Chủ trương, chính sách của Đảng về hợp tác quốc tế

Chủ trương, chính sách của Đảng về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp

 

Tham luận của Đ/c Trịnh Xuân Toản – Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo CCTPTW tại Hội nghị phổ biến Nghị định 113/2014/NĐ – CP về quản lý hợp tác quốc tế về pháp luật

 

1 – Những chủ trương, chính sách cơ bản nêu trong Cương lĩnh chính trị và các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

1.1- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;… là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
(Các chủ trương, chính sách nêu trên đã được thể chế hóa tại Điều 12, Chương I Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013).

 

1.2- Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 và Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

– Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế; thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công nghệ nguồn; mở rộng thị trường xuất khẩu.
– Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học – công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến.
– Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền…
– Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực…
– Mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương ở khu vực và thế giới. Coi trọng và nâng cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đối ngoại…

 

2 – Những chủ trương, chính sách của Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa các chủ trương, chính sách về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luậtcải cách tư pháp. Trong đó đáng lưu ý là:

2.1- Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2015 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu “tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp”, coi đây là 01 trong 8 nhiệm vụ của Chiến lược cải cách tư pháp. Nghị quyết đã xác định nội dung của nhiệm vụ này là: “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước khác, trước hết là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước có quan hệ truyền thống. Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố quốc tế với các tổ chức INTERPOL, ASEANPOL,… với cảnh sát các nước láng giềng và khu vực, với cảnh sát một số quốc gia có nhiều công dân Việt Nam sinh sống, lao động, học tập. Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực”.

 

2.2- Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 24-01-2003 của Ban Bí thư về công tác phi chính phủ nước ngoài và Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 09-12-2009 của Ban Bí thư về hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

Tại Chỉ thị số 39-CT/TW, Ban Bí thư đã xác định rõ nguyên tắc, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này như sau:

a- Về nguyên tắc, định hướng 

– Giữ vững nguyên tắc độc lập, chủ quyền quốc gia, cảnh giác với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, gây phương hại đến an ninh chính trị đất nước; không để các đối tác nước ngoài áp đặt hoặc lợi dụng quan hệ hợp tác để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

– Thực hiện phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, tăng cường ký kết và thực hiện các thoả thuận hợp tác song phương với các nước theo nguyên tắc có đi có lại; nâng cao tính hiệu quả, phát huy những tác dụng tích cực của các chương trình, dự án đã được ký kết; đưa các mối quan hệ đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định.

– Lựa chọn nội dung, đối tác và hình thức hợp tác hợp lý, thiết thực; chỉ quan hệ hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia nước ngoài có khả năng và thiện chí trợ giúp về những nội dung ta còn ít kinh nghiệm để hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp theo chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Bảo đảm quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, đúng mục đích, đúng quy định, công khai, minh bạch các nguồn kinh phí của các chương trình, dự án về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

– Việc tiếp thu những tri thức và kinh nghiệm tốt của các nước phải có chọn lọc, phù hợp với truyền thống và thực tiễn của Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự tương thích của pháp luật trong nước với các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

b- Về nhiệm vụ và giải pháp

– Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quan hệ hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Xác định rõ nội dung, hình thức hợp tác; quy trình, thủ tục tiến hành các hoạt động hợp tác; thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia các hoạt động hợp tác với nước ngoài; các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc thực hiện các chương trình, dự án hợp tác.

– Phân tích, đánh giá đúng nhu cầu hợp tác; chủ động lựa chọn đối tác, xây dựng nội dung chương trình, dự án hợp tác phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quá trình đàm phán, ký kết các chương trình, dự án phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục và báo cáo, đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Không ký kết, triển khai những nội dung, chương trình, dự án phương hại đến lợi ích, an ninh quốc gia và trùng lắp. Tích cực đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước.

– Triển khai thực hiện nghiêm túc các chương trình, dự án đã ký kết; sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực tài chính và hỗ trợ kỹ thuật của các nhà tài trợ. Tuyển chọn, phân công người có năng lực, trình độ và bản lĩnh chính trị để tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án.Xác định rõ thành phần, đối tượng tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng hoặc các hội nghị, hội thảo trao đổi kinh nghiệm với các đối tác nước ngoài. Phổ biến, quán triệt cho cán bộ, công chức khi tham gia các hoạt động hợp tác với nước ngoài hiểu rõ và thực hiện nghiêm túc các nội dung, yêu cầu của việc hợp tác.

– Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, thẩm định, đánh giá đúng kết quả hợp tác trên từng lĩnh vực; cập nhật, phổ biến và đưa vào ứng dụng kịp thời các tri thức, kinh nghiệm tốt thu nhận được trong quá trình hợp tác. Tổng kết kịp thời các mô hình thí điểm, nhân rộng các mô hình có hiệu quả, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

– Thực hiện tốt việc quản lý, điều phối và sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Phân công, phân cấp rõ thẩm quyền trách nhiệm quản lý nhà nước cho các bộ, ngành, địa phương; Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước các hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật và cải cách tư pháp; Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước các hoạt động hợp tác với nước ngoài về cải cách hành chính.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật trong hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp; phát huy những kết quả đã đạt được; kịp thời phát hiện những sai sót để có giải pháp khắc phục, xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm.

– Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, không để các thế lực thù địch lợi dụng làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước và hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị. Trong quá trình hợp tác, nếu phát hiện thấy có vấn đề bất lợi cho ta, phức tạp về an ninh, phải thông tin, báo cáo kịp thời với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết; đình chỉ kịp thời các chương trình, dự án không phù hợp với các mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước, tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội…

– Tăng cường việc trao đổi thông tin, tuyên truyền để phía đối tác nước ngoài hiểu rõ những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật và những thành tựu ta đã đạt được trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.3- Về định hướng hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp trong thời gian tới

 

3.1- Về pháp luật, cần tập trung tổng kết, đánh giá kết quả triển khai thực hiện chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam (theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị); xác định nhu cầu và định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo.

 

3.2- Về cải cách tư pháp, cần bám sát các nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp năm 2015 đã được Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đề ra. Cụ thể là:

 Về hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp: Khẩn trương hoàn thành các đề án phục vụ việc nghiên cứu, đề xuất xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan về hình sự, dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp[1] đảm bảo thể chế hóa kịp thời, đúng đắn các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013.

– Về xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp:Tích cực chỉ đạo triển khai thi hành Luật tổ chức tòa án nhân dân (sửa đổi), Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi); khẩn trương xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành; kịp thời chuẩn bị nhân sự và cơ sở vật chất để các tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân đi vào hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
Khẩn trương hoàn thiện và triển khai thực hiện Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển cơ quan điều tra, cơ quan giám định tư pháp, cơ quan thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp trong Công an nhân dân đến năm 2020” theo quy định của Luật Công an nhân dân (sửa đổi). Xây dựng và trình Quốc hội dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

Xác định lại một số chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Tổng kết việc thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại; đề xuất việc xây dựng chính sách, pháp luật về tổ chức, hoạt động của thừa phát lại.

– Về hoàn thiện các chế định Luật sư, bổ trợ tư pháp: Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thi hành Luật luật sư và Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 30-3-2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư; đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; chỉ đạo tổ chức Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc. Tiếp tục chỉ đạo kiện toàn tổ chức, hoạt động giám định tư pháp; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành các quy chuẩn, quy trình giám định trên các lĩnh vực cụ thể để triển khai thực hiện.Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp và các hoạt động khác có liên quan.

– Về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu, đổi mới hoàn thiện nội dung chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách khác đối với thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên phù hợp với tính chất nhiệm vụ được giao. Hoàn thiện các đề án về thực trạng, giải pháp phòng, chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp (do Ban cán sự đảng: Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; Quân uỷ Trung ương; Đảng uỷ Công an Trung ương và Đảng đoàn Liên đoàn Luật sư Việt Nam chỉ đạo xây dựng).

– Về hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp: Tích cực chỉ đạo việc nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, xác định rõ thẩm quyền và phương thức giám sát đối với các hoạt động tư pháp. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Tăng cường việc giám sát đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về hoạt động tư pháp. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát; có cơ chế động viên nhân dân tham gia giám sát, phát hiện những vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.

– Về tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp: Tiếp tục củng cố, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về tư pháp với các quốc gia và tổ chức quốc tế; tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết; tích cực tham gia vào các hội nghị, diễn đàn tư pháp quốc tế.Tăng cường việc đàm phán ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước trong khu vực, các nước có quan hệ truyền thống, các nước có đông người Việt Nam sinh sống. Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố quốc tế… Tăng cường đào tạo cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu đáp ứng các yêu cầu hợp tác quốc tế về tư pháp.

– Về bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp: Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan có liên quan nghiên cứu, đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý ngân sách; bảo đảm kinh phí và đầu tư cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật phục vụ việc đổi mới tổ chức, hoạt động của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, các hoạt động bổ trợ tư pháp, các cơ sở đào tạo cán bộ về tư pháp theo chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; ưu tiên xây dựng trụ sở toà án nhân dân khang trang, hiện đại; trang bị các phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác điều tra, giám định tư pháp; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tư pháp.

[1]Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tạm giữ, tạm giam… theo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội.

Bài viết liên quan

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.