Khái niệm, đặc điểm và các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật

Chuyên mụcLý luận nhà nước và pháp luật Hệ thống pháp luật

Các yếu tố cấu thành (thành phần) quan hệ pháp luật gồm chủ thể quan hệ pháp luật, khách thể quan hệ pháp luật và nội dung quan hệ pháp luật.

 

Những nội dung cùng được tìm kiếm:

 

Mục lục:

1. Khái niệm quan hệ pháp luật

2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật

3. Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật

 

Quan hệ pháp luật

1. Khái niệm quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được xác lập, tồn tại, phát triển hay chấm dứt trên cơ sở quy định của các quy phạm pháp luật

2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật có các đặc điểm cơ bản sau đây:

– Thứ nhất, quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở các quy phạm pháp luật.

Nếu không có quy phạm pháp luật thì không có quan hệ pháp luật. Quy phạm pháp luật dự liệu những tình huống phát sinh quan hệ pháp luật; xác định thành phần chủ thể tham gia quan hệ pháp luật; nội dung những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.

– Thứ hai, quan hệ pháp luật mang tính ý chí.

Tính ý chí này trước hết là ý chí của nhà nước, vì pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận. Sau đó ý chí của các bên chủ thể tham gia QHPL, vì hành vi của cá nhân, tổ chức là hành vi có ý chí.

Nhận thức

–  Thứ ba, các bên tham gia quan hệ pháp luật ràng buộc với nhau bằng các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.

Đây chính là yếu tố làm cho quan hệ pháp luật được thực hiện. Quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại.

– Thứ tư, quan hệ pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể cả bằng biện pháp cưỡng chế.

Trước hết, nhà nước bảo đảm thực hiện quan hệ pháp luật bằng biện pháp giáo dục thuyết phục. Bên cạnh đó nhà nước còn bảo đảm thực hiện pháp luật bằng biện pháp kinh tế, tổ chức – hành chính. Những biện pháp đó không có hiệu quả khi áp dụng, thì khi cần thiết nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế.

Phạt tù

– Thứ năm, quan hệ pháp luật mang tính cụ thể.

Bởi vì QHPL xác định cụ thể chủ thể tham gia quan hệ, nội dung các quyền và nghĩa vụ pháp lý.

3. Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật

Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật gồm chủ thể của quan hệ pháp luật, khách thể của quan hệ pháp luật và nội dung của quan hệ pháp luật.

thanh-phan-cua-quan-he-phap-luat

3.1. Chủ thể quan hệ pháp luật

3.1.1. Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật

Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân hay tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật, tham gia vào các quan hệ pháp luật, có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.

Nói một cách chung nhất, cá nhân, tổ chức có thể là chủ thể quan hệ pháp luật, nhưng đi vào cụ thể thì có sự phân biệt giữa cá nhân và tổ chức với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật.

3.1.2. Các loại chủ thể quan hệ pháp luật

– Cá nhân: Bao gồm công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch, trong đó công dân là chủ thể phổ biến của hầu hết các quan hệ pháp luật.

– Cá nhân muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Năng lực pháp luật của cá nhân có những đặc điểm sau:

+ Năng lực pháp luật của cá nhân gắn liền với mỗi cá nhân, có từ lúc cá nhân đó sinh ra và chỉ chấm dứt khi cá nhân đó chết hoặc bị coi như đã chết. Pháp luật không phải là thuộc tính tự nhiên của cá nhân mà là phạm trù xã hội, phụ thộc vào ý chí của nhà nước.

+ Năng lực pháp luật của cá nhân có thể bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định như hình phạt bổ sung là cấm cư trú trong luật hình sự.

Năng lực hành vi của cá nhân có những đặc điểm sau:

+ Để có năng lực hành vi hoặc có đủ năng lực hành vi cá nhân phải đạt đến độ tuổi nhất định tùy từng lĩnh vực do pháp luật quy định. Ví dụ: Trong lĩnh vực luật dân sự, cá nhân có năng lực hành vi khi cá nhân đó đủ 6 tuổi, còn năng lực hành vi đầy đủ khi cá nhân đó đủ 18 tuổi.

+ Để có năng lực hành vi, cá nhân phải có phả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Những người bị mất trí hoặc mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức thì coi là người mất năng lực hành vi.

+ Yếu tố gắn liền với năng lực hành vi là cá nhân phải có khả năng thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức xuất hiện đồng thời cùng một lúc khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp và mất đi khi tổ chức đó bị giải thể, phá sản.

3.1.3. Ví dụ về chủ thể quan hệ pháp luật

Ví dụ 1: Tháng 10/2009 bà B có vay của chị T số tiền 300 triệu đồng để hùn vốn kinh  doanh. Bà B hẹn tháng 2/1010 sẽ trả đủ vốn và lãi là 30 triệu đồng cho chị T.

=> Chủ thể của quan hệ pháp luật ở đây là bà B và chị T

Bà B: 

  • Có năng lực pháp luật vì bà B không bị Tòa án hạn chế hay tước đoạt năng lực pháp luật;
  • Có năng lực hành vi vì bà B đã đủ tuổi được tham gia vào quan hệ dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự và không bị mắc các bệnh tâm  thần.

=> Bà B có năng lực chủ thể đầy đủ .

Chị T: 

  • Có năng lực pháp luật vì chị T không bị Tòa án hạn chế hay tước đoạt  \năng lực pháp luật;
  • Có năng lực hành vi vì chị T đã đủ tuổi được tham gia vào quan hệ  dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự và không bị mắc các bệnh tâm thần.

=> Chị T có năng lực chủ thể đầy đủ.

3.2. Khách thể của quan hệ pháp luật

Quyền sở hữu trí tuệ

3.2.1. Khái niệm khách thể của quan hệ pháp luật

Khách thể của quan hệ pháp luật là lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật.

Khách thể của quan hệ pháp luật có thể là:

Tài sản vật chất như tiền, vàng, bạc, nhà ở, phương tiện đi lại, vật dụng hàng ngày hoặc các loại tài sản khác…;

– Hành vi xử sự của con người như vận chuyển hàng hoá, khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc người già, trẻ em; bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước; phục vụ hành khách trên tàu hỏa, máy bay; hướng dẫn người du lịch, tham quan…;

– Các lợi ích phi vật chất như quyền tác giả, quyền phát minh sáng chế, danh dự, nhân phẩm, học vị, học hàm…

3.2.2. Ví dụ về khách thể của quan hệ pháp luật

Vẫn ở ví dụ 1, khách thể của quan hệ pháp luật trong trường hợp này là khoản tiền vay và lãi.

3.3. Nội dung của quan hệ pháp luật

3.3.1. Khái niệm nội dung của quan hệ pháp luật

Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các bên chủ thể tham gia.

3.2.2. Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm

– Quyền chủ thể

Quyền chủ thể là khả năng hành động mà pháp luật bảo đảm cho cá nhân, tổ chức được tiến hành nhằm thỏa mãn quyền lợi của họ.

Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua các khả năng sau:

+ Thực hiện một số hành vi trong khuôn khổ pháp luật quy định để thỏa mãn nhu cầu của mình;

+ Yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế không thực hiện những hành vi nhất định: Yêu cầu cơ quan nhà nướcthẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

– Nghĩa vụ pháp lý

Nghĩa vụ pháp lý là cách xử sự bắt buộc do pháp luật quy định mà một bên phải thực hiện nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia.

Nghĩa vụ pháp lý bao hàm các yếu tố sau:

+ Chủ thể nghĩa vụ phải hành động hoặc kiềm chế không hành động;

+ Chủ thể nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.

3.3.3. Ví dụ về nội dung của quan hệ pháp luật

Vẫn ở ví dụ 1, khách thể của quan hệ pháp luật trong trường hợp này là khoản tiền vay và lãi.

Tổ chức tín dụng

Bà B 

  • Quyền: được nhận số tiền vay để sử dụng;
  • Nghĩa vụ: trả nợ gốc và lãi.

Chị T 

  • Quyền: nhận lại khoản tiền;
  • Nghĩa vụ: giao khoản tiền vay cho bà B; theo thỏa thuận. gốc và lãi sau thời hạn vay.

4. Phân loại quan hệ pháp luật:

Việc phân loại quan hệ pháp luật dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Tương ứng với mỗi tiêu chí có những quan hệ pháp luật nhất định.

Căn cứ vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh có quan hệ pháp luật được chia theo các ngành luật, đó là quan hệ pháp luật hình sự; quan hệ pháp luật dân sự; quan hệ pháp luật hành chính; quan hệ pháp luật lao động

– Căn cứ vào tính xác định của thành phần chủ thể: Quan hệ pháp luật được chia thành quan hệ pháp luật tương đối (các bên chủ thể tham gia quan hệ đều được xác định) và quan hệ pháp luật tuyệt đối (chỉ xác định bên chủ thể mang quyền, còn bên chủ thể mang nghĩa vụ là bất cứ chủ thể nào).

– Căn cứ vào tính chất của nghĩa vụ: Quan hệ pháp luật được chia thành quan hệ pháp luật chủ động (nghĩa vụ pháp lý được thực hiện bằng hành động tích cực, hợp pháp) và quan hệ pháp luật thụ động (nghĩa vụ pháp lý được thực hiện bằng việc kiềm chế không thực hiện một số việc làm nhất định).

– Căn cứ vào cách thức tác động đến chủ thể tham gia: Quan hệ pháp luật được chia thành quan hệ pháp luật điều chỉnh (hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh) và quan hệ pháp luật bảo vệ (hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật bảo vệ).


Các tìm kiếm liên quan đến ví dụ chủ thể khách thể nội dung của quan hệ pháp luật, ví dụ chủ thể khách thể nội dung của quan hệ pháp luật hành chính, lấy ví dụ quan hệ pháp luật, ví dụ về quan hệ pháp luật hành chính, ví dụ về quan hệ pháp luật hình sự, ví dụ về quan hệ pháp luật hôn nhân, khách thể của quan hệ pháp luật dân sự, bài tập về quan hệ pháp luật, lấy một ví dụ về một quan hệ pháp luật hành chính

Dân Luật 988 Bài viết
1900.0197 - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của mọi nhà! Gọi ngay 1900.0197 để được luật sư tư vấn, giải đáp kịp thời vấn đề pháp lý mà bạn đang gặp phải!

3 bình luận

  1. Mình muốn hỏi rằng, nếu như theo ví dụ 1, thì sự kiện pháp lí trong ví dụ sẽ được xác định như thế nào? Mong web sớm phản hồi giúp mình ạ!

    • “Sự kiện pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế mà pháp luật dự liệu, quy định làm phát sinh những hậu quả pháp lý”.
      Mình nghĩ trong VD1 sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật ở đây chính là hành vi pháp lý của bà B và chị T. Bà B vay tiền của chị T, hẹn tháng 2/1010 sẽ trả đủ vốn và lãi là 30 triệu (cũng như sự đồng ý cho bà B vay tiền của chị T).

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*