Theo quy định hiện hành, tùy tính chất của từng hành vi, người kết hôn trái pháp luật có thể bị phạt hành chính từ 1 triệu đồng đến 20 triệu đồng, bị buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, bị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật và trong trường hợp nghiêm trọng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phạt tù đến 03 năm. Từ ngày 18/5/2026, mức phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được áp dụng theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ.
- 1. Tảo hôn, tổ chức tảo hôn bị phạt từ 1 đến 5 triệu đồng
- 2. Kết hôn khi đang có vợ, có chồng và một số quan hệ gia đình bị cấm bị phạt từ 5 đến 10 triệu đồng
- 3. Kết hôn cận huyết, cưỡng ép, lừa dối hoặc kết hôn giả tạo bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng
- 4. Ngoài tiền phạt, kết hôn trái pháp luật còn có thể bị hủy và bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Kết luận
1. Tảo hôn, tổ chức tảo hôn bị phạt từ 1 đến 5 triệu đồng
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, kết hôn trái pháp luật là trường hợp nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn tại Điều 8 của Luật này. Trong đó, điều kiện về độ tuổi là nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Luật cũng xác định tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn.
Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định riêng việc xử phạt đối với tảo hôn và tổ chức tảo hôn.
Cụ thể:
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Điểm cần lưu ý là quy định hiện hành không đơn giản quy định cứ người chưa đủ tuổi lấy vợ, lấy chồng là bị phạt tiền ngay. Điều 61 Nghị định 109/2026/NĐ-CP tập trung xử phạt người tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi và trường hợp vẫn cố tình duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật sau khi đã có phán quyết của Tòa án.
Ví dụ, cha mẹ biết con gái mới 16 tuổi nhưng vẫn tổ chức đám cưới, cho con về sống chung như vợ chồng với người khác thì có thể bị xử phạt về hành vi tổ chức lấy chồng cho người chưa đủ tuổi.
Nếu quan hệ đó đã bị Tòa án xác định là trái pháp luật, yêu cầu chấm dứt nhưng các bên vẫn tiếp tục duy trì thì hành vi có thể bị xử phạt ở mức cao hơn.
Không chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính, tổ chức tảo hôn còn có thể bị xử lý hình sự. Điều 183 Bộ luật Hình sự quy định người tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, có thể:
Bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; hoặc
Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
Như vậy, đối với tảo hôn, pháp luật hiện nay thiết kế cơ chế xử lý theo mức độ tăng dần: từ xử phạt hành chính đối với việc tổ chức tảo hôn đến trách nhiệm hình sự đối với người đã bị xử phạt mà vẫn tiếp tục tổ chức tảo hôn.
2. Kết hôn khi đang có vợ, có chồng và một số quan hệ gia đình bị cấm bị phạt từ 5 đến 10 triệu đồng
Một trong những hành vi kết hôn trái pháp luật phổ biến là người đang có vợ hoặc chồng lại kết hôn với người khác.
Luật Hôn nhân và gia đình bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và nghiêm cấm:
Người đang có vợ hoặc đang có chồng kết hôn với người khác;
Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng kết hôn với người mà mình biết rõ đang có chồng hoặc có vợ.
Theo Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, những hành vi trên bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Mức phạt tương tự cũng áp dụng đối với trường hợp đang có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người độc thân chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có gia đình.
Ví dụ, ông A và bà B đã đăng ký kết hôn hợp pháp, chưa ly hôn. Trong thời gian hai người ly thân, ông A tiếp tục làm thủ tục đăng ký kết hôn với bà C. Việc ông A và bà B đã ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Do đó, nếu ông A kết hôn với bà C thì có thể bị xử phạt từ 5 đến 10 triệu đồng và cuộc hôn nhân sau có thể bị Tòa án xem xét hủy do vi phạm điều kiện kết hôn.
Điều đáng chú ý là người thứ ba cũng có thể bị xử lý nếu biết rõ người mình kết hôn đang có vợ hoặc có chồng mà vẫn kết hôn.
Không chỉ hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, mức phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng còn được áp dụng đối với việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa:
Người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;
Cha chồng với con dâu;
Mẹ vợ với con rể;
Cha dượng với con riêng của vợ;
Mẹ kế với con riêng của chồng.
Cần phân biệt trường hợp người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi với trường hợp cha, mẹ nuôi đang có quan hệ nuôi con nuôi với con nuôi. Trường hợp thứ hai được pháp luật đánh giá nghiêm trọng hơn và mức phạt có thể lên tới 20 triệu đồng.
Đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, nếu đạt đến mức độ nhất định thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự, người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn, chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chồng mà biết rõ người kia đang có gia đình nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống có thể bị xử lý hình sự nếu:
Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Khung hình phạt cơ bản gồm cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Nếu hành vi làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát hoặc đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn, buộc chấm dứt quan hệ chung sống trái pháp luật mà vẫn tiếp tục duy trì thì có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Như vậy, hành vi “kết hôn với người đã có gia đình” không chỉ có nguy cơ bị phạt hành chính mà trong những trường hợp nghiêm trọng hoàn toàn có thể trở thành tội phạm.
3. Kết hôn cận huyết, cưỡng ép, lừa dối hoặc kết hôn giả tạo bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng
Nhóm hành vi kết hôn trái pháp luật có mức xử phạt hành chính cao nhất theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP hiện nay là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Trước hết là hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
Người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau, chẳng hạn ông bà với cháu, cha mẹ với con.
Người có họ trong phạm vi ba đời được xác định từ cùng một gốc sinh ra. Vì vậy, anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì thuộc phạm vi ba đời và không được kết hôn với nhau.
Mức phạt từ 10 đến 20 triệu đồng cũng được áp dụng đối với việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
Ngoài các quan hệ gia đình bị cấm, pháp luật còn xử phạt từ 10 đến 20 triệu đồng đối với hành vi:
Cưỡng ép kết hôn;
Lừa dối kết hôn.
Cưỡng ép kết hôn có thể được thể hiện bằng việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc sử dụng thủ đoạn khác nhằm buộc một người phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Luật Hôn nhân và gia đình coi sự tự nguyện của cả hai bên là điều kiện bắt buộc của việc kết hôn.
Nếu hành vi cưỡng ép kết hôn được thực hiện bằng những phương thức như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác và người thực hiện đã từng bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, họ có thể bị truy cứu về Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện theo Điều 181 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt có thể là:
Cảnh cáo;
Cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc
Phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Một hành vi khác cũng bị xử phạt từ 10 đến 20 triệu đồng là lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Đây chính là những biểu hiện điển hình của kết hôn giả tạo.
Ví dụ, A và B thỏa thuận đăng ký kết hôn chỉ để B được bảo lãnh sang nước ngoài định cư, hai bên không có ý định chung sống và ngay từ đầu đã thống nhất sau khi hoàn tất mục đích sẽ chấm dứt quan hệ. Nếu được xác định là lợi dụng kết hôn nhằm mục đích khác mà không nhằm xây dựng gia đình thì hành vi có thể bị xử phạt theo quy định trên.
Không những bị phạt tiền, người thực hiện hành vi lợi dụng kết hôn để trục lợi còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm.
Có thể thấy, pháp luật không chỉ bảo vệ hình thức đăng ký kết hôn mà còn bảo vệ bản chất tự nguyện, lành mạnh và mục đích xây dựng gia đình của quan hệ hôn nhân.
4. Ngoài tiền phạt, kết hôn trái pháp luật còn có thể bị hủy và bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Điểm quan trọng cần hiểu là xử phạt hành chính và hủy việc kết hôn trái pháp luật là hai vấn đề khác nhau.
Một người có thể bị phạt tiền do thực hiện hành vi vi phạm, đồng thời quan hệ hôn nhân được xác lập trái pháp luật cũng có thể bị Tòa án xem xét, giải quyết.
Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc xử lý kết hôn trái pháp luật thuộc thẩm quyền của Tòa án. Nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết mà các bên vẫn không đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn thì Tòa án có thể quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy:
Hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng;
Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con được giải quyết theo quy định tương tự trường hợp ly hôn;
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên được giải quyết theo quy định dành cho trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Điều này cũng có nghĩa việc hủy kết hôn trái pháp luật không làm mất quyền của con. Con vẫn có đầy đủ quyền đối với cha mẹ theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp từng vi phạm điều kiện kết hôn đều nhất thiết bị hủy.
Nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết, hai bên đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn và cùng yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, Tòa án có thể công nhận quan hệ hôn nhân. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập kể từ thời điểm các bên bắt đầu đủ điều kiện kết hôn.
Ví dụ, hai bên đăng ký kết hôn khi người nam còn thiếu một thời gian ngắn mới đủ 20 tuổi. Sau nhiều năm, khi Tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn thì cả hai đã đủ tuổi, hoàn toàn tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm và cùng yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân. Khi đó, pháp luật cho phép Tòa án xem xét công nhận thay vì buộc phải hủy trong mọi trường hợp.
Bên cạnh việc hủy kết hôn và xử phạt hành chính, một số hành vi còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, gồm:
Cưỡng ép kết hôn: có thể bị phạt tù đến 03 năm theo Điều 181 Bộ luật Hình sự;
Vi phạm chế độ một vợ, một chồng: có thể bị phạt tù đến 03 năm theo Điều 182;
Tổ chức tảo hôn: có thể bị phạt tiền đến 30 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 02 năm theo Điều 183.
Riêng trường hợp có hành vi giao cấu với người mà người thực hiện biết rõ là người cùng dòng máu về trực hệ hoặc anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, hành vi còn có thể cấu thành Tội loạn luân theo Điều 184 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Do đó, câu hỏi “kết hôn trái pháp luật bị phạt bao nhiêu?” không có một mức phạt duy nhất. Cần xác định chính xác hành vi thuộc trường hợp nào, bởi mức độ xử lý có thể từ phạt hành chính vài triệu đồng cho đến hủy quan hệ hôn nhân và truy cứu trách nhiệm hình sự.
Kết luận
Hành vi kết hôn trái pháp luật bị xử phạt như thế nào phụ thuộc vào từng hành vi cụ thể. Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP đang có hiệu lực, tổ chức tảo hôn có thể bị phạt từ 1 – 3 triệu đồng; duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi sau khi đã có phán quyết của Tòa án bị phạt từ 3 – 5 triệu đồng; vi phạm chế độ một vợ, một chồng và một số quan hệ gia đình bị cấm bị phạt từ 5 – 10 triệu đồng; còn kết hôn cận huyết, giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, cưỡng ép, lừa dối hoặc lợi dụng kết hôn để trục lợi có thể bị phạt từ 10 – 20 triệu đồng. Trường hợp đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người vi phạm còn có thể bị phạt tù đến 03 năm, thậm chí hành vi loạn luân có thể bị phạt tù đến 05 năm. Đồng thời, Tòa án có quyền xem xét hủy việc kết hôn trái pháp luật và giải quyết hậu quả về con, tài sản cũng như các nghĩa vụ liên quan.


Để lại một phản hồi