Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng chất như thế nào trong thực tiễn?

Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng chất như thế nào trong thực tiễn?
Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng chất như thế nào trong thực tiễn?

Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng chất như thế nào trong thực tiễn? Đây là câu hỏi vừa mang ý nghĩa triết học, vừa gắn trực tiếp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo quy luật lượng – chất, sự vật, hiện tượng phát triển thông qua quá trình tích lũy dần dần về lượng; khi lượng đạt đến một giới hạn nhất định sẽ tạo ra sự thay đổi về chất thông qua điểm nút và bước nhảy. Nhìn lại quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, có thể thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này một cách linh hoạt: khi điều kiện chưa chín muồi thì kiên trì tích lũy lực lượng; khi thời cơ xuất hiện thì quyết đoán tạo bước chuyển; trong xây dựng đất nước thì từng bước đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

1. Đảng ta vận dụng quy luật lượng – chất trong cách mạng giải phóng dân tộc

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, việc vận dụng quy luật lượng – chất thể hiện rất rõ ở đường lối tích lũy lực lượng cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao và xây dựng căn cứ, hậu phương. Đảng ta không chủ quan, nóng vội tiến hành những cuộc tổng tiến công lớn khi tương quan lực lượng chưa cho phép, mà kiên trì xây dựng lực lượng từng bước, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từ đấu tranh cục bộ đến những thắng lợi có ý nghĩa quyết định.

Nếu nhìn dưới góc độ triết học, lượng trong cách mạng giải phóng dân tộc chính là sự tích lũy về lực lượng chính trị của quần chúng; lực lượng vũ trang; căn cứ địa cách mạng; kinh nghiệm tổ chức đấu tranh; tinh thần yêu nước; sự đoàn kết toàn dân; sự ủng hộ quốc tế; thế và lực trên chiến trường. Khi những yếu tố ấy tích lũy đủ mức, cách mạng mới có thể tạo ra bước nhảy về chất tức là chuyển từ thế bị động sang chủ động, từ phòng ngự sang tiến công, từ đấu tranh từng phần đến thắng lợi quyết định.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng cách mạng ban đầu còn non trẻ, điều kiện vật chất thiếu thốn, vũ khí thô sơ, kinh tế đất nước nghèo nàn. Nếu chỉ dựa vào ý chí chủ quan mà muốn giành thắng lợi nhanh chóng thì khó có thể thành công. Đảng đã lựa chọn đường lối kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính. Đây chính là biểu hiện của tư duy biện chứng: muốn có sự thay đổi lớn về chất trong cục diện chiến tranh thì trước hết phải tích lũy đủ lượng về lực lượng, thế trận, kinh nghiệm, hậu phương và niềm tin của nhân dân.

Quá trình xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng là một ví dụ tiêu biểu. Theo tài liệu lịch sử quân sự đến cuối năm 1945, Vệ quốc đoàn đã có 50.000 bộ đội chủ lực, được tổ chức thành 40 chi đội cùng hàng chục vạn người thuộc các đội tự vệ, tự vệ chiến đấu, du kích không thoát ly sản xuất, trực tiếp bảo vệ chính quyền cách mạng ở cơ sở. Đây là một minh chứng cho quá trình tích lũy lực lượng về lượng để chuẩn bị cho các bước phát triển mới của cách mạng.

Từ các cuộc chiến đấu ban đầu, quân và dân ta từng bước trưởng thành. Những thắng lợi như Việt Bắc Thu – Đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, các chiến dịch Trung du, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào… không chỉ là những thắng lợi quân sự riêng lẻ, mà còn là quá trình tích lũy về thế trận, kinh nghiệm chỉ huy, khả năng phối hợp lực lượng và niềm tin chiến thắng. Khi những điều kiện ấy đạt đến điểm nút, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã trở thành bước nhảy về chất, làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta tiếp tục vận dụng quy luật lượng – chất thông qua việc kiên trì xây dựng lực lượng cách mạng ở cả hai miền. Miền Bắc được xây dựng thành hậu phương lớn, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa chi viện cho miền Nam. Miền Nam phát triển đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang. Những thắng lợi từng bước đã làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường, tạo điều kiện cho các bước phát triển lớn hơn.

Trong giai đoạn này, nếu coi những thắng lợi cục bộ, sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng, sự phát triển của phong trào đấu tranh, khả năng chi viện của hậu phương miền Bắc và sự suy yếu dần của đối phương là những thay đổi về lượng thì Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính là bước nhảy về chất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Báo Nhân Dân khi nhìn lại thắng lợi kháng chiến chống Mỹ đã nhấn mạnh đây là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng – chất ở chỗ không nóng vội, không đốt cháy giai đoạn; biết tích lũy lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần và ngoại giao; đồng thời biết chớp thời cơ khi điểm nút xuất hiện để tạo ra bước nhảy quyết định. Đây là sự kết hợp giữa kiên trì chuẩn bị lâu dài và quyết đoán hành động khi điều kiện đã chín muồi.

2. Đảng vận dụng quy luật lượng – chất trong công cuộc Đổi mới

Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho việc Đảng ta vận dụng quy luật lượng – chất vào thực tiễn xây dựng đất nước. Trước Đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành chủ yếu theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp. Trong điều kiện lực lượng sản xuất còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, trình độ quản lý hạn chế, việc duy trì quá lâu cơ chế cũ đã làm bộc lộ nhiều bất cập. Khủng hoảng kinh tế – xã hội đặt ra yêu cầu phải thay đổi tư duy và phương thức quản lý.

Nếu phân tích theo quy luật lượng – chất, trước Đổi mới, những khó khăn của nền kinh tế không xuất hiện tức thời, mà là kết quả của quá trình tích lũy nhiều hạn chế về lượng: năng suất thấp; sản xuất trì trệ; lưu thông hàng hóa ách tắc; cơ chế phân phối bao cấp kém hiệu quả; lạm phát cao; đời sống nhân dân khó khăn; động lực sản xuất bị hạn chế. Khi các mâu thuẫn và hạn chế ấy tích lũy đến một mức nhất định, cơ chế cũ không còn phù hợp, đòi hỏi phải có bước nhảy về chất trong tư duy phát triển và quản lý kinh tế.

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã mở ra công cuộc Đổi mới. Về bản chất, đây là một bước chuyển lớn trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo: từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, từng bước vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạp chí Lịch sử Đảng nhận định rằng trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đây là sự đột phá tư duy lý luận của Đảng.

Điểm đáng chú ý là Đổi mới không phải là sự phủ định sạch trơn mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là đổi mới phương thức, cơ chế, bước đi để phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và điều kiện cụ thể của đất nước. Đây là sự vận dụng đúng tinh thần của quy luật lượng – chất: muốn tạo chất mới trong phát triển thì phải xuất phát từ điều kiện thực tế, tôn trọng trình độ tích lũy về lượng của nền kinh tế, không chủ quan áp đặt mô hình vượt quá khả năng hiện có.

Trong công cuộc Đổi mới, Đảng ta đã từng bước tháo gỡ những rào cản đối với sản xuất, thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, thu hút đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách thể chế và phát triển nguồn nhân lực. Những thay đổi này ban đầu có thể là từng bước, từng lĩnh vực, từng chính sách cụ thể; nhưng khi được tích lũy qua thời gian, chúng đã tạo ra sự chuyển biến sâu sắc về chất trong nền kinh tế và đời sống xã hội.

Tạp chí Cộng sản khi bàn về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khẳng định một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới thành công là việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đây là kết quả của việc từng bước hiện thực hóa lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và là sự đột phá về lý luận của Đảng.

Từ góc độ quy luật lượng – chất, Đổi mới cho thấy Đảng đã tránh được hai khuynh hướng sai lầm. Một là nóng vội, duy ý chí, muốn xây dựng ngay một mô hình kinh tế hoàn chỉnh khi điều kiện vật chất chưa đủ. Hai là bảo thủ, trì trệ, tiếp tục duy trì cơ chế không còn phù hợp dù thực tiễn đã đặt ra yêu cầu thay đổi. Đổi mới chính là sự lựa chọn bước nhảy phù hợp: không thay đổi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhưng đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế, đổi mới phương thức phát triển để giải phóng lực lượng sản xuất.

Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hội nhập quốc tế, phát triển hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế quốc gia. Những thành tựu ấy không phải là kết quả của một chính sách đơn lẻ, mà là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài về thể chế, nguồn lực, nhân lực, thị trường, khoa học – công nghệ và năng lực quản trị quốc gia. Chính quá trình tích lũy đó đã tạo nên sự thay đổi về chất của đất nước so với thời kỳ trước Đổi mới.

Như vậy, trong công cuộc Đổi mới, Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng – chất bằng cách nhận diện đúng điểm nút của cơ chế cũ, thực hiện bước nhảy trong tư duy phát triển, đồng thời kiên trì từng bước tích lũy các điều kiện mới để tạo ra chất lượng phát triển cao hơn.

3. Đảng vận dụng quy luật lượng – chất trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Việc xác định và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một biểu hiện đặc sắc trong quá trình Đảng ta vận dụng quy luật lượng – chất vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây không phải là sự sao chép máy móc mô hình bên ngoài, cũng không phải sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là quá trình tìm tòi, bổ sung, phát triển lý luận phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta.

Trước hết, Đảng nhận thức rằng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam chưa thể có ngay đầy đủ cơ sở vật chất, lực lượng sản xuất, trình độ quản lý, năng suất lao động và điều kiện xã hội của một nền kinh tế phát triển cao. Vì vậy, muốn đi lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, phát triển nhiều thành phần kinh tế, sử dụng cơ chế thị trường như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao đời sống nhân dân.

Tạp chí Cộng sản nêu rõ, từ chỗ từng có nhận thức coi kinh tế thị trường đối lập với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác định kinh tế thị trường là sản phẩm chung của văn minh nhân loại; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là một trong những trụ cột của thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Nhìn dưới góc độ quy luật lượng – chất, đây là sự thay đổi rất sâu sắc về chất trong tư duy kinh tế của Đảng. Chất mới ấy không xuất hiện đột ngột, mà được hình thành qua quá trình tổng kết thực tiễn, nhận diện hạn chế của cơ chế cũ, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, thử nghiệm chính sách, đánh giá kết quả và từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận. Nói cách khác, lượng kinh nghiệm thực tiễn và lượng tri thức lý luận được tích lũy qua nhiều năm đã tạo ra bước chuyển về chất trong đường lối phát triển kinh tế.

Trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng không xem thị trường là mục tiêu tự thân, mà xem thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả cần được đặt trong định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là phát huy mặt tích cực của thị trường như cạnh tranh, năng suất, sáng tạo, huy động nguồn lực, thúc đẩy sản xuất; đồng thời Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng, điều tiết, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo an sinh, hạn chế mặt trái của thị trường.

Một bài viết của Tạp chí Cộng sản năm 2017 khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng tạo kinh tế thị trường vào điều kiện Việt Nam, nhằm phát huy cao độ vai trò tích cực của kinh tế thị trường, đồng thời hạn chế tối đa những khuyết tật, mặt trái của kinh tế thị trường trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng thể hiện sự vận dụng quy luật lượng – chất một cách linh hoạt. Thay vì nóng vội phủ nhận các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế không phải nhà nước, Đảng ta từng bước thừa nhận, khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng phát triển trong khuôn khổ pháp luật. Sự phát triển của kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… đã góp phần tích lũy vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, việc làm, thị trường và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ở đây, lượng chính là sự gia tăng về quy mô sản xuất, số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư, trình độ lao động, khoa học – công nghệ, hạ tầng, năng lực quản trị, mức độ hội nhập và sức cạnh tranh. Khi những yếu tố này tích lũy đủ lớn, nền kinh tế sẽ có chuyển biến về chất: từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế hội nhập; từ sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn hơn; từ quản lý hành chính bao cấp sang quản lý bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách và công cụ thị trường.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng là quá trình vận dụng quy luật lượng – chất. Không thể có ngay một nền kinh tế hiện đại nếu chưa tích lũy đủ hạ tầng, vốn, công nghệ, nhân lực, thể chế và năng lực đổi mới sáng tạo. Vì vậy, Đảng chủ trương phát triển từng bước, vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa tái cơ cấu nền kinh tế, vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vừa hội nhập quốc tế, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là quá trình tích lũy lượng để hướng tới chất mới: một nền kinh tế phát triển cao hơn, hiện đại hơn, năng suất hơn và bền vững hơn.

Điều quan trọng là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và giữ vững mục tiêu chính trị – xã hội. Nếu chỉ phát triển thị trường mà xem nhẹ công bằng xã hội, an sinh, vai trò quản lý của Nhà nước và mục tiêu vì con người thì sẽ lệch định hướng. Ngược lại, nếu phủ nhận thị trường, không phát huy động lực sản xuất, không huy động nguồn lực xã hội thì lực lượng sản xuất khó phát triển. Vận dụng quy luật lượng – chất ở đây chính là biết phát triển kinh tế thị trường đến mức cần thiết để tích lũy nguồn lực nhưng phải định hướng sự phát triển ấy vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

4. Bài học rút ra từ việc Đảng vận dụng quy luật lượng – chất

Từ thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc, công cuộc Đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có thể rút ra nhiều bài học quan trọng về việc vận dụng quy luật lượng – chất.

Trước hết, bài học lớn nhất là phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ điều kiện thực tiễn của đất nước. Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh không thể chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Muốn tạo ra sự thay đổi về chất thì phải có quá trình tích lũy về lượng. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, đó là tích lũy lực lượng chính trị, quân sự, hậu phương và tinh thần yêu nước. Trong Đổi mới, đó là tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, đổi mới tư duy, tháo gỡ cơ chế cũ, phát triển lực lượng sản xuất. Trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là tích lũy nguồn lực, thể chế, công nghệ, nhân lực và năng lực quản lý.

Thứ hai, cần tránh nóng vội, đốt cháy giai đoạn. Khi lực lượng cách mạng chưa đủ mạnh, nếu mạo hiểm đối đầu theo kiểu chủ quan thì khó thắng lợi. Khi lực lượng sản xuất còn thấp, nếu áp đặt quan hệ sản xuất vượt quá trình độ phát triển thì có thể làm triệt tiêu động lực kinh tế. Khi doanh nghiệp, thị trường, thể chế và con người chưa đủ điều kiện, nếu triển khai chính sách quá nhanh, quá cứng nhắc thì hiệu quả sẽ thấp. Đây là bài học rất sâu sắc từ quy luật lượng – chất: bước nhảy chỉ có ý nghĩa khi lượng đã tích lũy đến điểm nút.

Thứ ba, phải chống bảo thủ, trì trệ khi thực tiễn đã đặt ra yêu cầu đổi mới. Nếu chỉ nhấn mạnh tích lũy mà không dám chuyển hóa thì cũng không đúng quy luật. Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh ở chỗ khi cơ chế cũ không còn phù hợp, đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới. Khi tư duy cũ về kinh tế thị trường không còn phù hợp với thực tiễn phát triển, Đảng từng bước bổ sung, phát triển nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy vận dụng quy luật lượng – chất không chỉ là kiên trì, mà còn là dám đổi mới khi điều kiện đã chín muồi.

Thứ tư, phải biết lựa chọn hình thức bước nhảy phù hợp. Không phải mọi bước nhảy đều là sự thay đổi đột ngột trong thời gian ngắn. Có bước nhảy diễn ra bằng một sự kiện quyết định như thắng lợi của chiến dịch quân sự; nhưng cũng có bước nhảy diễn ra thông qua quá trình đổi mới từng phần, từng bước, từng lĩnh vực. Công cuộc Đổi mới là một bước nhảy về chất trong tư duy và đường lối phát triển nhưng được triển khai theo phương châm thận trọng, từng bước, vừa làm vừa tổng kết, vừa đổi mới vừa giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

Thứ năm, cần kết hợp giữa tích lũy lượng và nâng cao chất lượng phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, bài học này càng có ý nghĩa. Không chỉ tăng trưởng về số lượng, quy mô, tốc độ, mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả quản trị, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Nếu chỉ tăng lượng mà không nâng chất, sự phát triển có thể thiếu bền vững. Ngược lại, muốn nâng chất thì vẫn phải tích lũy đủ lượng về nguồn lực, tri thức, công nghệ, thể chế và con người.

Thứ sáu, việc vận dụng quy luật lượng – chất của Đảng cho thấy tầm quan trọng của tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận. Lý luận không thể đứng ngoài đời sống; thực tiễn lại cần lý luận soi đường. Đảng đã từng bước bổ sung nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về Đổi mới, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở tổng kết thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm thế giới. Đây chính là quá trình tích lũy tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để tạo ra chất mới trong tư duy lãnh đạo.

Tóm lại, bài học rút ra là: muốn phát triển đúng hướng phải biết kiên trì tích lũy, nhận diện điểm nút, thực hiện bước nhảy phù hợp, tránh nóng vội, chống bảo thủ và luôn xuất phát từ thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Đây không chỉ là bài học của Đảng trong lãnh đạo cách mạng và phát triển đất nước, mà còn là bài học phương pháp luận có thể vận dụng vào quản lý, kinh tế, giáo dục, lao động và đời sống xã hội.

Kết luận

Đảng ta đã vận dụng quy luật lượng chất như thế nào trong thực tiễn? Có thể khái quát rằng Đảng đã vận dụng quy luật này một cách sáng tạo trong cả cách mạng giải phóng dân tộc, công cuộc Đổi mới và quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng kiên trì tích lũy lực lượng, xây dựng thế trận, chớp thời cơ để tạo bước nhảy giành thắng lợi quyết định. Trong Đổi mới, Đảng nhận diện đúng giới hạn của cơ chế cũ, đổi mới tư duy phát triển và từng bước giải phóng lực lượng sản xuất. Trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng vận dụng cơ chế thị trường để tích lũy nguồn lực, phát triển lực lượng sản xuất nhưng vẫn giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Từ đó có thể rút ra bài học sâu sắc: mọi sự phát triển bền vững đều cần tích lũy đủ lượng, nhận diện đúng điểm nút và thực hiện bước nhảy phù hợp; tránh cả nóng vội chủ quan lẫn bảo thủ trì trệ trong thực tiễn.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?
★ ★ ★ ★ ★

Đã có 915 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!