Phân loại hiến pháp theo các tiêu chí cụ thể

Chuyên mụcLuật hiến pháp hien-phap

Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 160 nước có Hiến pháp. Theo tiêu chí khác nhau, Hiến pháp có thể được phân thành nhiều loại:

 

Các nội dung liên quan được tìm kiếm:

 

1. Hiến pháp thành văn và hiến pháp không thành văn

Hiến pháp thành văn tức là các quy định Hiến pháp được viết thành văn bản nhất định, thống nhất với các tên Hiến pháp, hiến ước, tuyên ngôn hoặc không thống nhất mà bao gồm nhiều văn bản. Dù là một hay nhiều văn bản, các Hiến pháp thành văn có thủ tục thông qua một cách chính thức và được tuyên bố là đạo luật cơ bản của nhà nước. Hiện nay, tuyệt đại đa số các Hiến pháp đều là Hiến pháp thành văn.

Hiến pháp không thành văn là Hiến pháp thể hiện trong các quy phạm pháp luật, tập tục truyền thống, thông lệ, án lệ … Liên quan đến việc tổ chức quyền lực nhà nước. Chúng thường không được quy định thành văn bản riêng và không được tuyên bố hoặc ghi nhận là luật cơ bản của nhà nước. Hiện nay, còn một số ít các nước có loại Hiến pháp này là Anh, New Zealand…

Về ý nghĩa, Hiến pháp thành văn có tính long trọng hơn, còn Hiến pháp không thành văn lại thuận tiện hơn ở thủ tục thông qua và sửa đổi.

2. Hiến pháp cổ điển và hiến pháp hiện đại

Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp được ban hành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và những Hiến pháp tuy mới được ban hành gần đây song theo trường phái cổ điển. Trong những điều kiện lúc bấy giờ, các Hiến pháp nói chung là ngắn gọn, có nội dung chủ yếu là các quy định về phân chia quyền lực, ít các quy định về quyền tự do. Một số Hiến pháp cổ để vẫn tiếp tục tồn tại phải bổ sung, chỉnh lý cho phù hợp với tình hình hiện tại.

Ví dụ: Hiến pháp Mỹ là Hiến pháp đặc trưng cho Hiến pháp cổ điển, chỉ có 7 điều, tập trung vào việc quy định trình tự thành lập và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước ở trung ương như Quốc hội, Tổng thống và Toà án tối cao, mối quan hệ giữa liên bang và các tiểu bang, trình tự sửa đổi Hiến pháp nhưng Hiến pháp Mỹ không hề có điều nào nói về các đảng phái chính trị, mặc dù các đảng phái chính trị chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị của Mỹ.

Ngoài ra Hiến pháp của Vương quốc Na uy năm 1814, Vương quốc Bỉ 1831, Liên bang Thuỵ sĩ 1874… cũng là những Hiến pháp cổ điển. Riêng có một số Hiến pháp như Hiến pháp Aïo năm 1920, Ailen 1937, Thuỵ Điển năm 1932… tuy được ban hành gần đây nhưng nội dung không có gì tiến bộ (hiện đại) hơn những Hiến pháp cổ điển được thông qua trước đó hàng trăm năm.

Hiến pháp hiện đại là những Hiến pháp phần lớn được ban hành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai với nội dung điều chỉnh được mở rộng. Trước cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân lao động và cùng với sự ảnh hưởng của các nước xã hội chủ nghĩa mà các Hiến pháp đó ngoài những quy định cổ điển như trước đây về tổ chức bộ máy nhà nước còn chứa đựng nhiều điều khoản có nội dung dân chủ, quy định thêm các quyền tự do của công dân như bầu cử, quyền có việc làm, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tham gia quản lý nhà nước…

Ví dụ: Các nước có Hiến pháp hiện đại là Pháp (Hiến pháp 1946, 1958), Nhật Bản (1948), CHLB Đức (1949)…

Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa đều thuộc Hiến pháp hiện đại.

Xét dưới bình diện là văn bản ghi nhận mối tương quan lực lượng xã hội tồn tại ở thời điểm thông qua Hiến pháp, thì Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp ghi nhận mối tương quan lực lượng chính trị – xã hội của giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến; còn Hiến pháp hiện đại là văn bản pháp lý ghi nhận mối tương quan lực lượng xã hội giữa giai cấp thống trị tư sản với một bên là nhân dân lao động.

3. Hiến pháp nhu tính và hiến pháp cương tính

Hiến pháp nhu tính là Hiến pháp có thủ tục thông qua bình thường như mọi đạo luật và có thể được sửa đổi bởi chính cơ quan lập pháp, theo thủ tục thông qua các đạo luật bình thường.

Ví dụ: Hiến pháp của Vương quốc Anh.

Hiến pháp cương tính là Hiến pháp được thông qua bởi một cơ quan đặc biệt là Quốc hội lập hiến chứ không phải là cơ quan lập pháp hoặc toàn dân biểu quyết. Thủ tục thông qua hoặc sửa đổi Hiến pháp cũng được quy định chặt chẽ hơn. Chẳng hạn việc thông qua bình thường chỉ cần quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành thì đối với Hiến pháp phải có 2/3 hoặc 3/4 tổng số đại biểu, hoặc hơn thế nữa sau khi đã được Quốc hội thông qua thì dự án phải được nhân dân bỏ phiếu phúc quyết…

4. Hiến pháp tư sản và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Xét theo bản chất giai cấp, Hiến pháp có thể phân chia thành Hiến pháp tư sản và Hiến pháp xã hội chủ nghĩa. Hiện nay thế giới cũng chỉ tồn tại hai loại Hiến pháp này tương ứng với hai chế độ dân chủ.

Hiến pháp xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm chung sau:

  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thiết lập một chính thể mới – chính thể xã hội chủ nghĩa.
  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa xác nhận rõ tính giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng mác-xít.
  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa ghi nhận, củng cố các cơ sở kinh tế xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa.
  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa ghi nhận, khẳng định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa xác định một cơ cấu tổ chức nhà nước dựa trên nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa và tập trung dân chủ, tức là phủ nhận học thuyết “tam quyền phân lập”.
  • Hiến pháp xã hội chủ nghĩa là đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp tư sản chủ nghĩa có những đặc điểm sau:

  • Tất cả các Hiến pháp tư sản đều tìm mọi cách để che giấu bản chất giai cấp tư sản, nó luôn thể hiện quyền thống trị của mình dưới khái niệm “chủ quyền nhân dân”.
  • Tất cả Hiến pháp tư sản đều ghi nhận, củng cố quyền chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất và hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới những hình thức khác nhau.
  • Hai hình thức chính thể phổ biến thường được các Hiến pháp tư sản ấn định là quân chủ lập hiến (như Anh, Nhật, Thái Lan…) và cộng hòa (như Pháp, Mỹ…). Nhưng dưới hình thức chính thể nào thì cũng là sự thể hiện quyền thống trị của giai cấp tư sản.
  • Hiến pháp tư sản thường có một số quy định nhắm bảo đảm cho Hiến pháp được thực hiện. Trung tâm của những bảo đảm này là hoạt động của Toà án Hiến pháp hay Hội đồng Hiến pháp.
  • Hiến pháp tư sản thường thể hiện với những biến dạng khác nhau nguyên tắc “phân chia quyền lực “ và quy định một cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước bảo đảm quyền thống trị của giai cấp tư sản, tìm mọi cách loại trừ, hạn chế sự tham gia của nhân dân vào việc thực hiện quyền lực nhà nước.
  • Hiến pháp tư sản đều có ghi nhận các quyền và tự do của công dân trong xã hội tư sản, trước hết là quyền và tự do cá nhân nhưng không phải các quyền và tự do này đương nhiên có được mà đó là thành quả đấu tranh kiên trì, quyết liệt của nhân dân lao động giành quyền sống và quyền tự do.

 


Các tìm kiếm liên quan đến Phân loại Hiến pháp: so sánh hiến pháp tư sản và hiến pháp xã hội chủ nghĩa, bản chất của hiến pháp tư sản, hiến pháp tư sản là gì, hiến pháp không thành văn là gì, đặc điểm của hiến pháp tư sản, hiến pháp tư bản chủ nghĩa, hiến pháp không thành văn của nước anh, câu hỏi ôn tập môn hiến pháp tư sản, phân biệt hiến pháp cứng và hiến pháp mềm, phân biệt hiến pháp thành văn và hiến pháp bất thành văn, phân biệt hiến pháp thành văn và hiến pháp không thành văn

Bài viết liên quan

Nơi nào mà luật pháp bị xem thường thì luật sư cũng không được coi trọng. Để luật pháp và luật sư cùng được coi trọng thì mỗi luật sư bằng chính hoạt động hàng ngày của mình cần vun đắp cho hệ thống luật pháp được trở nên công minh tiến bộ.

Bình luận

avatar
  Gửi mail cho tôi  
Thông báo