Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Bộ luật hình sự 2015

Chuyên mụcLuật hình sự Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản BLHS 1999.

 

Các nội dung liên quan:

>>> Xem thêm: Các tội xâm phạm sở hữu tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

 

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11 % đến 30%;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Làm chết người;

c) Gây thương tích, gây tn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

1. Khái niệm

Bắt cóc để nhằm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi bắt giữa người làm con tin để đe dọa nhằm buộc người khác giao tài sản theo yêu cầu của kẻ phạm tội để đổi lấy sự an toàn cho người bị bắt cóc.

2. Các yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

2.1. Mặt khách quan: 

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Có hành vi bắt giữ người khác làm con tin. Được hiểu là hành vi của người phạm tội thực hiện việc bắt giữ người trái pháp luật nhằm tạo ra điều kiện gây áp lực buộc người bị hại phải giao tài sản bằng nhiều phương thức thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực không chế để bắt giữ người, dùng thủ đoạn lừa dối để bắt giữ người, dùng thuốc gây mê để bắt giữ người…

Đặc điểm của việc bắc cóc là: Đối tượng bị bắt cóc thông thường phải là người có quan hệ huyến thống (cha, mẹ, con, anh, chị, em), quan hệ hôn nhân (vợ, chồng) hoặc quan hệ tình cảm, xã hội thân thiết khác (ông, bà, cha nuôi, mẹ nuôi, người yêu…) với người bị hại mà người phạm tội dự định đưa ra yêu cầu trao đổi bằng tài sản để chiếm đoạt.

b) Gây áp lực đòi người bị hại giao tài sản để đổi lấy người bị bắt giữ. Được hiểu là sau khi thực hiện xong hành vi bắt cóc con tin thì người phạm tội thực hiện việc gây sức ép về mặt tinh thần đối với người bị hại bằng việc đe dọa gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của con tin… nhằm buộc người bị hại phải giao một số tài sản để đối lấy sự án toàn về tính mạng, sức khỏe, kể cả nhân phẩm, tự do của người bị bắt cóc với các hình thức như: Nhờ người khác thông báo, thông báo qua điện thoại, viết thư,…

Thời điểm tội phạm hoàn thành được tính kể từ lúc người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin (với mục đích để chiếm đoạt tài sản) để đòi chuộc bằng tài sản.

Lưu ý:

  • Việc chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản tội này. (không bắt buộc có dấu hiệu này)
  • Người chuẩn bị phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản). Ngoài ra còn có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 05 khung, cụ thể như sau:

a) Khung một (khoản 1).

Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

b) Khung hai (khoản 2).

Có mức phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.

c) Khung ba (khoản 3).

Có mức phạt tù từ 10 năm đến 18 năm.

d) Khung bốn (khoản 4).

Có mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

đ) Khung năm (khoản 5).

Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội).

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể  người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5. Một số vấn đề cần chú ý:

  • Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, vì vậy nếu bắt cóc mà không nhằm mục đích chiếm đoạt mà nhằm mục đích khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người thực hiện hành vi bắt cóc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng như tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật.
  • Mục đích chiếm đoạt tài sản có thể có trước khi thực hiện hành vi bắt cóc. Nhưng nếu mục đích chiếm đoạt tài sản xuất hiện sau hành vi bắt cóc thì đó là sự chuyển hóa của tội phạm từ tội bắt, giam, giữ người trái pháp luật sang tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Nếu hành vi bắt cóc nhằm buộc người bắc cóc phải viết giấy nợ tài sản, sau đó thả ra và yêu cầu người bị bắt cóc thực hiện theo đúng cam kết, nếu không thì kiện ra tòa yêu cầu trả nợ như đã cam kết. Hành vi này được xem là thủ đoạn làm cho người bị bắt cóc lâm vào tình trạng không thể kháng cự – trường hợp này cấu thành tội cướp tài sản, chứ không phải tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Trong quá trình bắc cóc người làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã có hành vi xâm phạm đến danh sự, nhân phẩm, sức khỏe của người bị bắt cóc như làm nhục, gây thương tích, dâm ô, hiếp dâm… thì tùy vào từng trường hợp cụ thể họ còn phải bị truy cứu TNHS về những tội danh tương ứng trên. Riêng trường hợp bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã có hành vi làm chết con tin hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của con tin thì không phạm vào tội danh tương ứng độc lập đã nêu trên, mà phạm vào Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với khung tăng nặng.

 


Các tìm kiếm liên quan đến Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản blhs 2015, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 1999, tội bắt cóc trẻ em, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản điều 134 bộ luật hình sự năm 1999 là tội có, tội bắt giữ người trái pháp luật, cấu thành tội chiếm đoạt tài sản

Bài viết liên quan

Tác giả: Dân Luật 761 Bài viết
Nơi nào mà luật pháp bị xem thường thì luật sư cũng không được coi trọng. Để luật pháp và luật sư cùng được coi trọng thì mỗi luật sư bằng chính hoạt động hàng ngày của mình cần vun đắp cho hệ thống luật pháp được trở nên công minh tiến bộ.

Bình luận

avatar