Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm xâm phạm sở hữu khác

Chuyên mụcLuật hình sự, Thảo luận pháp luật lua-dao-chiem-doat-tai-san
Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…

 

Các nội dung liên quan:

 

Tác giả sẽ phân tích, làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác nhằm đảm bảo cho việc định tội danhquyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được chính xác.

1.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XVI của BLHS năm 2015 (từ Điều 168 đến Điều 180), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chứccá nhân.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, là việc người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản tin, tưởng giả là thật, mà “tự nguyện” giao tài sản cho người phạm tội.

Điều 174 BLHS năm 2015 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”. Do đó, ta có thể đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.

Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hợp thành bởi hai yếu tố. Đó là đưa ra những thông tin gian dối và chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm lẫn, tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà trao tài sản cho người phạm tội. Khi giao tài sản chủ tài sản không biết mình bị lừa dối. Họ có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt là dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn bị xử lý về tội này.

Nếu tài sản chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Khi nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành.

Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản đó và cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ví dụ: A nhờ B chuyển cho C số tiền 50 triệu đồng. Trong lúc giao tiền cho C, B đã dùng thủ đoạn gian dối là ghi trong giấy giao nhận tiền là số tiền 50 triệu đồng, do tin tưởng B nên C đã ký vào giấy nhận tiền và không đếm cụ thể số tiền mình nhận, nhưng thực tế thì B chỉ giao cho C số tiền 40 triệu đồng. Khi về đến nhà C mới phát hiện ra số tiền mình nhận được chỉ là 40 triệu đồng, thiếu 10 triệu đồng. Như vậy B đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thể hiện ở việc B ghi vào giấy giao nhận tiền với C là số tiền 50 triệu đồng, nhưng thực tế B chỉ giao cho C số tiền 40 triệu đồng và giữ lại 10 triệu đồng.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, chính vì vậy việc xác định tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác do có hành vi khách quan gần giống với hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…

2.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 175 của BLHS năm 2015: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi phạm tội dưới đây chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a, Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b, Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản…”

Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố về khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan và chủ thể của tội phạm cơ bản giống nhau. Tuy nhiên giữa hai tội có sự khác nhau về thời điểm thực hiện hành vi lừa dối, cụ thể:

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa dối được người phạm tội thực hiện trước thời điểm thực hiện sự giao kết, thỏa thuận. Việc thực hiện sự giao kết, thỏa thuận trong trường hợp này là sau khi người phạm tội đã chiếm được lòng tin của người bị hại. Như vậy hành vi lừa dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt, là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra, không có hành vi lừa dối thì không thể chiếm đoạt được tài sản.

Ví dụ: A nói với B là do mẹ bị bệnh nặng và vay B số tiền 10 triệu đồng để đưa mẹ đi cấp cứu, do B tin tưởng nên cho A vay số tiền trên. Sau khi nhận được tiền A đã sử dụng số tiền đó để đánh bạc và bị thua, không có khả năng trả nợ cho B. Qua vụ án trên ta có thể thấy rằng A có hành vi lừa dối B làm cho B tin tưởng, sau đó B mới giao tài sản cho A. Như vậy, hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trước hành vi giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra.

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc giao nhận tài sản là ngay thẳng thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp như hợp đồng vay mượn, cho thuê, nhờ giữ hộ… do đó sau khi có được tài sản thông qua các hợp đồng, giao kết thì hành vi lừa dối mới xảy ra nhằm giữ lại tài sản đáng lẽ phải trả cho chủ tài sản. Sau khi hết thời hạn vay mượn, cho thuê … nhưng người phạm tội cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm phải chi trả tài sản, do đó hành vi lừa dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản và được thực hiện sau khi có sự giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội.

Ví dụ: M là bạn của H, ngày 15/3/2017 M hỏi mượn chiếc xe mô tô của H để đi lại và hẹn 5 ngày sau sẽ trả, H đồng ý và giao xe cho M. Sau khi nhận được xe, M đã sử dụng xe để tham gia đánh bạc và bị thua, do không có tiền trả nợ nên M đã mang xe của H đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài, sau đó không có khả năng chuộc xe về trả cho H, sau 02 tuần M nói với H là xe bị mất trộm. Như vậy hành vi lừa dối của M có sau hành vi M nhận tài sản từ H, mục đích nói dối của M là nhằm che dấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình (do M đã mang xe đi cầm cố và không có khả năng chuộc xe về trả cho H).

Như vậy giữa tội lạm dụng tín dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự khác nhau về thời điểm và mục đích của hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy để xác định người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải xem xét thời điểm giao nhận tài sản có hay không mục đích chiếm đoạt. Nếu người phạm tội có hành vi gian dối ngay từ đầu nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu tại thời điểm giao nhận tài sản người phạm tội chưa có hành vi gian dối, mà việc giao nhận được thực hiện một cách ngay thẳng nhưng sau khi có được tài sản thì người phạm tội mới có hành vi gian dối nhằm che dấu việc chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [1 ].

3.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Điều 355 của BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…”

Hành vi khách quan của tội này là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình khi thi hành công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thể hiện ở các thủ đoạn sau: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ; lạm dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thực chất là việc phân biệt trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 174 BLHS với tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác quy định tại Điều 355 BLHS.

Cả hai trường hợp phạm tội trên đều được thực hiện bằng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, chỉ khác nhau ở cách thức thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể như sau: Ở trường hợp lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc sử dụng chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có trong khi thi hành công vụ để lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Đây là một trong số các tội phạm về chức vụ nên hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện trong khi thi hành công vụ [ ].

Ví dụ: A là Chủ tịch xã, tuy không có thẩm quyền giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng A đã nói với B là mình có thẩm quyền và nhận của B số tiền 100.000.000 đồng để ký quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái quy định.

Ở trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điểm d, khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015), hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc dựa trên chức vụ quyền hạn mà người phạm tội có để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn không đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng chức vụ quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ cần người phạm tội có chức vụ quyền hạn và dựa trên chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội.

Ví dụ: A là điều tra viên huyện B, biết được vụ án H vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng lớn do Công an tỉnh C đang thụ lý giải quyết. A biết M là người nhà của H nên đã gọi điện thoại cho M nói là mình được phân công giải quyết vụ án và có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H với điều kiện M phải giao cho A số tiền 10.000.000 đồng, M đã tin tưởng và giao cho A số tiền 10.000.000đ.

Trong tình huống trên A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung là “Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”.

4.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng

Điều 198 của BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;b) Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…”

Tội lừa dối khách hàng là trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối trong cân đo, đong đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác… trong việc mua bán với khách hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Điểm giống nhau của cả hai tội này đều được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, tuy nhiên đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hành vi gian dối được thực hiện dưới mọi hình thức còn đối với tội lừa dối khách hàng hành vi gian dối chỉ diễn ra trong quan hệ mua bán bằng những hành vi cụ thể như cân, đo, đong đếm thiếu, mua bán hàng giả

5. Một số kiến nghị, đề xuất

Trên cơ sở nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian qua, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật đối với tội phạm này như sau:

Thứ nhất: Hoàn thiện các quy định của pháp luật để làm rõ hơn dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời sớm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLHS nói chung và đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng một cách toàn diện, phù hợp với quy định của BLHS hiện hành.

Thứ hai: Để tránh tình trạng nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu cùng sử dụng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về hành vi khách quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng: Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt phải là kết quả của hành vi lừa dối. Hành vi lừa dối nếu chỉ nhằm tiếp cận tài sản không có ý nghĩa quyết định đối với việc chiếm đoạt được tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội xâm phạm sở hữu khác nếu hành vi chiếm đoạt thỏa mãn CTTP của tội đó.

Thứ ba: Cần tăng cường về số lượng và nâng cao năng lực trình độ đối với các chủ thể tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán ….

Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, công tâm khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt phải nắm vững các quy định của pháp luật, trú trọng đến việc nâng cao nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật hình sự nhằm khắc phục tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.

Tóm lại, việc làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ tạo cơ sở lý luận cho việc nhận thức thống nhất, đúng đắn các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015, việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội có dấu hiệu pháp lý tương tự nhằm tránh sự nhầm lẫn trong việc áp dụng quy định của BLHS đối với các tội phạm này trên thực tế. Bên cạnh đó tác giả đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cho việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm này, bảo vệ được quyền sở hữu về tài sản cho Nhà nước, tổ chức cá nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

TRIỆU THỊ TUYẾT (Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


1.Lê Đăng Doanh (2005), Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS), Tạp chí Tòa án nhân dân.
2.Lê Đăng Doanh (2013), Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu, Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb .Tư pháp, Hà Nội
.

Bài viết liên quan

Bình luận

avatar