Quy định về việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026 có nhiều thay đổi quan trọng liên quan đến thủ tục yêu cầu, biểu mẫu sử dụng, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin. Đặc biệt, từ ngày 18/5/2026, Chính phủ không tiếp tục thực hiện thủ tục hành chính cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai theo cơ chế trước đây, trong khi Mẫu số 14 ban hành kèm theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP vẫn được giữ lại theo Nghị định 49/2026/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 và Nghị định 337/2026/NĐ-CP, cùng có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, đã thiết lập cơ chế mới về việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin. Vậy người dân muốn xin trích lục bản đồ địa chính, lịch sử biến động đất đai hoặc tài liệu hồ sơ địa chính phải sử dụng mẫu nào, gửi đến cơ quan nào và được giải quyết trong bao lâu? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các quy định đang áp dụng, đồng thời hướng dẫn những vấn đề cần lưu ý khi yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai trong năm 2026.
- 1. Quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
- 1.1. Người dân được yêu cầu cung cấp những thông tin, dữ liệu đất đai nào?
- 1.2. Những thay đổi quan trọng về thủ tục cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
- 2. Cơ quan có trách nhiệm, biểu mẫu và thủ tục cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai
- 2.1. Yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai ở đâu?
- 2.2. Mẫu phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai mới nhất năm 2026
- 2.3. Trình tự yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai
- 2.4. Thời hạn cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
- 3. Phí cung cấp thông tin, các trường hợp từ chối và quyền của người yêu cầu
- 3.1. Phí cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
- 3.2. Những trường hợp cơ quan có quyền từ chối cung cấp thông tin đất đai
- 3.3. Làm gì khi cơ quan không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ dữ liệu đất đai?
- Kết luận
1. Quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
1.1. Người dân được yêu cầu cung cấp những thông tin, dữ liệu đất đai nào?
Theo Điều 24 Luật Đất đai năm 2024, công dân có quyền tiếp cận thông tin đất đai theo quy định pháp luật. Đây là một trong những quyền quan trọng giúp người dân tìm hiểu tình trạng pháp lý của đất đai, giám sát hoạt động quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình sử dụng đất.
Các nhóm thông tin đất đai mà công dân được tiếp cận bao gồm:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và những quy hoạch có liên quan đến sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.
- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai; thông tin về giao đất, cho thuê đất.
- Bảng giá đất đã được công bố; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt khi Nhà nước thu hồi đất.
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
- Thủ tục hành chính, văn bản quy phạm pháp luật về đất đai và những thông tin khác theo quy định.
Đối với một thửa đất cụ thể, nhu cầu khai thác thông tin thường tập trung vào trích lục bản đồ địa chính, thông tin thửa đất, lịch sử biến động, hồ sơ đăng ký đất đai, bản sao Giấy chứng nhận và những tài liệu đo đạc được lưu trữ. Đây là các tài liệu có thể có ý nghĩa quan trọng khi người sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký biến động, xác định ranh giới thửa đất, tìm hiểu nguồn gốc đất hoặc giải quyết tranh chấp.
Chẳng hạn, khi phát hiện diện tích đất thực tế có dấu hiệu không phù hợp với Giấy chứng nhận, người sử dụng đất có thể cần khai thác bản đồ địa chính, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, tài liệu đo đạc hoặc lịch sử biến động để xác định những thông tin đã được cơ quan quản lý ghi nhận. Đối với tranh chấp ranh giới, các bản đồ và tài liệu địa chính qua những thời kỳ khác nhau có thể giúp làm rõ quá trình hình thành, đăng ký và sử dụng thửa đất.
Cần lưu ý rằng quyền tiếp cận thông tin đất đai không đồng nghĩa với quyền yêu cầu cung cấp không hạn chế mọi tài liệu liên quan đến thửa đất của người khác. Những thông tin thuộc bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, bí mật đời sống riêng tư hoặc các nhóm thông tin được tiếp cận có điều kiện phải tuân thủ quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan.
1.2. Những thay đổi quan trọng về thủ tục cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
Trước đây, việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được thực hiện theo các quy định về hệ thống thông tin đất đai và thủ tục hành chính chuyên ngành. Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định Mẫu số 13/ĐK – Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai. Đến khi Nghị định 151/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, biểu mẫu chuyên ngành được quy định tại Mẫu số 14 thuộc Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
Đầu năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026, có hiệu lực cùng ngày, để sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số quy định liên quan đến tổ chức thi hành Luật Đất đai. Theo điểm e2 khoản 3 Điều 16 Nghị định 49/2026/NĐ-CP, Phụ lục II của Nghị định 151/2025/NĐ-CP bị bãi bỏ, trừ các mẫu số 14, 14a, 14b, 14c, 14d, 14đ và một số mẫu khác được liệt kê cụ thể.
Quy định này có nghĩa là Mẫu số 14 và các biểu mẫu chi tiết liên quan không thuộc danh mục bị bãi bỏ tại Nghị định 49/2026/NĐ-CP. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khi xác định tình trạng của các mẫu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai trong năm 2026.
Tiếp đó, ngày 18/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP, có hiệu lực từ ngày ký, quy định không thực hiện thủ tục hành chính cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai tại điểm i khoản 1 Điều 223 Luật Đất đai năm 2024 và Phần VI Phụ lục I Nghị định 151/2025/NĐ-CP. Theo Nghị quyết, việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được thực hiện theo pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định về phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai tại Thông tư 56/2024/TT-BTC. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sau đó công bố bãi bỏ thủ tục hành chính tương ứng tại Quyết định số 1846/QĐ-BNNMT ngày 21/5/2026.
Đặc biệt, từ ngày 01/9/2026, Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 và Nghị định số 337/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định cụ thể về quyền tiếp cận thông tin, biểu mẫu, phương thức gửi yêu cầu, thời hạn và trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin.
Từ các quy định trên, cần phân biệt hai vấn đề:
- Việc không tiếp tục thực hiện thủ tục hành chính chuyên ngành: Được xác định theo Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP và quyết định công bố bãi bỏ thủ tục hành chính.
- Việc giữ lại Mẫu số 14 và các mẫu liên quan: Được xác định theo Nghị định 49/2026/NĐ-CP. Việc biểu mẫu không bị bãi bỏ không đồng nghĩa với việc toàn bộ trình tự, thủ tục hành chính cũ tiếp tục được áp dụng.
Như vậy, thủ tục hành chính cũ đã được bãi bỏ nhưng quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai vẫn được bảo đảm theo pháp luật. Khi thực hiện yêu cầu từ ngày 01/9/2026, người dân cần đặc biệt chú ý cơ chế cung cấp thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, đồng thời phân biệt biểu mẫu của cơ chế này với các biểu mẫu chuyên ngành đất đai vẫn được giữ lại.
2. Cơ quan có trách nhiệm, biểu mẫu và thủ tục cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai
2.1. Yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai ở đâu?
Theo Điều 10 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra trong phạm vi pháp luật quy định. Đối với một số cơ quan, thông tin được cung cấp thông qua đơn vị đầu mối; trách nhiệm cung cấp thông tin còn phụ thuộc vào loại thông tin, phạm vi quản lý và những quy định chuyên ngành có liên quan.
Trong lĩnh vực đất đai, việc xác định đúng nơi gửi yêu cầu cần căn cứ vào loại hồ sơ muốn khai thác. Đối với thông tin đăng ký đất đai, lịch sử biến động, bản đồ địa chính và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, người dân có thể liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất để xác định đơn vị đang quản lý dữ liệu và đầu mối tiếp nhận yêu cầu. Đây là những đơn vị có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến đăng ký và quản lý hồ sơ địa chính.
Đối với thông tin do chính quyền địa phương tạo lập, có thể liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất hoặc đầu mối cung cấp thông tin được công bố. Theo Điều 10 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, đơn vị đầu mối do Ủy ban nhân dân cấp xã xác định có trách nhiệm cung cấp các thông tin thuộc phạm vi luật định, trong đó có quy định riêng về việc cung cấp cho công dân cư trú trên địa bàn và công dân khác có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp.
Ví dụ, người dân muốn khai thác lịch sử biến động đăng ký của một thửa đất nên liên hệ đơn vị đăng ký đất đai đang quản lý hồ sơ. Nếu muốn tìm hiểu tài liệu liên quan đến việc xác nhận nguồn gốc sử dụng đất được lập tại địa phương, cần xác định tài liệu do cơ quan nào tạo ra và đang được lưu trữ ở đâu.
Không nên mặc nhiên cho rằng mọi loại thông tin đất đai đều do một cơ quan duy nhất cung cấp. Trường hợp hồ sơ đã được chuyển giao do sắp xếp đơn vị hành chính hoặc thay đổi cơ quan quản lý, người yêu cầu cần xác định cơ quan đang tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ và hồ sơ tương ứng.
2.2. Mẫu phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai mới nhất năm 2026
Đây là nội dung cần đặc biệt lưu ý vì hiện nay có nhiều biểu mẫu được ban hành tại những thời điểm khác nhau, dễ gây nhầm lẫn khi chuẩn bị hồ sơ.
Mẫu số 13/ĐK theo Nghị định 101/2024/NĐ-CP
Mẫu số 13/ĐK là phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được sử dụng theo cơ chế chuyên ngành trước đây. Khi Nghị định 151/2025/NĐ-CP có hiệu lực và quy định Mẫu số 14, người yêu cầu cần đối chiếu quy định mới thay vì tiếp tục mặc nhiên sử dụng biểu mẫu của giai đoạn trước.
Mẫu số 14 theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP
Mẫu số 14 có tên gọi “Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai”, ban hành tại Phụ lục II Nghị định 151/2025/NĐ-CP. Biểu mẫu này cho phép tổ chức, cá nhân xác định thông tin cần khai thác, bao gồm:
- Thông tin về thửa đất, lịch sử biến động, giao dịch bảo đảm và bản sao Giấy chứng nhận.
- Trích lục bản đồ địa chính, thông tin giá đất, quy hoạch sử dụng đất.
- Thông tin, dữ liệu chuyên sâu về bản đồ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các nhóm dữ liệu khác.
Các Mẫu số 14a, 14b, 14c, 14d và 14đ được sử dụng để xác định chi tiết những nhóm dữ liệu tương ứng khi có nhu cầu khai thác.
Như đã phân tích, các mẫu này không bị bãi bỏ tại điểm e2 khoản 3 Điều 16 Nghị định 49/2026/NĐ-CP. Vì vậy, không chính xác nếu khẳng định Mẫu số 14 đã đương nhiên hết hiệu lực chỉ vì thủ tục hành chính chuyên ngành cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai không còn được thực hiện.
Dù vậy, việc Mẫu số 14 được giữ lại không đồng nghĩa người dân bắt buộc phải sử dụng mẫu này theo toàn bộ trình tự của thủ tục hành chính cũ. Cần xem xét cơ chế tiếp nhận yêu cầu đang được áp dụng và hướng dẫn của cơ quan có trách nhiệm cung cấp dữ liệu.
Mẫu số 01a theo Nghị định 337/2026/NĐ-CP
Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định 337/2026/NĐ-CP, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 sử dụng những biểu mẫu sau:
- Mẫu số 01a: Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin dành cho cá nhân.
- Mẫu số 01b: Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp theo trường hợp luật định.
- Mẫu số 06: Văn bản chấp thuận của cá nhân, tổ chức liên quan đối với những trường hợp yêu cầu tiếp cận thông tin có điều kiện theo khoản 1 và khoản 2 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin.
Cần phân biệt rằng Mẫu số 01b là biểu mẫu để công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin thông qua tổ chức, đoàn thể hoặc doanh nghiệp trong trường hợp luật định, không phải mẫu mặc nhiên dành cho mọi doanh nghiệp yêu cầu dữ liệu đất đai phục vụ hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp đó.
Như vậy, khi một cá nhân trực tiếp yêu cầu cung cấp tài liệu đất đai theo cơ chế của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, Mẫu số 01a là biểu mẫu phù hợp với Điều 9 và Điều 10 Nghị định 337/2026/NĐ-CP. Mẫu số 14 của Nghị định 151/2025/NĐ-CP vẫn có thể được sử dụng làm căn cứ mô tả chi tiết loại dữ liệu đất đai cần khai thác hoặc theo hướng dẫn tiếp nhận phù hợp của cơ quan quản lý dữ liệu. Không có cơ sở để mặc nhiên yêu cầu người dân phải nộp đồng thời cả hai mẫu trong mọi trường hợp.
Đối với tổ chức đề nghị khai thác dữ liệu đất đai, cần xác định hình thức yêu cầu theo pháp luật chuyên ngành và cơ chế tiếp nhận của đơn vị quản lý dữ liệu; không nên tự động áp dụng Mẫu số 01a dành cho cá nhân.
2.3. Trình tự yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai
Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 và Nghị định 337/2026/NĐ-CP, việc yêu cầu cung cấp thông tin theo cơ chế này được thực hiện thông qua những bước cơ bản sau:
Bước 1: Xác định thông tin, tài liệu cần cung cấp.
Trước khi lập phiếu yêu cầu, người dân cần xác định rõ mục đích khai thác và những tài liệu có liên quan trực tiếp đến vấn đề cần giải quyết. Đối với dữ liệu một thửa đất nên chuẩn bị thông tin số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ thửa đất, số Giấy chứng nhận nếu có và tên tài liệu đề nghị cung cấp.
Chẳng hạn, nếu cần tài liệu để giải quyết tranh chấp ranh giới đất, có thể yêu cầu cung cấp bản đồ địa chính, tài liệu đo đạc qua các thời kỳ, trích lục bản đồ và các hồ sơ địa chính liên quan đang được lưu trữ. Việc ghi rõ tài liệu cần cung cấp có ý nghĩa quan trọng vì yêu cầu quá chung chung có thể khiến cơ quan tiếp nhận phải hướng dẫn bổ sung.
Bước 2: Chuẩn bị và gửi phiếu yêu cầu.
Đối với cá nhân yêu cầu theo Luật Tiếp cận thông tin, hồ sơ được lập bằng Mẫu số 01a theo Nghị định 337/2026/NĐ-CP, kèm theo giấy tờ hoặc văn bản chấp thuận liên quan nếu pháp luật yêu cầu.
Theo Điều 24 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, người yêu cầu có thể lựa chọn một trong các phương thức sau:
- Nộp trực tiếp tại cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin.
- Gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính.
- Gửi qua mạng Internet, bao gồm thư điện tử, cổng thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc nền tảng số được cơ quan có thẩm quyền công bố.
Khi gửi yêu cầu nên sử dụng phương thức có thể xác nhận thời điểm tiếp nhận và lưu giữ thông báo, chứng từ hoặc giấy tờ liên quan. Đây là cơ sở để theo dõi thời hạn giải quyết và bảo vệ quyền lợi khi phát sinh vướng mắc.
Bước 3: Cơ quan tiếp nhận và xử lý yêu cầu.
Sau khi nhận hồ sơ, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm kiểm tra nội dung yêu cầu, xác thực thông tin người yêu cầu và xác định điều kiện cung cấp tài liệu. Theo Điều 10 Nghị định 337/2026/NĐ-CP, cơ quan tiếp nhận thực hiện khai thác, đối chiếu thông tin người yêu cầu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành liên quan. Trường hợp không khai thác được hoặc thông tin chưa đầy đủ, cơ quan tiếp nhận có thể đề nghị xuất trình giấy tờ hoặc bổ sung thông tin cần thiết theo quy định.
Đối với những tài liệu có chứa dữ liệu cá nhân, bí mật đời sống riêng tư hoặc thông tin được tiếp cận có điều kiện, cơ quan cung cấp phải kiểm tra căn cứ cho phép tiếp cận trước khi cung cấp. Việc người yêu cầu có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ chứng minh quyền lợi liên quan có thể là tài liệu cần thiết để đánh giá yêu cầu song không đương nhiên làm phát sinh quyền tiếp cận mọi thông tin của người khác.
Bước 4: Nhận kết quả cung cấp thông tin.
Khi yêu cầu đáp ứng điều kiện pháp luật, cơ quan có trách nhiệm cung cấp tài liệu theo hình thức phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tế. Kết quả có thể được cung cấp bằng bản giấy, bản điện tử hoặc hình thức hợp pháp khác.
Theo khoản 2 Điều 24 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, người yêu cầu tại trụ sở cơ quan, đơn vị được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật cá nhân để sao, chụp, tải tài liệu, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác. Việc sao chụp phải thực hiện theo hướng dẫn, giám sát của cơ quan cung cấp thông tin theo quy định.
2.4. Thời hạn cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
Theo khoản 4 Điều 10 Nghị định 337/2026/NĐ-CP, thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin được xác định như sau:
- Thông tin đơn giản, có sẵn: Chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Nếu yêu cầu trực tiếp tại trụ sở, cơ quan có trách nhiệm tạo điều kiện để người dân sao, chụp, tải tài liệu hoặc cung cấp ngay thông tin khi phù hợp với điều kiện thực tế.
- Thông tin phức tạp, không có sẵn: Trường hợp cần tập hợp từ nhiều bộ phận hoặc lấy ý kiến cơ quan, tổ chức khác, thời hạn cung cấp hoặc thông báo từ chối là 12 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
- Trường hợp cần gia hạn: Cơ quan cung cấp có thể gia hạn thời gian giải quyết, tối đa không quá 12 ngày, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trước khi hết thời hạn cung cấp thông tin.
Cần phân biệt rằng mốc 03 ngày đối với thông tin đơn giản được tính bằng ngày làm việc, còn mốc 12 ngày đối với thông tin phức tạp và thời gian gia hạn được quy định bằng ngày. Đồng thời, đây là thời hạn của cơ chế yêu cầu cung cấp thông tin theo Nghị định 337/2026/NĐ-CP, không phải thời hạn của thủ tục hành chính đất đai cũ đã được bãi bỏ.
3. Phí cung cấp thông tin, các trường hợp từ chối và quyền của người yêu cầu
3.1. Phí cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai năm 2026
Theo Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, về nguyên tắc, công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác. Người yêu cầu có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp và gửi thông tin theo quy định, trừ những trường hợp được miễn chi phí.
Đối với hoạt động khai thác và sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, mức thu phí được quy định tại Thông tư số 56/2024/TT-BTC ngày 31/7/2024 của Bộ Tài chính, cùng các quy định sửa đổi, ưu đãi có liên quan.
Một số mức thu đáng chú ý theo biểu phí gồm:
- Thông tin thửa đất có đầy đủ thông tin về người sử dụng, người quản lý hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất: 45.000 đồng/thửa.
- Thông tin thửa đất không bao gồm thông tin về người sử dụng, người quản lý hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất: 35.000 đồng/thửa.
- Lịch sử biến động của thửa đất theo hồ sơ đăng ký biến động: 25.000 đồng/hồ sơ.
- Bản sao, trích sao Giấy chứng nhận dạng quét: 32.800 đồng/Giấy chứng nhận.
- Bản đồ địa chính: Mức phí được xác định theo tỷ lệ, định dạng và đơn vị tính tương ứng tại biểu phí của Thông tư 56/2024/TT-BTC.
Đặc biệt, Thông tư số 29/2026/TT-BTC ngày 27/3/2026 quy định chính sách giảm 50% phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuộc phạm vi áp dụng. Chính sách được thực hiện từ ngày 01/4/2026 đến hết ngày 31/12/2026. Đây là chính sách áp dụng đối với những đối tượng đáp ứng điều kiện, không phải mức giảm phí chung dành cho mọi cá nhân, tổ chức.
Cần phân biệt giữa việc tiếp cận thông tin miễn phí theo Luật Tiếp cận thông tin với hoạt động khai thác dữ liệu đất đai thuộc diện thu phí theo pháp luật chuyên ngành. Việc xác định nghĩa vụ thanh toán phải căn cứ vào loại dữ liệu, hình thức cung cấp, đối tượng yêu cầu và biểu phí áp dụng. Mặt khác, việc nộp phí không đồng nghĩa người yêu cầu đương nhiên được tiếp cận những dữ liệu thuộc diện không được cung cấp hoặc chưa đáp ứng điều kiện tiếp cận.
3.2. Những trường hợp cơ quan có quyền từ chối cung cấp thông tin đất đai
Theo Điều 15, Điều 16 và Điều 27 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, không phải mọi yêu cầu cung cấp thông tin đều được chấp nhận. Cơ quan có trách nhiệm cung cấp có thể từ chối khi yêu cầu thuộc những trường hợp pháp luật quy định, chẳng hạn:
- Thông tin thuộc bí mật nhà nước hoặc thuộc nhóm thông tin pháp luật không cho phép tiếp cận.
- Thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình hoặc bí mật kinh doanh mà chưa đáp ứng điều kiện tiếp cận.
- Thông tin đã được công khai theo quy định và không thuộc trường hợp được yêu cầu cung cấp riêng.
- Thông tin không thuộc trách nhiệm cung cấp của cơ quan được yêu cầu.
- Thông tin đã được cung cấp hai lần cho cùng người yêu cầu mà không có lý do chính đáng để tiếp tục yêu cầu.
- Yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị.
- Người yêu cầu không thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp hoặc gửi thông tin thuộc trường hợp phải thanh toán theo quy định.
Đối với dữ liệu đất đai, vấn đề thường gặp là việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến người đang đứng tên Giấy chứng nhận hoặc những người có giao dịch, biến động liên quan đến thửa đất.
Thông tin về một thửa đất và thông tin cá nhân của người sử dụng đất không phải lúc nào cũng có cùng điều kiện tiếp cận. Chẳng hạn, thông tin quy hoạch sử dụng đất đã được công khai có cơ chế tiếp cận khác với những dữ liệu cá nhân trong hồ sơ đăng ký đất đai. Khi tài liệu chứa cả thông tin được tiếp cận và thông tin thuộc diện hạn chế, việc xử lý, phân tách và cung cấp phải tuân thủ các quy định tương ứng.
Theo Điều 26 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, trường hợp từ chối yêu cầu cung cấp thông tin, cơ quan có trách nhiệm phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Việc từ chối cần được đặt trên cơ sở quy định pháp luật cụ thể, không thể chỉ giải thích chung chung rằng hồ sơ đất đai là tài liệu nội bộ hoặc thủ tục hành chính cung cấp thông tin đất đai đã bị bãi bỏ.
3.3. Làm gì khi cơ quan không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ dữ liệu đất đai?
Trong thực tế, người dân có thể gặp trường hợp đã gửi yêu cầu nhưng quá thời hạn chưa được giải quyết, chỉ nhận được một phần tài liệu hoặc bị từ chối cung cấp thông tin. Để bảo vệ quyền lợi, trước hết cần kiểm tra lại nội dung yêu cầu, cơ quan tiếp nhận, thời điểm nhận hồ sơ hợp lệ và những điều kiện tiếp cận thông tin có liên quan.
Nếu cơ quan đã cung cấp thông tin nhưng tài liệu không chính xác hoặc còn thiếu, Điều 28 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 cho phép người yêu cầu đề nghị cung cấp lại thông tin chính xác hoặc bổ sung phần còn thiếu. Cơ quan đã cung cấp có trách nhiệm xác định tính chính xác, đầy đủ của thông tin và trả lời trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp phát hiện thông tin đã cung cấp có sai sót, cơ quan phải thực hiện việc cung cấp lại hoặc bổ sung theo quy định.
Đối với trường hợp không cung cấp, từ chối trái pháp luật hoặc vi phạm nghĩa vụ trong việc giải quyết yêu cầu, Điều 13 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 ghi nhận quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định pháp luật. Công dân còn có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin. Việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền cần căn cứ vào hành vi cụ thể và các quy định về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính tương ứng.
Đối với người cần tài liệu để giải quyết tranh chấp đất đai, việc xác định đúng loại hồ sơ yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chẳng hạn, khi muốn kiểm tra ranh giới thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận, người sử dụng đất có thể cần đề nghị cung cấp trích lục bản đồ địa chính, tài liệu đo đạc, hồ sơ đăng ký ban đầu, hồ sơ biến động và những tài liệu địa chính khác có liên quan.
Cần phân biệt yêu cầu cung cấp hồ sơ, dữ liệu đang được lưu trữ với yêu cầu đo đạc mới hoặc xác định ranh giới, mốc giới ngoài thực địa. Việc cung cấp tài liệu nhằm khai thác thông tin hiện có, còn việc tổ chức đo đạc, xác định ranh giới hoặc cắm mốc thực địa là những hoạt động chuyên môn có điều kiện, trình tự và trách nhiệm thực hiện riêng. Do đó, nhận được trích lục bản đồ địa chính không đồng nghĩa cơ quan cung cấp đã thực hiện việc xác định hoặc bàn giao mốc giới ngoài thực địa cho người sử dụng đất.
Như vậy, quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai vẫn được pháp luật bảo đảm trong năm 2026, dù thủ tục hành chính chuyên ngành trước đây đã không còn được thực hiện. Người yêu cầu cần xác định đúng loại tài liệu, cơ quan có trách nhiệm, biểu mẫu và cơ chế tiếp nhận phù hợp, đồng thời sử dụng quyền khiếu nại, khởi kiện khi có căn cứ cho rằng quyền tiếp cận thông tin bị xâm phạm.
Kết luận
Quy định về việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai mới 2026 có những thay đổi quan trọng về thủ tục và biểu mẫu yêu cầu cung cấp thông tin. Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP quy định không tiếp tục thực hiện thủ tục hành chính cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai theo cơ chế trước đây, trong khi Nghị định 49/2026/NĐ-CP vẫn giữ lại Mẫu số 14 và các biểu mẫu chi tiết ban hành kèm theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP. Từ ngày 01/9/2026, việc cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 được thực hiện theo Nghị định 337/2026/NĐ-CP, trong đó Mẫu số 01a là biểu mẫu dành cho cá nhân trực tiếp yêu cầu, còn việc sử dụng Mẫu số 14 phải được xem xét trong phạm vi biểu mẫu chuyên ngành và cơ chế tiếp nhận tương ứng. Để được giải quyết thuận lợi, người dân cần xác định rõ loại tài liệu cần khai thác, gửi yêu cầu đến đúng cơ quan, tuân thủ các điều kiện về bảo vệ thông tin và thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu thuộc trường hợp phải nộp phí. Việc hiểu đúng sự khác nhau giữa hiệu lực của biểu mẫu và việc bãi bỏ thủ tục hành chính sẽ giúp người dân tránh sử dụng nhầm mẫu, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền tiếp cận hồ sơ, dữ liệu đất đai theo quy định pháp luật.


Để lại một phản hồi