ý kiến, chứng cứ và các lập luận nhằm bảo vệ quan điểm của mình. Chẳng hạn, bị can có thể không đồng ý với kết luận về vai trò đồng phạm, giá trị tài sản bị thiệt hại, yếu tố lỗi, tình tiết định khung hoặc các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Những vấn đề đó cần được xem xét, kiểm tra và tranh tụng theo quy định pháp luật.
Cần phân biệt quyền phản bác nội dung truy tố với quyền kháng cáo bản án. Bản cáo trạng không phải bản án của Tòa án nên việc không đồng ý với cáo trạng không được thực hiện theo thủ tục kháng cáo bản án.
Việc phản bác cáo trạng chủ yếu được thực hiện thông qua các quyền bào chữa, cung cấp chứng cứ, kiến nghị và khiếu nại đối với những hành vi, quyết định tố tụng thuộc trường hợp pháp luật cho phép.
Kết luận
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát được gửi cho những ai? Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Viện kiểm sát có trách nhiệm giao bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa; đồng thời chuyển bản cáo trạng kèm hồ sơ vụ án đến Tòa án có thẩm quyền. Các quyết định truy tố còn chịu sự kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát cấp trên theo quy định. Đối với bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định nghĩa vụ thông báo nhưng không bắt buộc phải gửi trực tiếp bản cáo trạng như đối với bị can. Thời hạn giao, gửi thông thường là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định truy tố; trong những trường hợp luật định, thời hạn hoặc cách thức giao cáo trạng có thể được thực hiện theo cơ chế đặc biệt. Việc tuân thủ đúng quy định về giao, gửi cáo trạng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào chữa, quyền được biết nội dung truy tố và tính hợp pháp của quá trình tố tụng hình sự.


Để lại một phản hồi