Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 không chỉ tập trung vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ mà còn mở rộng sang đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển thị trường công nghệ. Với 7 chương, 73 điều, Luật số 93/2025/QH15 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam, từ cơ chế quản lý thiên về thủ tục sang đề cao quyền tự chủ, hiệu quả đầu ra, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và khuyến khích doanh nghiệp tham gia đổi mới sáng tạo. Dưới đây là những nội dung cơ bản, quan trọng nhất của đạo luật được hệ thống hóa theo từng nhóm chính sách để giúp người đọc dễ dàng nghiên cứu, nắm bắt và vận dụng.
- 1. Mở rộng phạm vi điều chỉnh sang hoạt động đổi mới sáng tạo
- 2. Xác lập các nguyên tắc và chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
- 3. Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước theo hướng phân cấp, giảm thủ tục hành chính
- 4. Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- 5. Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và thử nghiệm có kiểm soát
- 6. Đổi mới cơ chế sở hữu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
- 7. Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo
- 8. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đầu tư mạo hiểm
- 9. Phát triển tổ chức khoa học và công nghệ, tăng quyền tự chủ cho tổ chức công lập
- 10. Chính sách phát triển nguồn nhân lực, thu hút và trọng dụng nhân tài
- 11. Đầu tư phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý
- 12. Đổi mới cơ chế đầu tư, tài chính và sử dụng ngân sách nhà nước
- 13. Hội nhập và hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
- 14. Tăng cường liêm chính khoa học, trách nhiệm và các hành vi bị nghiêm cấm
- 15. Hiệu lực thi hành và các quy định chuyển tiếp
- Kết luận
1. Mở rộng phạm vi điều chỉnh sang hoạt động đổi mới sáng tạo
Một trong những thay đổi căn bản của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 là mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, không chỉ điều chỉnh hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mà còn bao gồm các hoạt động đổi mới sáng tạo.
Theo Điều 1, Luật quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; các chính sách và biện pháp bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Điều 3 giải thích đổi mới sáng tạo là hoạt động tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với những sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có.
Điều này có ý nghĩa rất lớn bởi đổi mới sáng tạo không nhất thiết chỉ xuất phát từ những công trình nghiên cứu khoa học phức tạp. Một doanh nghiệp cải tiến đáng kể quy trình sản xuất, xây dựng mô hình kinh doanh mới hoặc ứng dụng công nghệ để tạo ra dịch vụ mới cũng có thể thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo.
Phạm vi hoạt động được Luật ghi nhận tương đối rộng, bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, sản xuất thử nghiệm, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ có liên quan.
Như vậy, đối tượng mà Luật hướng tới không còn chủ yếu là viện nghiên cứu, trường đại học và nhà khoa học, mà mở rộng đến doanh nghiệp, tổ chức ngoài công lập, cá nhân và những chủ thể tham gia hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
2. Xác lập các nguyên tắc và chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Các Điều 5 và 6 của Luật quy định những nguyên tắc và định hướng chính sách làm cơ sở cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
Luật đặc biệt nhấn mạnh việc lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, đồng thời phát huy vai trò của các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và cơ quan nhà nước trong nghiên cứu, đào tạo, hỗ trợ, kết nối và tạo lập môi trường thuận lợi.
Những định hướng quan trọng khác bao gồm ưu tiên phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ có khả năng tạo đột phá; tăng cường đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; phát triển nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Điểm đáng chú ý là khoa học và công nghệ được nhìn nhận không chỉ qua số lượng đề tài, công trình hay sản phẩm nghiên cứu, mà còn thông qua khả năng tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và những đóng góp cụ thể cho đời sống.
Đây là cơ sở để đổi mới cách Nhà nước đầu tư, quản lý và đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước theo hướng phân cấp, giảm thủ tục hành chính
Đổi mới phương thức quản lý nhà nước là một trong những nội dung quan trọng nhất của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025.
Theo các quy định tại Chương II, hoạt động quản lý được tổ chức theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, trao quyền chủ động cho các cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; đồng thời chú trọng việc giám sát, đánh giá kết quả và hiệu quả đầu ra.
Một thay đổi quan trọng là chuyển từ tư duy quản lý quá trình nghiên cứu một cách chi tiết sang quản lý mục tiêu, kết quả và trách nhiệm giải trình. Thay vì can thiệp quá sâu vào từng công đoạn chuyên môn, cơ quan quản lý tập trung vào nhiệm vụ được giao, nguồn lực sử dụng, kết quả đạt được và tác động thực tế.
Điều 16 quy định về nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, trong đó cho phép áp dụng các hình thức xét tài trợ, tuyển chọn hoặc giao trực tiếp theo điều kiện luật định. Những nhiệm vụ mang tính cấp bách, liên quan đến bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh hoặc chỉ có một tổ chức đủ điều kiện thực hiện có thể được xem xét giao trực tiếp.
Luật cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. So với Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, nhiều thủ tục trước đây liên quan đến đăng ký hoạt động, quản lý nhiệm vụ và giao quyền đối với kết quả nghiên cứu được cắt giảm hoặc thay đổi cơ chế thực hiện.
Đáng chú ý, Luật bỏ yêu cầu đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ theo cơ chế cũ đối với tổ chức nhưng vẫn duy trì những quy định cần thiết về việc thành lập, công nhận các loại hình tổ chức và điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ.
Mục tiêu của những thay đổi này là giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và tạo điều kiện để các chủ thể tập trung nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4. Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Chương III của Luật, từ Điều 29 đến Điều 33, quy định các nội dung liên quan đến nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn.
Luật tiếp tục phân biệt nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ. Trong đó, nghiên cứu cơ bản hướng đến khám phá bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng; nghiên cứu ứng dụng sử dụng tri thức khoa học để giải quyết những vấn đề thực tế; còn phát triển công nghệ nhằm tạo ra hoặc cải tiến công nghệ thông qua thiết kế, thử nghiệm và hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật.
Một định hướng quan trọng tại Điều 29 là phát huy vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trong nghiên cứu cơ bản, gắn kết hoạt động nghiên cứu với đào tạo nhân lực khoa học, đồng thời bảo đảm sự phát triển cân đối giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật với khoa học xã hội và nhân văn.
Bên cạnh đó, Luật quan tâm đến việc phát triển những công nghệ có khả năng tạo đột phá, công nghệ chiến lược và công nghệ phục vụ các nhiệm vụ quan trọng của quốc gia.
Hoạt động nghiên cứu không chỉ được thực hiện trong phạm vi phòng thí nghiệm mà còn phải tạo điều kiện cho chuyển giao, ứng dụng và phát triển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có giá trị thực tiễn.
Điều 33 còn ghi nhận chính sách ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ phục vụ việc chuẩn bị, triển khai và giải quyết những vấn đề phát sinh trong các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế – xã hội sử dụng ngân sách nhà nước.
Như vậy, Luật hướng tới xây dựng mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu khoa học – phát triển công nghệ – ứng dụng – phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.
5. Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và thử nghiệm có kiểm soát
Đây được xem là một trong những điểm mới mang tính đột phá của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025.
Theo Điều 9, pháp luật ghi nhận việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, với điều kiện phải tuân thủ quy định và có biện pháp quản trị rủi ro phù hợp.
Đặc thù của nghiên cứu khoa học là không thể bảo đảm mọi nhiệm vụ đều thành công. Một đề tài có thể được thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình, sử dụng kinh phí đúng mục đích nhưng vẫn không đạt được kết quả dự kiến do những yếu tố khách quan hoặc giới hạn của tri thức, công nghệ tại thời điểm nghiên cứu.
Theo cơ chế mới, trong những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu có thể được miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước, loại trừ trách nhiệm hành chính hoặc không phải hoàn trả kinh phí đã sử dụng đúng mục tiêu, phạm vi, dù kết quả nhiệm vụ không đạt mục tiêu đề ra. Vấn đề loại trừ trách nhiệm hình sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Một nội dung đáng chú ý khác là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được quy định từ Điều 21 đến Điều 23.
Cơ chế này cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho tổ chức, doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ, quy trình, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới mà pháp luật chưa có quy định hoặc có nội dung khác với quy định hiện hành, trong phạm vi và điều kiện được kiểm soát.
Thời hạn thử nghiệm được xác định theo đề xuất và quyết định có thẩm quyền, không quá 3 năm và có thể gia hạn một lần không quá 3 năm.
Dù thừa nhận rủi ro, Luật không cho phép tổ chức, cá nhân tự do thử nghiệm mà bỏ qua nghĩa vụ bảo vệ an toàn. Chủ thể thực hiện vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về công khai thông tin, kiểm soát rủi ro, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền lợi người tham gia và trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp pháp luật quy định.
Cần đặc biệt lưu ý: chấp nhận rủi ro không đồng nghĩa với miễn trách nhiệm cho hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật, sử dụng sai kinh phí hoặc cố tình che giấu nguy cơ gây thiệt hại.
Quy định này hướng đến việc tạo môi trường pháp lý để nhà khoa học và doanh nghiệp mạnh dạn thử nghiệm những ý tưởng mới nhưng vẫn duy trì các giới hạn cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và cộng đồng.
6. Đổi mới cơ chế sở hữu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Một nội dung đặc biệt quan trọng khác là trao quyền chủ động đối với kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Các Điều 24 đến Điều 28 thiết lập cơ chế quản lý tài sản, xác lập quyền đối với kết quả nghiên cứu, chuyển giao, thương mại hóa và phân chia lợi nhuận.
Theo Điều 25, đối với những nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi luật định, tổ chức chủ trì được Nhà nước tự động giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả tương ứng với phần kinh phí ngân sách nhà nước, không phải thực hiện thủ tục giao quyền và không phải bồi hoàn chi phí cho Nhà nước.
Cơ chế này có những ngoại lệ, chẳng hạn đối với một số nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ do tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức có yếu tố vốn nước ngoài nhất định chủ trì và trường hợp Nhà nước đã đặt ra yêu cầu nắm giữ quyền đối với kết quả nghiên cứu để phục vụ lợi ích công cộng.
Điều 27 cho phép chủ sở hữu kết quả nghiên cứu tự quyết định việc thương mại hóa. Các hình thức có thể bao gồm bán, cho thuê, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng, hợp tác kinh doanh, góp vốn, liên doanh, liên kết, thành lập doanh nghiệp hoặc tự khai thác kết quả.
Đặc biệt, Điều 28 quy định về phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đối với phần kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì phải dành mức thưởng tối thiểu theo quy định cho tác giả.
Cụ thể, trong những hình thức thương mại hóa được Luật liệt kê, tác giả được thưởng tối thiểu 30% lợi nhuận thu được từ việc cho thuê, bán, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng hoặc tự khai thác; đối với các hình thức góp vốn, hợp tác, liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ hoặc thành lập doanh nghiệp thì mức thưởng tối thiểu được xác định theo 30% giá trị kết quả nghiên cứu theo quy định của Điều 28.
Việc trao quyền này có ý nghĩa lớn bởi trước đây, nhiều kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước gặp khó khăn trong việc xác lập quyền, định giá và chuyển giao để thương mại hóa.
Cơ chế mới tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở báo cáo hoặc nghiệm thu đề tài, mà có thể trở thành sản phẩm, công nghệ và tài sản mang lại lợi ích kinh tế, xã hội.
7. Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo
Chương IV của Luật, từ Điều 34 đến Điều 41, thể hiện rõ quan điểm doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo.
Theo Điều 34, Nhà nước thúc đẩy phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo thông qua việc kết nối doanh nghiệp với cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, tổ chức trung gian, cơ quan nhà nước và cộng đồng.
Nếu trước đây hoạt động khoa học và công nghệ chủ yếu gắn với viện nghiên cứu và trường đại học thì chính sách mới hướng đến việc đưa doanh nghiệp trở thành một trong những chủ thể chủ động đặt ra nhu cầu nghiên cứu, đầu tư phát triển công nghệ và đưa sản phẩm sáng tạo ra thị trường.
Điều 35 quy định những chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, các khoản chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, tài trợ nghiên cứu có thể được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, Luật còn ghi nhận cơ chế xác định chi phí được trừ theo tỷ lệ phần trăm trên chi phí thực tế, trên cơ sở pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điều 36 quy định chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia phát triển công nghệ chiến lược thông qua các hình thức như đầu tư hạ tầng nghiên cứu dùng chung, tài trợ, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ.
Đáng chú ý, Điều 37 bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của tổ chức ngoài công lập đối với các chính sách, chương trình và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước theo điều kiện pháp luật quy định.
Như vậy, Luật không chỉ hướng đến những tổ chức nghiên cứu công lập mà còn mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu tư nhân và các tổ chức ngoài công lập khác tham gia phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
8. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đầu tư mạo hiểm
Bên cạnh chính sách dành cho doanh nghiệp nói chung, Luật năm 2025 còn dành nhiều quy định để thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo và hình thành cơ chế đầu tư mạo hiểm.
Theo Điều 3, khởi nghiệp sáng tạo là quá trình hình thành, phát triển mô hình kinh doanh sáng tạo dựa trên công nghệ, ý tưởng đột phá hoặc mô hình kinh doanh mới nhằm tạo ra giá trị và giải quyết nhu cầu của thị trường hoặc xã hội.
Điều 38 quy định về phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo. Luật khuyến khích các chương trình, hoạt động hỗ trợ, sự kiện, giải thưởng và những hình thức phổ biến tinh thần đổi mới sáng tạo trong cộng đồng.
Một điểm mới đáng chú ý nằm tại Điều 40, quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương.
Các quỹ này được thành lập nhằm đầu tư hoặc cùng đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp và thu hút các nguồn vốn hợp pháp khác.
Đặc thù của đầu tư mạo hiểm là có khả năng đạt lợi nhuận cao nhưng cũng có nguy cơ thất bại. Vì vậy, Luật cho phép quỹ hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, đánh giá hiệu quả dựa trên tổng thể danh mục đầu tư và chu kỳ đầu tư, thay vì bắt buộc mọi khoản đầu tư riêng lẻ đều phải thành công.
Điều 41 còn quy định về việc tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, với đối tượng tham gia và điều kiện giao dịch được xác định theo pháp luật và quy định chi tiết.
Những cơ chế này góp phần tháo gỡ một trong những khó khăn lớn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là thiếu nguồn vốn dài hạn, khó huy động đầu tư và thiếu thị trường để phát triển những ý tưởng hoặc công nghệ chưa được thương mại hóa đầy đủ.
9. Phát triển tổ chức khoa học và công nghệ, tăng quyền tự chủ cho tổ chức công lập
Các Điều 42 đến Điều 48 quy định về hệ thống tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Luật tiếp tục ghi nhận vai trò của viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ. Đồng thời, Luật mở rộng sự quan tâm đến trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và các tổ chức hỗ trợ có liên quan.
Đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập, Luật quy định cơ chế tăng cường quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động.
Theo Điều 45, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được trao những quyền quan trọng liên quan đến hoạt động nghiên cứu, hợp tác, nhân sự và thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo quy định của pháp luật.
Đáng chú ý, tổ chức khoa học và công nghệ công lập có thể thành lập, tham gia thành lập hoặc góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Luật cũng tạo cơ chế để viên chức nghiên cứu tham gia điều hành doanh nghiệp hoặc làm việc tại các tổ chức, doanh nghiệp khác trong thời gian nhất định.
Bên cạnh đó, Điều 46 quy định về tổ chức khoa học và công nghệ công lập đặc thù, có thể được áp dụng cơ chế riêng về tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự theo quy định của Chính phủ.
Cách tiếp cận này giúp tăng khả năng kết nối giữa khu vực nghiên cứu công lập và thị trường, tạo điều kiện để viện nghiên cứu, trường đại học không chỉ thực hiện nghiên cứu mà còn tham gia sâu hơn vào quá trình ứng dụng, chuyển giao và khai thác thương mại kết quả nghiên cứu.
10. Chính sách phát triển nguồn nhân lực, thu hút và trọng dụng nhân tài
Phát triển con người là một trong những nội dung trọng tâm của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025.
Các Điều 49 đến Điều 58 quy định về nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quyền và nghĩa vụ của người hoạt động trong lĩnh vực này, chức danh khoa học, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài.
Luật chú trọng xây dựng cơ chế khuyến khích các nhà khoa học, chuyên gia và nhân lực chất lượng cao cống hiến lâu dài cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Theo Điều 54, nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định trên cơ sở những tiêu chí và minh chứng cụ thể về năng lực, thành tích, đóng góp đột phá hoặc tầm ảnh hưởng, thay vì chỉ dựa trên chức danh hay thâm niên công tác.
Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài có thể bao gồm ưu đãi tài chính, điều kiện làm việc, nhà ở, cơ hội phát triển nghề nghiệp và những cơ chế hỗ trợ khác theo quy định.
Điều 55 tiếp tục ghi nhận các chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, thu nhập, thuế thu nhập cá nhân và những điều kiện thuận lợi đối với nhân lực khoa học, công nghệ.
Luật cũng đặc biệt quan tâm đến nhà khoa học trẻ, kỹ sư trẻ tài năng, nghiên cứu viên sau tiến sĩ, nghiên cứu sinh và các chuyên gia có thành tích xuất sắc.
Ngoài việc phát triển nguồn nhân lực trong nước, chính sách mới còn hướng đến thu hút người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm tại Việt Nam.
Những quy định này thể hiện quan điểm: muốn phát triển khoa học và công nghệ bền vững phải tạo được môi trường để người có năng lực nghiên cứu, sáng tạo được làm việc, cống hiến và hưởng thành quả tương xứng.
11. Đầu tư phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý
Ngoài yếu tố con người, Luật năm 2025 còn chú trọng phát triển cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo Điều 59, Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển hệ thống phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, trang thiết bị nghiên cứu, hạ tầng kỹ thuật và các cơ sở dùng chung.
Một định hướng đáng chú ý là phát triển cơ chế chia sẻ hạ tầng nghiên cứu giữa các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp. Điều này giúp khai thác hiệu quả những trang thiết bị có giá trị lớn, hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp hoặc công suất sử dụng thấp.
Điều 60 quy định về xây dựng hạ tầng thông tin và thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Những hệ thống này được xây dựng nhằm phục vụ quản lý, theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu, phổ biến tri thức khoa học và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý còn góp phần thúc đẩy công khai, minh bạch và tăng cường hậu kiểm, đồng thời tạo điều kiện để tổ chức và cá nhân tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ thuận lợi hơn.
Đây cũng là cơ sở hình thành môi trường nghiên cứu có tính kết nối cao hơn, trong đó dữ liệu và kết quả khoa học có thể được khai thác hiệu quả theo phạm vi pháp luật cho phép.
12. Đổi mới cơ chế đầu tư, tài chính và sử dụng ngân sách nhà nước
Cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những nội dung có tác động lớn nhất của Luật số 93/2025/QH15.
Các Điều 61 đến Điều 67 quy định về ngân sách nhà nước, nội dung chi, quản lý kinh phí, các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ của doanh nghiệp và chính sách ưu đãi trong mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước.
Theo khoản 1 Điều 61, Nhà nước bảo đảm chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, nằm trong nguồn tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước dành cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Quy định này cho thấy Nhà nước xác định nguồn lực tài chính là một trong những điều kiện quan trọng để tạo đột phá trong hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Về cách thức quản lý, Luật hướng đến phân bổ nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, gắn với kết quả và hiệu quả thực hiện. Cơ chế khoán chi, tài trợ qua quỹ, quản lý dựa trên kết quả và hậu kiểm được tăng cường nhằm tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu.
Điều 64 quy định về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia. Điều 65 quy định các quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
Đặc biệt, Điều 66 cho phép doanh nghiệp, tổ chức và đơn vị sự nghiệp trích lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật.
Nguồn quỹ có thể được sử dụng cho các hoạt động như thực hiện hoặc thuê nghiên cứu, phát triển công nghệ, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ cũng như một số hoạt động đầu tư vào dự án hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo theo điều kiện luật định.
Một điểm đáng chú ý là Luật ghi nhận cơ chế đánh giá rủi ro đầu tư trên tổng thể danh mục và trong dài hạn đối với một số hoạt động sử dụng quỹ, thay vì yêu cầu mọi dự án riêng lẻ phải bảo toàn vốn trong từng năm.
Như vậy, cơ chế tài chính mới không chỉ tăng nguồn lực mà còn hướng đến thay đổi phương pháp phân bổ, sử dụng và đánh giá hiệu quả của nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
13. Hội nhập và hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Chương VI, từ Điều 68 đến Điều 70, quy định về hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh, đặc biệt đối với những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn và trình độ chuyên môn cao, hợp tác quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực nghiên cứu của quốc gia.
Luật khuyến khích mở rộng quan hệ hợp tác với tổ chức quốc tế, quốc gia, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia nước ngoài.
Hoạt động hợp tác có thể được triển khai dưới nhiều hình thức như nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực, trao đổi chuyên gia, chia sẻ tri thức, chuyển giao công nghệ và tham gia các chương trình khoa học, công nghệ quốc tế.
Đồng thời, chính sách hội nhập phải gắn với yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền sở hữu trí tuệ, bí mật nhà nước, an ninh và các lợi ích hợp pháp khác.
Điểm quan trọng của những quy định này là tạo điều kiện để Việt Nam không chỉ tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài mà còn từng bước nâng cao khả năng làm chủ, sáng tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
14. Tăng cường liêm chính khoa học, trách nhiệm và các hành vi bị nghiêm cấm
Bên cạnh những chính sách khuyến khích nghiên cứu và chấp nhận rủi ro, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 cũng đặt ra yêu cầu về liêm chính khoa học, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm trong hoạt động nghiên cứu.
Theo Điều 8, tổ chức và cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ phải tuân thủ nguyên tắc liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp.
Những hành vi như ngụy tạo dữ liệu, đạo văn, che giấu xung đột lợi ích hoặc làm sai lệch bản chất nghiên cứu được xác định là vi phạm nghiêm trọng liêm chính khoa học.
Điều 14 tiếp tục quy định các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm những hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động nghiên cứu, tài trợ hoặc đánh giá; chiếm đoạt, sử dụng trái phép kết quả nghiên cứu; truyền bá thông tin sai sự thật hoặc làm sai lệch kết quả nghiên cứu.
Luật cũng nghiêm cấm việc cố ý không tuân thủ quy định hoặc che giấu rủi ro gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên, môi trường, sức khỏe cộng đồng; tiết lộ hoặc sử dụng trái phép dữ liệu nhạy cảm theo các trường hợp luật định.
Có thể thấy Luật thiết lập hai yêu cầu song song: trao quyền tự chủ và chấp nhận rủi ro khách quan nhưng phải bảo đảm tính trung thực, minh bạch và trách nhiệm pháp lý.
Đây là sự cân bằng cần thiết để thúc đẩy sáng tạo mà không làm suy giảm niềm tin của xã hội đối với kết quả nghiên cứu khoa học.
15. Hiệu lực thi hành và các quy định chuyển tiếp
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025.
Theo Điều 72, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2025, trừ các Điều 15, 61, 62, 63, 64, 65 và 66 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 hết hiệu lực theo quy định của Luật năm 2025, đồng thời phải áp dụng các trường hợp chuyển tiếp được ghi nhận tại Điều 73.
Những quy định chuyển tiếp có ý nghĩa quan trọng đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được phê duyệt, đang triển khai, các tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận hoạt động và những quan hệ về quản lý, sử dụng hoặc thương mại hóa kết quả nghiên cứu phát sinh trước thời điểm Luật mới có hiệu lực.
Ngoài ra, Điều 71 còn sửa đổi, bổ sung một số quy định của các luật có liên quan nhằm bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật với các chính sách mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Vì vậy, khi áp dụng Luật năm 2025 vào một trường hợp cụ thể, cần xác định thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật, thời điểm phê duyệt hoặc triển khai nhiệm vụ, nội dung chuyển tiếp và các quy định hướng dẫn có liên quan. Không nên mặc nhiên áp dụng toàn bộ cơ chế mới cho những quan hệ đã được xác lập trước ngày Luật có hiệu lực nếu quy định chuyển tiếp có cách xử lý khác.
Kết luận
Nội dung chính của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 thể hiện sự đổi mới tương đối toàn diện trong chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam. Luật không chỉ mở rộng phạm vi điều chỉnh sang đổi mới sáng tạo mà còn thay đổi phương thức quản lý nhà nước, tăng quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu, chấp nhận rủi ro có điều kiện, đơn giản hóa thủ tục, trao quyền chủ động trong sở hữu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng cơ chế tài chính phù hợp hơn với đặc thù của hoạt động sáng tạo. Đặc biệt, việc xác định doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, khuyến khích khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu được kỳ vọng sẽ góp phần đưa các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và đời sống. Có thể khẳng định, Luật số 93/2025/QH15 không đơn thuần là sự kế thừa và thay thế Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 mà còn là bước hoàn thiện thể chế quan trọng nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.


Để lại một phản hồi