Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ tại BLHS 2015

Chuyên mụcLuật hình sự Người thi hành công vụ
Ứng tuyển cộng tác viên - Hocluat.vn

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều … BLHS 1999.

 

Các nội dung liên quan:

>>> Xem thêm: Các tội phạm về chức vụ / Các tội phạm về tham nhũng

 

Điều 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

 

Bình luận Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Khái niệm lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hai đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân do vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

2. Các yếu tố cấu thành tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

2.1. Khách thể

Khách thể của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trực tiếp xâm hại đến sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, làm cho các cơ quan, tổ chức; làm cho các tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước.

2.2. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

1. Thủ đoạn tội phạm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Tức là người phạm tội sử dụng quyền hạn được giao như là một phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, tội phạm này hoàn toàn không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản.

2. Hành vi khách quan của tội phạm: là hành vi làm trái công vụ tức là không làm hoặc làm không đúng không đầy đủ nhiệm vụ được giao

3. Hậu quả phạm tội: là dấu hiệu bắt buộc, cụ thể làm hành vi phạm tội phải gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp của tổ chức, công dân.

Phương tiện phạm tội: Bộ luật hình sự 2015 đã nâng hoặc bổ sung mức định lượng giá trị tài sản trong tình tiết định tội và định khung tăng nặng của tội nhận hối lộ. Cụ thể:

Bổ sung tình tiết định ”gây thiệt hại về tài sản từ 200 000 000 đồng đến dưới 1 000 000 000 đồng” cho khung phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

Bổ sung tình tiết tăng nặng ”gây thiệt hại về tài sản từ 200 000 000 đồng đến dưới 1 000 000 000 đồng” cho khung phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

Bổ sung tình tiết tăng nặng ”gây thiệt hại về tài sản 1 000 000 000 đồng trở lên” cho khung phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

2.3. Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của tội phạm đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

Lỗi cố ý trực tiếp.

– Động cơ phạm tội xuất phát từ động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân.

2.3. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm: là người có chức vụ, quyền hạn. So với tội tham ô tài sản, phạm vi chức vụ, quyền hạn của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ làm rộng hơn (liên quan đến việc quản lý tài sản hoặc không liên quan). So với tội hối lộ, phạm vi của tội này cũng tương tự, tuy nhiên, khác với tội nhận hối lộ, phạm vi của tội này cũng tương tự, tuy nhiên, khác với tội nhận hối lộ, dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ phải có hậu quả gây thiệt hại (đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân).

3. Hình phạt tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

– Người phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 356 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ năm đến 05 năm.

Tình tiết tăng nặng:

1. Đối với khung phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, Bộ luật hình sự năm 2015 đã sử đổi tình tiết ”phạm tội nhiều lần” thành ”phạm tội 02 lần trở lên” đồng thời, lượng hóa tình tiết gâu hậu quả nghiêm trọng thành mức ” thiệt hại từ 200 000 000 đồng đến dưới 1 000 000 000 đồng”. Cụ thể:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

+ Có tổ chức:

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 200 000 000 đồng đến dưới 1 000 000 000 đồng.

2. Đối với khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm, Bộ luật hình sự năm 2015 đã lượng hóa tình tiết ”gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng ”thành mức” gây thiệt hại về tài sản 1 000 000 000 đồng trở lên”.

– Ngoài ra, người  phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10 000 000 đồng (Bộ luật hình sự năm 1999 quy định mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến  30.000.000 đồng).

(Nội dung được trích dẫn từ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) TS. Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hùng).

Bài viết liên quan

Tác giả: Dân Luật 815 Bài viết
Xin chào! Tôi là Thoáng - Nếu bạn đang cần người hỗ trợ pháp lý hãy liên hệ với tôi qua SĐT: 0968.929.015 hoặc Facebook

Bình luận

avatar