Nội dung chính của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 tập trung vào việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quy định hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt tôn giáo, tổ chức tôn giáo, quản lý tài sản và trách nhiệm của cơ quan nhà nước. Đặc biệt, Luật số 07/2026/QH16 có nhiều thay đổi quan trọng về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, phân cấp thẩm quyền quản lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính và bổ sung những biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn. Được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, đạo luật gồm 9 chương, 61 điều, thay thế Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Dưới đây là những nội dung cơ bản và đáng chú ý nhất của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026.
- 1. Phạm vi điều chỉnh và những nguyên tắc cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo
- 2. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
- 3. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam
- 4. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
- 5. Lần đầu quy định hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
- 6. Quy định về người đại diện, ban quản lý và hoạt động tại cơ sở tín ngưỡng
- 7. Quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng và quản lý nguồn thu
- 8. Điều kiện đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và hoạt động tôn giáo
- 9. Điều kiện công nhận, tổ chức lại và giải thể tổ chức tôn giáo
- 10. Quy định về chức sắc, chức việc, nhà tu hành và cơ sở đào tạo tôn giáo
- 11. Hoạt động tôn giáo, hội nghị, đại hội và giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo
- 12. Hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài và hợp tác quốc tế
- 13. Hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, từ thiện và nhân đạo của tổ chức tôn giáo
- 14. Quy định về tài sản, đất tín ngưỡng, đất tôn giáo và công trình tín ngưỡng, tôn giáo
- 15. Phân quyền, phân cấp và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
- 16. Quản lý nhà nước, kiểm tra chuyên ngành và giải quyết khiếu nại, tố cáo
- 17. Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026
- Kết luận
1. Phạm vi điều chỉnh và những nguyên tắc cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo
Phạm vi điều chỉnh và các nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được quy định tại Chương I của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026.
Theo Điều 1, Luật quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo và quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 2 tiếp tục giải thích những thuật ngữ quan trọng như tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo và các khái niệm liên quan. Đáng chú ý, Luật bổ sung khái niệm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, làm cơ sở pháp lý điều chỉnh những hoạt động phát sinh trong môi trường số.
Điều 3 quy định các nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác.
Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khuyến khích phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tích cực và nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Đây là những nguyên tắc nền tảng để xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, đồng thời làm cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục là nội dung trung tâm của Luật năm 2026, được quy định tại Chương II, từ Điều 9 đến Điều 13.
Theo Điều 9, mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Quyền này bao gồm việc bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.
Mỗi người cũng có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên, việc vào tu, học tập tại các cơ sở hoặc lớp bồi dưỡng tôn giáo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Luật đồng thời ghi nhận quyền thực hiện lễ nghi, giảng đạo và truyền đạo của chức sắc, chức việc, nhà tu hành tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.
Đáng chú ý, pháp luật tiếp tục bảo đảm một số quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện ma túy. Những người này có quyền sử dụng kinh sách và bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định.
Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ dành cho những người đang theo một tôn giáo nhất định, mà còn bao gồm quyền không theo tôn giáo, quyền thay đổi niềm tin và quyền thực hành tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi pháp luật cho phép.
3. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam
Điều 10 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Theo đó, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời được thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo điều kiện luật định.
Những quyền quan trọng bao gồm:
- Sinh hoạt tôn giáo và tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
- Sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung.
- Mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi hoặc giảng đạo.
- Mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo theo quy định.
- Vào tu hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.
- Mang theo xuất bản phẩm, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cá nhân.
Luật cũng ghi nhận quyền giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam của chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp.
Những quy định này tạo cơ sở để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài, đồng thời xác định những yêu cầu cần tuân thủ khi tổ chức sinh hoạt tôn giáo tập trung hoặc thực hiện các hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài.
4. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 7 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 quy định những hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ngăn ngừa việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Theo đó, pháp luật nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo.
Đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Luật cấm những hành vi xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.
Luật cũng nghiêm cấm việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo hoặc chia rẽ giữa những người theo và không theo tín ngưỡng, tôn giáo.
Một điểm mới đáng chú ý là khoản 6 Điều 7 bổ sung quy định nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Quy định này phản ánh sự thay đổi của môi trường hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo khi nhiều hoạt động giảng đạo, truyền bá thông tin và kết nối cộng đồng đã chuyển sang môi trường trực tuyến.
5. Lần đầu quy định hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là một trong những điểm mới nổi bật nhất của Luật năm 2026, được quy định tại Điều 8.
Trước đây, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa xây dựng khuôn khổ pháp lý riêng cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Trong khi đó, sự phát triển của Internet, mạng xã hội, nền tảng phát trực tuyến và trí tuệ nhân tạo đã làm xuất hiện nhiều hình thức sinh hoạt, giảng đạo, phổ biến giáo lý và tương tác tôn giáo mới.
Luật năm 2026 xác định rằng khi tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, các chủ thể thuộc trường hợp luật quy định phải thực hiện nghĩa vụ thông báo, đăng ký hoặc đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tương ứng với loại hoạt động được tổ chức. Điều này không có nghĩa mọi bài viết hoặc mọi hành vi bày tỏ niềm tin tôn giáo của cá nhân trên mạng đều phải đăng ký.
Bên cạnh trách nhiệm của người tổ chức hoạt động, Luật còn xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm.
Các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm triển khai giải pháp kỹ thuật và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để gỡ bỏ, ngăn chặn nội dung vi phạm. Doanh nghiệp có mạng viễn thông thực hiện việc ngăn chặn truy cập đối với nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy định này nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong môi trường số, đồng thời ngăn ngừa những hành vi lợi dụng mạng xã hội, công nghệ mới hoặc trí tuệ nhân tạo để vi phạm pháp luật.
6. Quy định về người đại diện, ban quản lý và hoạt động tại cơ sở tín ngưỡng
Chương III của Luật quy định về hoạt động tín ngưỡng, trong đó Điều 14 và Điều 15 có nhiều nội dung quan trọng liên quan đến người đại diện, ban quản lý và việc tổ chức hoạt động tại cơ sở tín ngưỡng.
Theo Điều 14, cơ sở tín ngưỡng phải có người đại diện hoặc ban quản lý chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hoạt động diễn ra tại cơ sở. Người đại diện hoặc thành viên ban quản lý phải đáp ứng các điều kiện về quốc tịch, cư trú, năng lực hành vi dân sự, uy tín và những điều kiện khác theo quy định.
Đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã, phường, đặc khu, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý. Đối với cơ sở tín ngưỡng nằm trên địa bàn nhiều đơn vị hành chính cấp xã trong cùng một tỉnh, thành phố, thẩm quyền tương ứng thuộc cấp tỉnh.
Đáng chú ý, Luật có quy định riêng đối với nhà thờ dòng họ. Việc bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý nhà thờ dòng họ không phải thực hiện theo cơ chế tổ chức bầu, cử và công nhận tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 14.
Điều 15 còn quy định hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng phải được thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi thực hiện, trừ hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng là nhà thờ dòng họ.
Đối với hoạt động tín ngưỡng thông thường tại cơ sở tín ngưỡng, việc thông báo hoạt động hằng năm được thực hiện theo cơ chế thông báo một lần, trừ những hoạt động thuộc trường hợp phải thông báo bổ sung hoặc áp dụng thủ tục riêng.
Bên cạnh đó, Luật xác lập khung pháp lý đối với hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng. Những hoạt động có tính chất phức tạp, quy mô lớn thuộc trường hợp luật quy định phải thực hiện đăng ký với cơ quan có thẩm quyền.
Các quy định này góp phần phân biệt rõ hơn hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, hoạt động tại nhà thờ dòng họ và hoạt động tổ chức ở địa điểm khác.
7. Quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng và quản lý nguồn thu
Lễ hội tín ngưỡng là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa, tinh thần quan trọng của cộng đồng dân cư, được điều chỉnh tại các Điều 16, 17 và 18.
Luật phân biệt giữa lễ hội tín ngưỡng được tổ chức định kỳ với lễ hội tổ chức lần đầu, được khôi phục sau thời gian gián đoạn hoặc có sự thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm.
Theo Điều 16, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ chậm nhất 20 ngày trước ngày tổ chức, theo thẩm quyền được phân định giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp tỉnh.
Đối với lễ hội tổ chức lần đầu, lễ hội được khôi phục hoặc lễ hội định kỳ có thay đổi thuộc phạm vi Điều 17, việc tổ chức phải thực hiện đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trừ các trường hợp được điều chỉnh theo pháp luật về di sản văn hóa như Luật đã quy định.
Điều 18 quy định về việc quản lý và sử dụng các khoản thu từ lễ hội tín ngưỡng. Theo đó, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai và minh bạch các khoản thu.
Chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc lễ hội, người đại diện hoặc ban quản lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về khoản thu và mục đích sử dụng đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Những quy định này nhằm bảo đảm hoạt động lễ hội được tổ chức đúng pháp luật, giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tăng cường tính minh bạch trong việc quản lý các nguồn tài chính phát sinh từ hoạt động tín ngưỡng.
8. Điều kiện đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và hoạt động tôn giáo
Chương IV, gồm Điều 19 và Điều 20, quy định về đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và đăng ký hoạt động tôn giáo.
Theo Điều 19, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo hoặc những người theo tôn giáo thuộc trường hợp luật định có thể đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung khi đáp ứng các điều kiện tương ứng.
Những điều kiện quan trọng bao gồm có địa điểm hợp pháp để sinh hoạt, người đại diện đáp ứng điều kiện theo quy định, tên nhóm phù hợp và nội dung sinh hoạt không thuộc các hành vi bị nghiêm cấm.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi dự kiến đặt địa điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung là cơ quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với việc đăng ký theo Điều 19.
Luật cũng bổ sung cơ chế về hiệu lực và thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký. Theo đó, nếu nhóm đã được chấp thuận nhưng trong thời hạn 6 tháng không tổ chức sinh hoạt tôn giáo thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.
Đối với đăng ký hoạt động tôn giáo theo Điều 20, tổ chức phải đáp ứng điều kiện về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động, tên gọi, người đại diện và địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở.
Thẩm quyền cấp chứng nhận được phân định theo địa bàn hoạt động. Nếu tổ chức hoạt động trong một tỉnh, thành phố thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết; nếu hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố thì thẩm quyền thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Cách quy định này giúp xác định rõ điều kiện và thẩm quyền quản lý đối với các nhóm sinh hoạt tôn giáo cũng như các tổ chức bắt đầu hoạt động tôn giáo.
9. Điều kiện công nhận, tổ chức lại và giải thể tổ chức tôn giáo
Chương V của Luật quy định về tổ chức tôn giáo, trong đó có điều kiện công nhận, cơ cấu tổ chức, tổ chức lại và giải thể.
Theo Điều 21, tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được xem xét công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng các điều kiện luật định.
Một điều kiện quan trọng là tổ chức phải hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 5 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
Ngoài ra, tổ chức phải có hiến chương, cơ cấu tổ chức phù hợp, người đại diện đáp ứng điều kiện pháp luật, có tài sản độc lập và có khả năng nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Đối với thẩm quyền công nhận, Luật phân biệt giữa tổ chức có địa bàn hoạt động trong một tỉnh, thành phố và tổ chức hoạt động trên nhiều tỉnh, thành phố. Tương ứng, thẩm quyền được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Luật cũng quy định về thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất và giải thể tổ chức tôn giáo trực thuộc, đồng thời xác định vai trò của hiến chương và trách nhiệm của tổ chức khi thực hiện các thay đổi về cơ cấu tổ chức.
Những quy định này tạo cơ sở để tổ chức tôn giáo hoạt động ổn định, chủ động tổ chức bộ máy theo hiến chương nhưng vẫn phải đáp ứng những yêu cầu pháp lý về đăng ký, công nhận và quản lý nhà nước.
10. Quy định về chức sắc, chức việc, nhà tu hành và cơ sở đào tạo tôn giáo
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 tiếp tục quy định về phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc và hoạt động đào tạo tôn giáo.
Các nội dung này được quy định chủ yếu từ Điều 29 đến Điều 38.
Theo Điều 29, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thực hiện việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử theo hiến chương của tổ chức tôn giáo, đồng thời người được lựa chọn phải đáp ứng điều kiện pháp luật quy định.
Luật phân biệt các hoạt động phải thông báo với những hoạt động phải đăng ký, tương ứng với tính chất của chức danh và phạm vi hoạt động. Chẳng hạn, Điều 30 quy định về thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc; Điều 31 quy định về đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc.
Bên cạnh đó, Luật bổ sung biện pháp quản lý nhà nước đối với việc đình chỉ chức vụ của chức việc theo trường hợp luật định.
Đối với cơ sở đào tạo tôn giáo, Điều 34 và Điều 35 quy định những nội dung về điều kiện thành lập, trình độ đào tạo, hình thức đào tạo và phương thức đào tạo.
Việc hoàn thiện quy định về đào tạo giúp tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho hoạt động bồi dưỡng, đào tạo người hoạt động tôn giáo, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý và chất lượng hoạt động của cơ sở đào tạo.
11. Hoạt động tôn giáo, hội nghị, đại hội và giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo
Các Điều 39 đến Điều 42 quy định những hoạt động tôn giáo thường xuyên như thông báo danh mục hoạt động, tổ chức hội nghị, đại hội, cuộc lễ và giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo.
Một thay đổi có ý nghĩa thực tiễn lớn nằm tại Điều 39 về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm.
Theo đó, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thực hiện thông báo bằng văn bản về danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm. Việc thông báo danh mục được thực hiện một lần, thay vì phải thông báo lại theo chu kỳ hằng năm như cơ chế cũ.
Khi phát sinh hoạt động không nằm trong danh mục đã thông báo, tổ chức phải thực hiện thông báo bổ sung theo quy định, trong đó có thời hạn chậm nhất 20 ngày trước ngày diễn ra hoạt động.
Điều 40 và Điều 41 quy định về hội nghị, hội thảo, đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
Đối với cuộc lễ hoặc hoạt động giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký, Điều 42 quy định nghĩa vụ đăng ký và thẩm quyền giải quyết tương ứng với phạm vi tổ chức hoạt động.
Những quy định này giúp phân biệt rõ hoạt động tôn giáo thường xuyên đã thông báo với hoạt động phát sinh ngoài danh mục hoặc ngoài địa điểm đã đăng ký, qua đó giảm thủ tục lặp lại nhưng vẫn bảo đảm cơ sở quản lý những hoạt động có tính chất đặc biệt.
12. Hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài và hợp tác quốc tế
Các Điều 43 đến Điều 49 quy định về hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài, bao gồm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài, mời chức sắc nước ngoài, đào tạo tôn giáo và quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo.
Theo Điều 43, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung khi đáp ứng các điều kiện về giáo lý, nội dung sinh hoạt, địa điểm và người đại diện. Thẩm quyền giải quyết thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định.
Điều 44 quy định về việc mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động tôn giáo hoặc hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo. Thẩm quyền được phân định giữa cấp tỉnh và Bộ Dân tộc và Tôn giáo tùy phạm vi, tính chất hoạt động.
Ngoài ra, Luật còn quy định về người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; việc cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tham gia hoạt động hoặc đào tạo tôn giáo ở nước ngoài; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài và gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài.
Những quy định này tạo hành lang pháp lý cho giao lưu và hợp tác tôn giáo quốc tế, đồng thời bảo đảm hoạt động có yếu tố nước ngoài phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của quốc gia có liên quan.
13. Hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, từ thiện và nhân đạo của tổ chức tôn giáo
Luật năm 2026 tiếp tục ghi nhận vai trò xã hội của các tổ chức tôn giáo, đặc biệt trong những lĩnh vực gắn với văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội.
Theo Điều 50, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thực hiện việc xuất bản kinh sách, xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo, đồ dùng tôn giáo theo pháp luật có liên quan.
Điều 51 quy định tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc được tham gia hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện và nhân đạo theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy Nhà nước không chỉ ghi nhận quyền sinh hoạt và thực hành tôn giáo mà còn tạo điều kiện để những tổ chức tôn giáo phát huy giá trị đạo đức, văn hóa và nguồn lực xã hội trong hoạt động phục vụ cộng đồng.
Tuy nhiên, khi thực hiện những hoạt động này, tổ chức tôn giáo vẫn phải đáp ứng điều kiện của pháp luật chuyên ngành tương ứng như giáo dục, khám bệnh, chữa bệnh, xuất bản hoặc bảo trợ xã hội.
14. Quy định về tài sản, đất tín ngưỡng, đất tôn giáo và công trình tín ngưỡng, tôn giáo
Tài sản và đất đai của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo là nhóm nội dung quan trọng được quy định tại Chương VII, từ Điều 52 đến Điều 55.
Theo Điều 52, tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng và tổ chức tôn giáo có thể hình thành từ đóng góp của thành viên, quyên góp, tặng cho hoặc các nguồn hợp pháp khác.
Các tài sản này phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch và phù hợp với pháp luật.
Đáng chú ý, Luật xác định cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo được hình thành theo tập quán, do thành viên cộng đồng dân cư cùng đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc hình thành từ nguồn hợp pháp khác nhằm phục vụ nhu cầu chung là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng dân cư theo điều kiện luật định.
Quy định này có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể quản lý, sử dụng và quyền đối với tài sản, nhất là đối với những cơ sở tín ngưỡng truyền thống được nhiều thế hệ cộng đồng đóng góp xây dựng.
Đối với đất đai, Điều 53 quy định đất tín ngưỡng, đất tôn giáo được quản lý và sử dụng theo pháp luật về đất đai. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào Luật Tín ngưỡng, tôn giáo để xác định toàn bộ quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp hoặc thực hiện giao dịch đối với quyền sử dụng đất.
Điều 54 tiếp tục xác định việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo và công trình phụ trợ phải tuân thủ pháp luật về xây dựng và pháp luật có liên quan. Đối với cơ sở là di tích, việc bảo quản, tu bổ và phục hồi còn phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật về di sản văn hóa.
Điều 55 quy định việc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội hoặc lợi ích quốc gia, công cộng phải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Như vậy, Luật năm 2026 tiếp tục xác lập mối liên hệ giữa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với chế độ sở hữu tài sản, pháp luật đất đai, xây dựng và di sản văn hóa.
15. Phân quyền, phân cấp và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Phân quyền, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính là hai trong bốn nhóm chính sách mới quan trọng nhất của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026.
Nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Luật phân định lại thẩm quyền quản lý nhà nước giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã.
Một số nhiệm vụ trước đây thuộc thẩm quyền của cơ quan trung ương được chuyển cho cấp tỉnh; những nhiệm vụ từng do cấp huyện giải quyết được phân định lại giữa cấp tỉnh và cấp xã.
Theo các quy định tại Chương VIII, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước; Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Bên cạnh việc phân cấp, Luật còn sửa đổi nhiều thủ tục theo hướng giảm cơ chế xin chấp thuận trước và tăng cường cơ chế thông báo, đăng ký, hậu kiểm.
Theo tài liệu giới thiệu Luật của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, những thay đổi đáng chú ý gồm:
- Sửa đổi, bổ sung 7 thủ tục hành chính, trong đó có các thủ tục chuyển hướng quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm hoặc thay đổi từ đề nghị sang đăng ký.
- Chuyển 3 thủ tục từ đăng ký sang thông báo.
- Lược bỏ nhiều quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thời hạn khỏi Luật và giao Chính phủ quy định để thuận lợi trong điều chỉnh, cải cách.
- Cắt giảm thành phần hồ sơ, trong đó có yêu cầu về phiếu lý lịch tư pháp đối với những thủ tục liên quan.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tiếp nhận, xử lý và quản lý thủ tục hành chính.
Việc phân cấp giúp rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan giải quyết và người thực hiện thủ tục, đặc biệt đối với những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chủ yếu diễn ra trong phạm vi một địa phương.
Đồng thời, chuyển từ cơ chế quản lý nặng về tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm giúp giảm thủ tục không cần thiết nhưng vẫn duy trì trách nhiệm kiểm tra, xử lý vi phạm và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tuân thủ pháp luật.
16. Quản lý nhà nước, kiểm tra chuyên ngành và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Chương VIII, từ Điều 56 đến Điều 59, quy định về nội dung và thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo Điều 56, hoạt động quản lý nhà nước bao gồm xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn chuyên môn; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và thực hiện các hoạt động quản lý khác theo quy định.
Điều 58 bổ sung, hoàn thiện quy định về kiểm tra chuyên ngành tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này.
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành trong phạm vi cả nước. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền kiểm tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của cấp mình theo quy định.
Điều 59 quy định về quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo đó, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và những chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, vụ án dân sự hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo pháp luật.
Cá nhân cũng có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Những quy định này góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền hợp pháp của các chủ thể, đồng thời nâng cao trách nhiệm và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.
17. Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026
Theo Điều 60, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Kể từ thời điểm này, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14, đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 84/2025/QH15, hết hiệu lực thi hành, trừ những trường hợp được quy định tại Điều 61.
Điều 61 quy định về điều khoản chuyển tiếp, nhằm bảo đảm việc triển khai đạo luật mới không làm gián đoạn những thủ tục và hoạt động hợp pháp đã được thực hiện trước đó.
Một trong những nội dung quan trọng là hồ sơ thủ tục hành chính đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật mới có hiệu lực thì tiếp tục được giải quyết theo Luật năm 2016 đã được sửa đổi, bổ sung và những quy định pháp luật có liên quan.
Đối với tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trước ngày 01/01/2027, thời gian hoạt động để xem xét công nhận tổ chức tôn giáo theo Điều 21 được tính từ thời điểm tổ chức đã được cấp chứng nhận, không phải tính lại từ ngày Luật mới có hiệu lực.
Luật cũng quy định thời hạn chuyển tiếp đối với những tổ chức, cơ sở tín ngưỡng chưa thực hiện việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hoặc hoạt động tín ngưỡng theo quy định trước đây.
Đặc biệt, Điều 60 giao Chính phủ quy định chi tiết nhiều điều khoản của Luật và các biện pháp tổ chức thi hành. Vì vậy, khi nghiên cứu thủ tục hành chính cụ thể như đăng ký sinh hoạt tôn giáo, tổ chức lễ hội, thành lập tổ chức tôn giáo hoặc hoạt động tôn giáo trên không gian mạng, cần đồng thời đối chiếu với nghị định quy định chi tiết và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện thủ tục.
Kết luận
Nội dung chính của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 thể hiện sự kế thừa và hoàn thiện những quy định về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời bổ sung những cơ chế quản lý phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội và yêu cầu cải cách hành chính. Luật số 07/2026/QH16 tiếp tục khẳng định quyền theo hoặc không theo tôn giáo của mọi người; hoàn thiện quy định về cơ sở tín ngưỡng, lễ hội, sinh hoạt tôn giáo tập trung, tổ chức tôn giáo, tài sản, đất đai và hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt, việc lần đầu thiết lập khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phân quyền, phân cấp cho chính quyền địa phương; giảm thủ tục hành chính và tăng cường chuyển đổi số là những thay đổi nổi bật. Có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, Luật được kỳ vọng sẽ tạo môi trường pháp lý minh bạch hơn, bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.


Để lại một phản hồi