Thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc kể từ 1/7/2026

Thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc kể từ 1/7/2026

Thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng trong lĩnh vực thi hành án hình sự, bởi đây là giai đoạn tổ chức thực hiện bản án tử hình đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án. Theo quy định mới nhất năm 2026, nội dung này được điều chỉnh trực tiếp bởi Nghị định 203/2026/NĐ-CP ngày 11/6/2026 của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. So với quy định trước đây, Nghị định 203/2026/NĐ-CP tiếp tục xác lập nguyên tắc thi hành án tử hình bằng phương pháp tiêm thuốc độc, đồng thời làm rõ hơn về quy trình tiêm thuốc, loại thuốc sử dụng, điều kiện cơ sở vật chất, trách nhiệm của các cơ quan liên quan, chế độ đối với người tham gia thi hành án và việc giải quyết mai táng sau khi thi hành án. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng cần nắm vững khi nghiên cứu, áp dụng hoặc tìm hiểu về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc theo quy định mới nhất 2026.

1. Căn cứ pháp lý và phạm vi điều chỉnh của quy định mới về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc

Theo pháp luật hình sự Việt Nam, tử hình là hình phạt đặc biệt nghiêm khắc, chỉ được áp dụng trong những trường hợp luật định đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự và quy định về thi hành án tử hình trong Luật Thi hành án hình sự, Nghị định hướng dẫn. Bộ luật Hình sự quy định khi nào một người có thể bị tuyên hình phạt tử hình; còn Luật Thi hành án hình sự và Nghị định 203/2026/NĐ-CP quy định việc tổ chức thi hành bản án tử hình đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện ra sao.

Căn cứ pháp lý: Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung; Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15; Nghị định 203/2026/NĐ-CP ngày 11/6/2026 của Chính phủ.

Theo khoản 1 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc; quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định 203/2026/NĐ-CP để quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thuốc tiêm, trang thiết bị, cơ sở vật chất, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các vấn đề liên quan đến việc thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025; phần căn cứ ban hành và Điều 1 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định 203/2026/NĐ-CP khá rộng, không chỉ dừng lại ở thao tác tiêm thuốc độc. Nghị định này quy định về quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc; thuốc tiêm; cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện sử dụng cho thi hành án tử hình; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án tử hình; chi phí mai táng người đã bị thi hành án tử hình; cũng như chế độ, chính sách đối với người tham gia thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc. Điều này cho thấy việc thi hành án tử hình không phải là một hành vi đơn lẻ, mà là một quy trình pháp lý, nghiệp vụ và hành chính được kiểm soát chặt chẽ.

Căn cứ pháp lý: Điều 1 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Về đối tượng áp dụng, Nghị định 203/2026/NĐ-CP áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án tử hình và người bị thi hành án tử hình. Như vậy, các chủ thể liên quan có thể bao gồm Hội đồng thi hành án tử hình; cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; trại tạm giam nơi giam giữ người bị kết án tử hình; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Y tế; Bộ Ngoại giao; Bộ Tài chính; Ủy ban nhân dân các cấp và những cá nhân được phân công tham gia vào từng khâu của quá trình thi hành án.

Căn cứ pháp lý: Điều 2, Chương IV Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Một điểm đặc biệt cần lưu ý là về hiệu lực thi hành. Nghị định 203/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Kể từ thời điểm này, Nghị định số 43/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc hết hiệu lực. Đồng thời, Điều 13 Nghị định 184/2025/NĐ-CP cũng hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 203/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật, bởi từ ngày 01/7/2026, khi viện dẫn quy định về quy trình tiêm thuốc độc để thi hành án tử hình, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án và người nghiên cứu pháp luật cần viện dẫn Nghị định 203/2026/NĐ-CP thay cho Nghị định 43/2020/NĐ-CP.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1, khoản 2 Điều 23 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Đối với các quyết định thi hành án tử hình của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng đến thời điểm Nghị định 203/2026/NĐ-CP có hiệu lực mà chưa được thi hành thì áp dụng quy định của Nghị định 203/2026/NĐ-CP. Đây là quy định chuyển tiếp rất đáng chú ý, bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật kể từ ngày nghị định mới có hiệu lực.

Căn cứ pháp lý: Khoản 3 Điều 23 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Từ các căn cứ nêu trên, có thể khẳng định rằng quy định mới nhất năm 2026 về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc được xây dựng trên nền tảng của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 và được cụ thể hóa tại Nghị định 203/2026/NĐ-CP. Khi viết đơn, nghiên cứu hồ sơ, lập báo cáo nghiệp vụ hoặc phân tích pháp lý liên quan đến việc thi hành án tử hình từ ngày 01/7/2026 trở đi, cần ưu tiên viện dẫn trực tiếp Nghị định 203/2026/NĐ-CP cùng các điều khoản tương ứng của Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

2. Quy trình thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc theo Nghị định 203/2026/NĐ-CP

Quy trình thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc theo quy định mới nhất năm 2026 được chia thành các giai đoạn cơ bản: chuẩn bị điều kiện trước khi tiêm; tiến hành tiêm thuốc độc; kiểm tra tình trạng của người bị thi hành án; kết thúc việc tiêm thuốc và lập biên bản theo quy định. Mỗi giai đoạn đều có căn cứ pháp lý cụ thể, bảo đảm việc thi hành án được thực hiện theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự và có sự kiểm soát của các chủ thể có trách nhiệm.

Căn cứ pháp lý: Điều 5, Điều 6, Điều 7 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Trước khi tiêm thuốc độc, việc thi hành án tử hình phải thực hiện đúng quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, quy định của Nghị định 203/2026/NĐ-CP và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Điều này có nghĩa là trước khi thực hiện việc tiêm thuốc, Hội đồng thi hành án tử hình phải kiểm tra các điều kiện pháp lý cần thiết; kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch; thực hiện các thủ tục công bố quyết định; bảo đảm quyền được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án theo quy định.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 5 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình phải được Hội đồng thi hành án tử hình kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản theo quy định. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, kiểm soát chặt chẽ nguồn thuốc, hạn chế sai sót trong khâu sử dụng thuốc. Việc kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản cũng là cơ sở để xác định trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong trường hợp phát sinh vướng mắc hoặc cần kiểm tra hồ sơ thi hành án.

Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 5 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Người bị thi hành án tử hình được cố định vào giường với tư thế nằm ngửa nhưng phải bảo đảm không làm cản trở sự lưu thông máu. Quy định này vừa phục vụ yêu cầu nghiệp vụ để thực hiện quy trình tiêm thuốc, vừa đặt ra giới hạn cần tuân thủ trong việc cố định người bị thi hành án. Việc cố định không được thực hiện tùy tiện, mà phải đáp ứng đúng mục đích của thi hành án và không làm ảnh hưởng đến điều kiện tiêm thuốc theo quy trình.

Căn cứ pháp lý: Khoản 3 Điều 5 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Khi tiến hành tiêm thuốc độc, cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình tiếp nhận 03 liều thuốc từ Hội đồng thi hành án tử hình, trong đó có 02 liều thuốc dự phòng. Quy định này cho thấy Nghị định 203/2026/NĐ-CP dự liệu khả năng phải sử dụng thêm liều thuốc trong trường hợp liều đầu tiên chưa làm người bị thi hành án tử hình chết sau khoảng thời gian kiểm tra theo quy định. Việc tiếp nhận 03 liều thuốc phải được hiểu trong mối liên hệ với quy định về kiểm tra hoạt động tim sau mỗi lần tiêm và thẩm quyền ra lệnh tiếp tục tiêm của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1, khoản 4 Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Quy trình thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc theo quy định mới nhất 2026
Quy trình thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc theo quy định mới nhất 2026

Sau khi tiếp nhận thuốc, cán bộ trực tiếp thi hành án xác định tĩnh mạch của người bị thi hành án tử hình để thực hiện tiêm thuốc độc. Trường hợp không xác định được tĩnh mạch, cán bộ thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để yêu cầu cán bộ y tế hỗ trợ xác định tĩnh mạch. Điểm đáng chú ý ở đây là cán bộ y tế không tự động tham gia vào mọi trường hợp, mà chỉ hỗ trợ xác định tĩnh mạch trong trường hợp cần thiết theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; khoản 4 Điều 18 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Về trình tự tiêm thuốc, cán bộ thi hành án đưa kim tiêm vào tĩnh mạch đã được xác định và nối với đường ống dẫn gắn sẵn vào máy tiêm thuốc. Quy trình tiêm gồm 03 bước: Bước 1 là tiêm thuốc làm mất tri giác; Bước 2 là tiêm thuốc làm liệt hệ vận động; Bước 3 là tiêm thuốc làm ngừng hoạt động của tim. Sau khi tiêm thuốc làm mất tri giác, cán bộ chuyên môn phải kiểm tra; nếu người bị thi hành án tử hình chưa mất tri giác thì tiếp tục tiêm thuốc cho đến khi họ mất tri giác. Quy định này thể hiện yêu cầu chặt chẽ về trình tự sử dụng từng nhóm thuốc và việc kiểm tra trạng thái của người bị thi hành án trước khi chuyển sang bước tiếp theo.

Căn cứ pháp lý: Khoản 3 Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Sau khi tiêm thuốc, hoạt động tim của người bị thi hành án tử hình được kiểm tra qua máy theo dõi điện tim. Nếu sau 10 phút tiêm xong liều thứ nhất mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiêm liều thứ hai. Nếu sau 10 phút tiêm liều thứ hai mà người bị thi hành án tử hình vẫn chưa chết, cán bộ kiểm tra tiếp tục báo cáo Chủ tịch Hội đồng để ra lệnh tiêm liều thứ ba. Trường hợp đã tiêm hết liều thuốc thứ ba, sau 10 phút mà người bị thi hành án chưa chết, Đội trưởng Đội Thi hành án tử hình phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình quyết định tạm dừng thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Khoản 4 Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Việc thực hiện các bước tiêm thuốc có thể được tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trực tiếp. Đây là quy định linh hoạt, cho phép cơ quan thi hành án sử dụng phương tiện, thiết bị phù hợp với điều kiện thực tế, miễn là bảo đảm đúng trình tự, đúng thẩm quyền và đúng yêu cầu kỹ thuật theo quy định. Dù thực hiện tự động hay trực tiếp, các bước tiêm thuốc và kiểm tra sau tiêm vẫn phải tuân thủ đầy đủ Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Căn cứ pháp lý: Khoản 5 Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Khi kết thúc tiêm thuốc độc, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y tiến hành kiểm tra, xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng thi hành án tử hình. Chỉ sau khi bác sĩ pháp y kết luận người bị thi hành án tử hình đã chết, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng, cán bộ thi hành án tử hình mới rút kim tiêm, đường ống dẫn ra khỏi người đã bị thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; điểm d khoản 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Sau khi bác sĩ pháp y kết luận người bị thi hành án đã chết, Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản theo quy định về việc người bị thi hành án tử hình đã chết. Thuốc dự phòng không sử dụng hết thì cán bộ thi hành án tử hình bàn giao lại để bảo quản theo quy định. Như vậy, hồ sơ thi hành án không chỉ ghi nhận việc đã thi hành xong án tử hình, mà còn phải phản ánh đầy đủ quá trình sử dụng thuốc, kết quả kiểm tra và việc xử lý thuốc còn lại.

Căn cứ pháp lý: Khoản 3, khoản 4 Điều 7 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; điểm e khoản 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Tổng thể quy trình trên cho thấy quy định mới năm 2026 nhấn mạnh ba yêu cầu then chốt: đúng pháp luật; đúng quy trình chuyên môn; có kiểm tra, ghi nhận và chịu trách nhiệm ở từng khâu. Đây là điểm cốt lõi khi phân tích về quy trình thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc theo Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

3. Thuốc tiêm, cơ sở vật chất, trang thiết bị và chế độ đối với người tham gia thi hành án tử hình

Một nội dung quan trọng của Nghị định 203/2026/NĐ-CP là quy định về thuốc tiêm, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ thi hành án tử hình. Đây là các điều kiện vật chất, kỹ thuật không thể thiếu để bảo đảm việc thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc được thực hiện đúng quy trình, hạn chế rủi ro nghiệp vụ và bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát.

Căn cứ pháp lý: Chương III Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Theo Điều 8 Nghị định 203/2026/NĐ-CP, thuốc tiêm sử dụng cho thi hành án tử hình bao gồm 03 loại: thuốc làm mất tri giác; thuốc làm liệt hệ vận động; thuốc làm ngừng hoạt động của tim. Một liều thuốc gồm 03 loại thuốc nêu trên và dùng cho 01 người. Quy định này tương ứng với quy trình tiêm thuốc tại Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP, trong đó việc tiêm thuốc được thực hiện lần lượt theo ba bước.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1, khoản 2 Điều 8 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; khoản 3 Điều 6 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình do Bộ Y tế cấp theo đề nghị của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Điều này thể hiện sự phân công trách nhiệm giữa cơ quan quản lý thi hành án và cơ quan chuyên môn về y tế. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng là các cơ quan trực tiếp tổ chức hoặc chỉ đạo tổ chức thi hành án tử hình trong phạm vi quản lý; còn Bộ Y tế có trách nhiệm bảo đảm nguồn cung ứng thuốc, hướng dẫn bảo quản, sử dụng thuốc và phối hợp ban hành danh mục thuốc, liều lượng thuốc, quy trình sử dụng thuốc.

Căn cứ pháp lý: Khoản 3 Điều 8, khoản 1 Điều 18 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Việc bảo quản thuốc phải theo điều kiện ghi trên nhãn liều thuốc và hướng dẫn của đơn vị cung cấp. Việc bàn giao thuốc phải được lập biên bản giao, nhận; niêm phong, quản lý chặt chẽ theo quy định pháp luật. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi thuốc dùng cho thi hành án tử hình là loại thuốc được sử dụng trong một thủ tục thi hành án đặc biệt, đòi hỏi kiểm soát nghiêm ngặt từ khâu cấp phát, bàn giao, mở niêm phong, sử dụng cho đến bàn giao lại thuốc dự phòng không sử dụng hết.

Căn cứ pháp lý: Khoản 4 Điều 8, khoản 2 Điều 5, khoản 4 Điều 7 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Về cơ sở vật chất, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng căn cứ tình hình thực tiễn để đầu tư xây dựng nhà thi hành án tử hình và phòng làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình tại Công an cấp tỉnh, đơn vị quân đội cấp quân khu và tương đương. Quy định này cho thấy địa điểm thi hành án tử hình không phải được lựa chọn tùy ý, mà phải là nơi được đầu tư, tổ chức, bố trí để phục vụ công tác thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 9 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho thi hành án tử hình bao gồm: giường nằm có các đai dùng để cố định người bị thi hành án tử hình; máy tiêm thuốc tự động; máy theo dõi điện tim; màn hình, camera, đầu ghi hình camera và các thiết bị theo dõi, kiểm tra quá trình thi hành án tử hình; các dụng cụ y tế và trang thiết bị hiện đại khác phục vụ cho thi hành án tử hình. Sự hiện diện của camera, đầu ghi hình và thiết bị theo dõi cho thấy quá trình thi hành án phải được kiểm soát, ghi nhận, lưu trữ theo yêu cầu nghiệp vụ và hồ sơ.

Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 9 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; Điều 75 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Bên cạnh thuốc tiêm và thiết bị, Nghị định 203/2026/NĐ-CP còn quy định về chế độ, chính sách đối với người tham gia thi hành án tử hình. Người tham gia Đội Thi hành án tử hình được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng 03 lần mức lương cơ sở khi thi hành án tử hình đối với 01 người và được nghỉ dưỡng 10 ngày theo quy định chung về chế độ nghỉ dưỡng đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Đây là chế độ dành cho nhóm trực tiếp tham gia Đội Thi hành án tử hình, có tính chất công việc đặc biệt, áp lực tâm lý và trách nhiệm nghiệp vụ rất cao.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 3 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Người tham gia Hội đồng thi hành án tử hình, thư ký Hội đồng, cán bộ quản giáo, người ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, phiên dịch, người thực hiện lăn tay người bị thi hành án tử hình, người khâm liệm, giao tử thi, tro cốt hoặc mai táng được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng 01 lần mức lương cơ sở khi thi hành án tử hình đối với 01 người. Trong khi đó, người tham gia bảo đảm an ninh, trật tự; đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã; điều tra viên được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng 1/2 mức lương cơ sở khi thi hành án tử hình đối với 01 người.

Căn cứ pháp lý: Khoản 2, khoản 3 Điều 3 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Chi phí mai táng người đã bị thi hành án tử hình được Nghị định 203/2026/NĐ-CP quy định cụ thể, bao gồm 01 quan tài bằng gỗ thường, 01 bộ quần áo dài, 01 bộ quần áo lót mới, 04 m2 vải liệm, hương, nến, rượu, cồn để làm vệ sinh khi liệm tử thi và các chi phí mai táng khác phù hợp với phong tục địa phương. Quy định này áp dụng trong trường hợp cơ quan thi hành án hình sự tổ chức mai táng người đã bị thi hành án tử hình theo quy định.

Căn cứ pháp lý: Điều 4 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; điểm g khoản 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Có thể thấy, quy định về thuốc tiêm, cơ sở vật chất, trang thiết bị và chế độ cho người tham gia thi hành án tử hình không chỉ mang tính kỹ thuật, mà còn là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp, an toàn, minh bạch và trách nhiệm trong toàn bộ quá trình thi hành án. Khi nghiên cứu về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc, không thể chỉ dừng lại ở trình tự tiêm thuốc, mà cần nhìn toàn diện cả hệ thống điều kiện bảo đảm được quy định tại Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

4. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án tử hình và việc giải quyết sau khi thi hành án

Nghị định 203/2026/NĐ-CP quy định khá chi tiết trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án tử hình, bao gồm hệ thống cơ quan thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, các bộ, ngành trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp. Việc phân định trách nhiệm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi thi hành án tử hình là hoạt động có tính liên ngành, liên quan đến tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, y tế, ngoại giao, tài chính, hộ tịch, an ninh trật tự và mai táng.

Căn cứ pháp lý: Chương IV Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Đối với lực lượng Công an nhân dân, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành án tử hình; chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định pháp luật về thi hành án tử hình cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; phối hợp với cơ quan y tế tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo và tổng kết công tác thi hành án tử hình của Công an nhân dân.

Căn cứ pháp lý: Điều 10 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tham gia Hội đồng thi hành án tử hình; giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, phương án, dự toán kinh phí; phân công nhiệm vụ, tổ chức, điều động, bố trí lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất để bảo đảm tuyệt đối an toàn cho việc tổ chức thi hành án tử hình. Cơ quan này cũng lập Đội Thi hành án tử hình gồm Đội trưởng, bác sĩ pháp y và các tổ áp giải, xác định tĩnh mạch, pha thuốc, ấn nút, điều khiển máy tiêm thuốc.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 11 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Sau khi thi hành án, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện thủ tục giải quyết cho gia đình, người đại diện hợp pháp của người bị thi hành án tử hình nhận tử thi, tro cốt, hài cốt về địa phương mai táng; làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án tử hình; tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ, đặt bia trên mộ và thông báo cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp biết. Nếu người đã bị thi hành án tử hình là người nước ngoài, cơ quan này phối hợp với cơ quan chức năng về ngoại giao, biên phòng, y tế và các cơ quan liên quan để làm thủ tục đưa tử thi, tro cốt, hài cốt ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Căn cứ pháp lý: Khoản 5, khoản 7, khoản 8 Điều 11 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; Điều 78 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Công an cấp xã nơi tổ chức thi hành án tử hình và nơi mai táng có trách nhiệm tham gia bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật xảy ra tại nơi tổ chức thi hành án tử hình và nơi mai táng; thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của Giám đốc Công an cấp tỉnh. Quy định này đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm an toàn, trật tự tại địa phương, nhất là trong các trường hợp có yếu tố phức tạp về an ninh, trật tự hoặc có đông người thân, người liên quan tham gia việc nhận tử thi, tro cốt, hài cốt.

Căn cứ pháp lý: Điều 12 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Trại tạm giam nơi giam giữ người bị kết án tử hình có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện và nơi làm việc theo yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình; bàn giao người chấp hành án tử hình cho Đội Thi hành án tử hình theo yêu cầu của Hội đồng; tổ chức cho người chấp hành án tử hình ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình. Đáng chú ý, người chấp hành án tử hình được ăn, uống với tiêu chuẩn bằng 05 lần tiêu chuẩn của ngày Lễ, Tết quy định đối với người bị tạm giam. Trại tạm giam cũng bàn giao giấy tờ, đồ vật, tài sản, tiền mà người bị thi hành án tử hình gửi lại trong thời gian bị giam giữ cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp nếu có.

Căn cứ pháp lý: Điều 13 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; khoản 3 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Đối với lực lượng Quân đội nhân dân, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành án tử hình trong Quân đội nhân dân; chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định pháp luật; tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo và tổng kết công tác thi hành án tử hình trong Quân đội nhân dân. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tham gia Hội đồng thi hành án tử hình; giúp Tư lệnh cấp quân khu xây dựng kế hoạch, phương án, dự toán kinh phí, phân công nhiệm vụ và tổ chức thi hành án trong phạm vi thẩm quyền.

Căn cứ pháp lý: Điều 14, Điều 15 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án tử hình; ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết; phối hợp với Bộ Quốc phòng; chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện đúng quy định pháp luật; lập dự toán kinh phí; chỉ đạo chế độ báo cáo, thống kê và tổng kết về thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Điều 16 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc trong Quân đội nhân dân; phối hợp với Bộ Công an bảo đảm công tác thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình do Bộ Quốc phòng quản lý; chỉ đạo Bộ Tư lệnh các quân khu, Quân đoàn 34, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng thực hiện đúng quy định pháp luật về thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Điều 17 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Bộ Y tế có trách nhiệm bảo đảm nguồn cung ứng thuốc theo kế hoạch dự trù thuốc hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; hướng dẫn bảo quản, sử dụng thuốc; chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng ban hành danh mục thuốc, liều lượng thuốc, quy trình sử dụng thuốc; chỉ đạo cơ quan nghiệp vụ, bệnh viện, cơ sở đào tạo y tế phối hợp đào tạo, tập huấn nghiệp vụ kỹ thuật chuyên ngành y tế; chỉ đạo bệnh viện cử cán bộ y tế hỗ trợ xác định tĩnh mạch trong trường hợp cần thiết và tiếp nhận, bảo quản tử thi khi cơ quan thi hành án hình sự chuyển đến.

Căn cứ pháp lý: Điều 18 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Bộ Ngoại giao tiếp nhận và chuyển thông tin đến các cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam để giải quyết thủ tục liên quan đối với người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài. Bộ Tài chính làm thủ tục thông quan đối với tử thi, tro cốt, hài cốt của người đã bị thi hành án tử hình là người nước ngoài và bố trí dự toán ngân sách hằng năm cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan để thực hiện thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.

Căn cứ pháp lý: Điều 19, Điều 20 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; khoản 1, khoản 7 Điều 78 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bố trí dự toán ngân sách hằng năm cho các sở, ban, ngành địa phương để bảo đảm chế độ, chính sách đối với người tham gia thi hành án tử hình; cấp đất để xây dựng địa điểm thi hành án tử hình; chỉ định nơi mai táng người đã bị thi hành án tử hình; chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan liên quan phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn cho việc thi hành án tử hình.

Căn cứ pháp lý: Điều 21 Nghị định 203/2026/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức thi hành án tử hình có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự nơi thi hành án; cử đại diện chứng kiến việc thi hành án tử hình; thực hiện thủ tục đăng ký khai tử cho người đã bị thi hành án tử hình; phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ. Trường hợp gia đình hoặc người đại diện hợp pháp được nhận tử thi, tro cốt, hài cốt đưa về mai táng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường.

Căn cứ pháp lý: Điều 22 Nghị định 203/2026/NĐ-CP; điểm e, điểm g khoản 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Riêng về việc xin nhận tử thi, tro cốt, hài cốt của người bị thi hành án tử hình, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải thông báo cho gia đình hoặc người đại diện biết. Nếu có nguyện vọng nhận tử thi về mai táng, gia đình hoặc người đại diện phải có đơn xin trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Đơn phải ghi rõ thông tin người nhận, quan hệ với người bị thi hành án và cam kết bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, tự chịu chi phí.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 78 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn xin nhận tử thi về mai táng, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận. Nếu không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do. Trường hợp đã chấp nhận nhưng trong quá trình triển khai thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình xét thấy việc cho nhận tử thi không bảo đảm an ninh, trật tự thì có quyền quyết định không cho nhận và giao cơ quan thi hành án hình sự tổ chức mai táng.

Căn cứ pháp lý: Khoản 2, khoản 4 Điều 78 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Trường hợp được nhận tử thi, việc giao, nhận tử thi phải được thực hiện trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thông báo và phải lập thành văn bản có chữ ký của bên giao, bên nhận. Nếu hết thời hạn mà người có đơn đề nghị không đến nhận tử thi thì cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm mai táng. Nếu gia đình hoặc người đại diện muốn nhận tro cốt và tự chịu chi phí hỏa táng, cơ quan thi hành án hình sự bàn giao tử thi và hỗ trợ đưa tử thi về nơi hỏa táng. Nếu cơ quan thi hành án hình sự tổ chức mai táng, sau 03 năm kể từ ngày thi hành án, gia đình hoặc người đại diện có thể làm đơn đề nghị nhận hài cốt theo quy định.

Căn cứ pháp lý: Khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 78 Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Như vậy, trách nhiệm của các cơ quan trong thi hành án tử hình không kết thúc ngay sau khi người bị thi hành án tử hình chết, mà còn kéo dài đến các thủ tục lập biên bản, báo cáo kết quả, khai tử, bảo quản tử thi, giao nhận tử thi hoặc tro cốt, tổ chức mai táng, quản lý mộ và giải quyết các vấn đề liên quan đến người nước ngoài nếu có. Đây là điểm rất quan trọng cần được thể hiện đầy đủ khi phân tích quy định mới nhất về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc năm 2026.

Kết luận

Thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc theo quy định mới nhất 2026 được điều chỉnh trọng tâm bởi Luật Thi hành án hình sự năm 2025 và Nghị định 203/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Quy định mới tiếp tục xác định tiêm thuốc độc là hình thức thi hành án tử hình; đồng thời cụ thể hóa toàn bộ quy trình từ chuẩn bị điều kiện, kiểm tra thuốc, cố định người bị thi hành án, xác định tĩnh mạch, tiêm 03 nhóm thuốc, kiểm tra điện tim, xác định tình trạng chết, lập biên bản, bàn giao thuốc dự phòng, cho đến trách nhiệm của từng cơ quan trong khai tử, mai táng, giao nhận tử thi, tro cốt, hài cốt. Khi áp dụng hoặc viện dẫn pháp luật từ ngày 01/7/2026 trở đi, cần đặc biệt lưu ý Nghị định 203/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 43/2020/NĐ-CP và áp dụng cả đối với các quyết định thi hành án tử hình đã có hiệu lực nhưng chưa được thi hành tại thời điểm nghị định mới có hiệu lực.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?

Đã có 932 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!

Phản hồi

  1. Hiya very nice site!! Man .. Beautiful .. Superb .. I will bookmark your website and take the feeds also…I’m happy to find numerous useful info right here within the put up, we need work out more techniques on this regard, thank you for sharing.

  2. Hello my family member! I wish to say that this article is awesome, great written and include almost all significant infos. I would like to peer more posts like this.