Các loại hình chứng khoán phái sinh

Chuyên mụcLuật chứng khoán, Thảo luận pháp luật Người nắm giữ chứng khoán

Tóm tắt: Trong vài chục năm qua, chứng khoán phái sinh ngày càng trở nên phổ biến trong giao dịch chứng khoán và đã trở thành công cụ không thể thiếu của các nhà quản lý danh mục đầu tư[1]. Chứng khoán phái sinh (derivatives) khá đa dạng chủng loại và từng loại hình của chứng khoán phái sinh lại cung cấp cho các nhà đầu tư thêm các lựa chọn khác nhau. Vì thế, tại các quốc giathị trường chứng khoán phát triển thường không thể thiếu sự tồn tại của các loại hình chứng khoán phái sinh. Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán phái sinh mới chính thức được quy định gần đây[2], nên với nhiều nhà đầu tư Việt Nam, các loại hình chứng khoán phái sinh vẫn còn khá xa lạ. Nghiên cứu về các loại hình chứng khoán phái sinh, vì vậy, là rất cần thiết.

 

Abstract: For decades of years, derivative securities have become popular in stock trading and have become an indispensable option for portfolio managers. The derivative securities are quite diverse and each type of the derivative securities provides the investors with different options. Therefore, in countries of the developed stock markets, it is often impossible to lack the appearence of the derivatives. In Vietnam, the new derivative stock market is officially regulated recently, so for several Vietnamese investors, the derivative securities are still quite new options. Therefore, studies of the derivative securities is so necessary.

 

Các loại hình của chứng khoán phái sinh

Thị trường chứng khoán là thị trường tài chính đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế ở các quốc gia trên thế giới[3]. Hiện nay, ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, thị trường chứng khoán luôn được quan niệm “là một trong số kênh tích lũy tư bản”[4]. Đây là nơi phân phối các nguồn vốn và có khả năng sinh lợi nhuận rất tốt cho nhà đầu tư. Trong đó, không thể không kể đến sự đóng góp rất lớn của các loại hình chứng khoán phái sinh. Trên thực tế, tại hầu hết các quốc gia, các loại hình chứng khoán phái sinh luôn thu hút được sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư bởi các đặc tính ưu việt của nó.

Đối với Việt Nam, thị trường chứng khoán đang thu hút “các nguồn vốn nhàn rỗi được nhà đầu tư chuyển giao trực tiếp cho những người cần vốn như các công ty hay Chính phủ và chính quyền địa phương để sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”[5]. Tuy nhiên, chứng khoán là loại hình đầu tư mạo hiểm, vì thế, để giúp cho nhà đầu tư có thể hạn chế rủi ro thì việc quy định các loại hình chứng khoán phái sinh là rất cần thiết và quan trọng.

Về bản chất, “chứng khoán phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu”[6]. Chứng khoán phái sinh thường tồn tại dưới các loại hình như: hợp đồng kỳ hạn (forward); hợp đồng tương lai (future); hợp đồng quyền chọn (option bao gồm hai loại: quyền chọn mua và quyền chọn bán); và hợp đồng hoán đổi (swaps).

Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là chứng khoán phái sinh giao dịch thỏa thuận, xác nhận cam kết mua hoặc bán một số lượng tài sản cơ sở nhất định theo một mức giá đã được xác định vào một ngày đã được ấn định trước trong tương lai[7]. Có ý kiến cho rằng, “Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng thỏa thuận trước để mua hoặc bán một lượng tài sản, chứng khoán tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá giao dịch được xác định trước”[8]. Quan điểm khác cho rằng, Hợp đồng kỳ hạn chỉ “là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia để mua và bán một loại tài sản ở một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước ngay ở thời điểm hiện tại”[9]. Đối tượng mua bán trong Hợp đồng kỳ hạn khá đa dạng, phong phú vì có thể là các loại hàng hóa nông sản như lúa, gạo, ca cao, hoa quả hay các loại tiền tệ… Mặt khác, giữa Hợp đồng kỳ hạn với Hợp đồng giao ngay khác nhau ở chỗ: Hợp đồng giao ngay là sự thỏa thuận khi mua hoặc bán một loại tài sản ở vào thời điểm hiện tại; với Hợp đồng kỳ hạn, bên mua đã đồng ý sẽ mua tài sản (chứng khoán) vào một thời điểm đã xác định rõ trong tương lai và với mức giá cũng đã được các bên thỏa thuận, xác định trước. Đương nhiên, bên bán cũng đã đồng ý sẽ bán vào thời điểm trên và với mức giá căn cứ theo sự thỏa thuận giữa hai bên trong Hợp đồng kỳ hạn. Bên cạnh đó, cần có sự phân biệt giữa Hợp đồng kỳ hạn với Hợp đồng tương lai vì cả hai loại hợp đồng này có khá nhiều điểm tương đồng nhau. Tuy nhiên, “điểm khác biệt của Hợp đồng kỳ hạn (forward) với Hợp đồng tương lai (future) là giá cả do hai bên tự thỏa thuận với nhau dựa theo những ước lượng mang tính cá nhân và giá này vào thời điểm giao nhận hàng hóa có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng”[10]. Giữa hai loại hợp đồng này còn có rất nhiều điểm khác biệt như: bản chất của từng loại hợp đồng, phương thức giao dịch, hình thức giao dịch, tính thị trường, rủi ro, thời điểm thực hiện hợp đồng…

Hợp đồng tương lai

Về bản chất, “Hợp đồng tương lai là loại hợp đồng cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai”[11]. Đây chính là “hợp đồng thỏa thuận trước để mua hoặc bán một lượng tài sản, chứng khoán với mức giá giao dịch được xác định trước vào một thời điểm xác định trong tương lai”[12]. Cần lưu ý, mức giá mà các bên đã xác định trong tương lai sẽ không bị phụ thuộc vào thị trường tại thời điểm giao dịch đó. Có thể xem xét ví dụ: tháng 04 năm 2019, nhà đầu tư X ký Hợp đồng tương lai với công ty chứng khoán Y để mua 10.000 cổ phiếu có mã giao dịch ABC với giá 20.000đồng/cổ phiếu và với thời điểm mua vào tháng 12/2019. Như vậy, vào thời điểm mua thì công ty Y phải bán cho nhà đầu tư X đủ 10.000 cổ phiếu mã ABC với giá 20.000đồng/cổ phiếu. Còn nhà đầu tư X cũng phải mua 10.000 cổ phiếu có mã ABC với giá 20.000đồng/cổ phiếu. Cho dù thời điểm giao dịch tháng 12/2019, giá của mã ABC đã có thể thay đổi rất nhiều so với thời điểm tháng 04/2019. Trên thực tế, “Hợp đồng tương lai đã được áp dụng trong giao dịch kinh tế từ rất sớm, trước hết áp dụng cho giao dịch hàng hóa”[13]. Ban đầu, “đối tượng của các Hợp đồng tương lai trên thị trường là các mặt hàng đơn giản như lúa mỳ hay cà phê. Các nhà đầu tư mua và bán các Hợp đồng tương lai với mục đích nhằm giảm bớt sự lo ngại hay xảy ra những biến cố khiến giá bị đẩy lên cao hay xuống thấp trong những tháng sau đó… Hợp đồng tương lai thường được các nhà đầu tư xem là một phương thức tốt để hạn chế rủi ro trong kinh doanh”[14]. Bên cạnh đó, pháp luật hiện nay còn quy định một số hình thức giao dịch của Hợp đồng tương lai chứng khoán như Hợp đồng tương lai chỉ số và Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ. Trong đó, Hợp đồng tương lai chỉ số được xác định: “tài sản cơ sở của hợp đồng tương lai chỉ số là chỉ số chứng khoán do Sở giao dịch chứng khoán thiết kế trên cơ sở các nguyên tắc xây dựng và quản lý chỉ số do Sở giao dịch chứng khoán ban hành sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Hợp đồng tương lai chỉ số khi đáo hạn được thực hiện dưới hình thức thanh toán bằng tiền theo quy chế do Trung tâm lưu ký chứng khoán ban hành sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận”[15].

Hợp đồng quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người nắm giữ có quyền mua hoặc bán một loại chứng khoán vào thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá xác định trước”[16]. Nói cách khác, “quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước”[17]. Như vậy, quyền lựa chọn mua hoặc quyền bán cổ phiếu được hiểu là quyền của các nhà đầu tư (không phải là nghĩa vụ), trong đó, nhà đầu tư được phép mua hoặc bán một số lượng cổ phiếu được xác định trước theo giá cũng đã xác định trước trong một thời điểm tương lai. Hợp đồng quyền chọn được chia thành hai loại: Hợp đồng quyền chọn mua; Hợp đồng quyền chọn bán.

Hợp đồng quyền chọn mua. Về nguyên tắc, “người mua option sẽ trả cho người bán option một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người mua option sẽ có quyền được mua (nhưng không bắt buôc phải mua) một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hóa…) theo một mức giá đã được thỏa thuận trước tại thời điểm đã xác định trong tương lai. Người bán option nhận được tiền từ người mua option nên họ có trách nhiệm phải bán một lượng chứng khoán nhất định theo một giá cả đã được thỏa thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai (hoặc được thực hiện trước ngày đó) khi người mua option muốn thực hiện cái quyền được mua”[18]. Ví dụ, giả thiết giá cổ phiếu CTG trong thời điểm hiện tại là 30.000đ/cổ phiếu, nhà đầu tư dự đoán rằng giá CTG sẽ vẫn tiếp tục tăng lên trong tương lai và hiện tại, nếu muốn mua 10.000 cổ phiếu CTG thì sẽ phải trả số tiền 300.000.000 đồng, mặt khác, nhà đầu tư lại lo ngại nếu thời gian sau, CTG giảm giá 50% thì sẽ mất 150.000.000đ. Vì vậy, để hạn chế bớt rủi ro nhưng vẫn có thể thực hiện theo ý định muốn mua thì nhà đầu tư có thể tham gia Hợp đồng quyền chọn mua. Theo đó, nhà đầu tư ký Hợp đồng quyền chọn mua với giá thỏa thuận trước là 30.000đ/cổ phiếu, thời gian 3 tháng, số lượng 10.000 cổ phiếu và với mức phí theo thỏa thuận 10% (3000đ/cổ phiếu). Như vậy, trong thời gian này nếu giá của CTG tăng trên 30.000đ/cổ phiếu (có thể là 50.000đ/cổ phiếu) thì nhà đầu tư có thể thực hiện quyền được mua chứng khoán với giá thỏa thuận trước là 30.000đ/cổ phiếu (mua tối đa 10.000 cổ phiếu) và sau đó bán lại trên thị trường với giá tạm xác định là 50.000đ/cổ phiếu. Từ đó, nếu tính toán trừ đi chi phí 3.000đ/cổ phiếu của Hợp đồng quyền chọn mua thì nhà đầu tư đã có lợi nhuận là 17.000đ/cổ phiếu và với 10.000 cổ phiếu sẽ là 170.000.000 đồng. Trường hợp giá của CTG giảm xuống liên tục cho đến ngày cuối của hợp đồng (tạm gọi CTG chỉ còn 10.000đ/cổ phiếu) thì nhà đầu tư có quyền không thực hiện việc chọn mua của mình và chỉ phải mất tiền phí 3.000đ/cổ phiếu (mất 30.000.000 đồng). Qua đó, có thể thấy rằng, với Hợp đồng quyền chọn mua thì trong trường hợp xấu nhất, người mua cũng sẽ chịu lỗ ở mức giới hạn trước, còn nếu biết xem xét, tính toán thì lợi nhuận thu được có thể sẽ rất lớn. Ngược lại, người bán option (bên cung cấp dịch vụ) cũng có thể thu được lợi nhuận từ phí mua option của bên mua phải trả.

Hợp đồng quyền chọn bán. Khác với Hợp đồng quyền chọn mua, Hợp đồng quyền chọn bán được nhà đầu tư sử dụng như một công cụ nhằm tự bảo vệ khi họ dự báo giá chứng khoán có khả năng sụt giảm trong tương lai. Ví dụ, nhà đầu tư có 10.000 cổ phiếu CTG với giá 30.000đ/cổ phiếu trong thời điểm hiện tại và lo lắng giá sẽ sụt giảm trong lương lai, nhà đầu tư có thể ký Hợp đồng quyền chọn bán với nhà cung ứng dịch vụ với giá 3.000đ/cổ phiếu trong thời hạn 03 tháng tới. Như vậy, về nguyên tắc, trong thời hạn 03 tháng hợp đồng, nhà đầu tư có thể bán bất kỳ lúc nào cho nhà cung ứng dịch vụ với giá 30.000đ/cổ phiếu với khối lượng tối đa 10.000 cổ phiếu CTG. Vì thế, nếu trong tương lai 03 tháng mà giá CTG giảm xuống (tạm gọi chỉ còn 10.000đ/cổ phiếu) thì nhà đầu tư đã được đảm bảo hạn chế rủi ro và chỉ mất khoản phí là 3.000đ/cổ phiếu. Trường hợp giá CTG tăng lên thì nhà đầu tư có quyền không bán và nhà cung ứng dịch vụ sẽ được hưởng lợi từ khoản phí 3.000đ/cổ phiếu. Từ đó, cho thấy, các Hợp đồng quyền chọn được sáng tạo dựa trên cơ sở tạo điều kiện cho các nhà đầu tư luôn có cảm giác an toàn, vì các nhà đầu tư đã chắc chắn sẽ được mua hoặc được bán chứng khoán với giá đã được ấn định. Các nhà đầu tư chỉ bỏ ra một khoản phí và nếu biết tính toán hợp lý, sẽ thu được lợi nhuận đáng kể.

Hiện nay, có hai loại quyền chọn đang áp dụng trên các thị trường chứng khoán: quyền chọn kiểu châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ. Đối với quyền chọn kiểu châu Âu, quyền thực hiện hợp đồng chỉ được thực hiện đúng vào thời điểm kết thúc hợp đồng, còn quyền chọn kiểu Mỹ cho phép nhà đầu tư thực hiện quyền trong thời điểm bất kỳ trong hợp đồng trước thời điểm kết thúc hợp đồng[19].

Hợp đồng hoán đổi (swaps)

Hợp đồng hoán đổi (swaps) được xem là một thỏa thuận giữa hai bên về việc hoán đổi các dòng tiền phát sinh từ các công cụ tài chính trong tương lai. Hợp đồng sẽ quy định rõ thời điểm hoán đổi dòng tiền và phương pháp tính toán cụ thể”[20]. Hay có thể quan niệm, “Swaps cũng là một công cụ phái sinh dựa trên sự trao đổi và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực lãi suất và tiền tệ… Swaps là một cam kết song phương, theo đó, các nhà đầu tư sẽ trao cho nhau vào một ngày nhất định một số lượng tiền nhất định đồng tiền của một quốc gia để lấy một số lượng nhất định đồng tiền của quốc gia khác đã được quy đổi theo tỷ giá ngoại tệ hiện tại trong một thời gian xác định với điều hứa hoàn lại vốn khi đến kỳ hạn”[21]. Mặc dù vậy, cho đến nay, loại hình chứng khoán phái sinh này vẫn còn khá mới lạ tại Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự phát triển và tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, chứng khoán phái sinh swaps sẽ có nhiều cơ hội, triển vọng phát triển trong tương lai.

Tóm lại, các loại hình chứng khoán phái sinh mang lại cho nhà đầu tư sự an toàn. Nói cách khác, “thị trường chứng khoán phái sinh đã bước đầu thể hiện vai trò là một kênh đầu tư và phòng vệ rủi ro hiệu quả, đặc biệt khi thị trường cơ sở biến động mạnh”[22]. Do vậy, đây có thể là sự bảo đảm để các nhà đầu tư có thể yên tâm và mạnh dạn tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Vì thế, nếu biết khai thác và quản lý phù hợp, chứng khoán phái sinh có thể mang lại những đóng góp rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam.

Tác giả: TS.Nguyễn Vinh Hưng, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn tin: bài viết đăng trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 08(384)-2019

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Thế Anh (2007), Cẩm nang trong đầu tư chứng khoán, Nxb. Thanh niên.

2. Phạm Thế Anh (2007), Hướng dẫn đầu tư trên thị trường chứng khoán, Nxb. Thanh niên.

3. Báo điện tử An ninh thủ đô (2018), Thị trường chứng khoán phái sinh: Những điều cần biết trước khi tham gia, nguồn truy cập: https://anninhthudo.vn/kinh-doanh/thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-nhung-dieu-can-biet-truoc-khi-tham-gia/785108.antd , ngày truy cập: 04/3/2019.

4. Báo điện tử Báo mới (2018), Thị trường chứng khoán phái sinh: những điều cần biết trước khi tham gia, nguồn truy cập: https://baomoi.com/thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-nhung-dieu-can-biet-truoc-khi-tham-gia/c/27996163.epi , truy cập ngày 28/02/2019.

5. Báo điện tử Cafef.vn (2018), Góc tối của chứng khoán phái sinh, nguồn truy cập: http://cafef.vn/goc-toi-cua-chung-khoan-phai-sinh-20180712090321451.chn, ngày truy cập: 04/3/3019.

6. Báo điện tử Nhân dân (2019), Thị trường chứng khoán phái sinh tăng trưởng vượt kỳ vọng, nguồn truy cập: http://www.nhandan.com.vn/chungkhoan/item/38744502-thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-tang-truong-vuot-ky-vong.html , truy cập ngày 27/02/2019.

7. Báo điện tử Tin nhanh chứng khoán (2019), Chính phủ muốn đẩy mạnh phát triển thị trường phái sinh, nguồn truy cập: https://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/chinh-phu-muon-day-manh-phat-trien-thi-truong-phai-sinh-253948.html , truy cập ngày 04/3/2019.

8. Báo điện tử Thời báo Tài chính Việt Nam (2017), Chính thức khai trương thị trường chứng khoán phái sinh, nguồn truy cập: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/chung-khoan/2017-08-10/chinh-thuc-khai-truong-thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-46521.aspx ; truy cập ngày 27/02/2019.

9. Báo điện tử Vietnambiz.vn (2019), Thị trường phái sinh lên ngôi với vai trò đầu cơ, nguồn truy cập: https://vietnambiz.vn/thi-truong-phai-sinh-len-ngoi-voi-vai-tro-dau-co-53346.htm, truy cập ngày 27/02/2019.

10. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 11/2016/TT-BTC ngày 19/01/2016 về Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2015/NĐCP ngày 15/5/2015 của Chính phủ về Chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh.

11. Chính phủ (2015), Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015 về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh.

12. Nguyễn Vinh Hưng (2017), Từ truyền thống thương mại đến việc định hướng các loại hình doanh nghiệp tham gia kinh doanh tại Việt Nam, Tạp chí Quản lý Kinh tế, số 83 (tháng 7 + 8).

13. Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, Nxb. Tài chính, tr. 371.

14. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

15. Quốc hội (2010), Luật Chứng khoán năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010).

16. Nguyễn Văn Tuyến (2008), Giáo trình Luật Chứng khoán, Nxb. giáo dục.

17. Lê Thị Thu Thủy (2016), Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.


[1] Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, Nxb. Tài chính, tr. 371

[2] Báo điện tử Thời báo Tài chính Việt Nam (2017), Chính thức khai trương thị trường chứng khoán phái sinh, nguồn: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/chung-khoan/2017-08-10/chinh-thuc-khai-truong-thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-46521.aspx; truy cập ngày 27/02/2019.
[3] Lê Thị Thu Thủy (2016), Giáo trình Pháp luật về thị trường chứng khoán, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 15.
[4] Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 331.
[5] Nguyễn Văn Tuyến (2008), Giáo trình Luật Chứng khoán, Nxb. Giáo dục, tr. 6.
[6] Phạm Thế Anh (2007), Cẩm nang trong đầu tư chứng khoán, Nxb. Thanh niên, tr. 129.
[7] Điểm c, khoản 1, Điều 3 của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015 về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh.
[8] Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, sđd, tr. 346.
[9] Báo điện tử Báo mới (2018), Thị trường chứng khoán phái sinh: những điều cần biết trước khi tham gia, nguồn truy cập: https://baomoi.com/thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-nhung-dieu-can-biet-truoc-khi-tham-gia/c/27996163.epi , truy cập ngày 28/02/2019.
[10] Phạm Thế Anh (2007), Hướng dẫn đầu tư trên thị trường chứng khoán, Nxb. Thanh niên, tr. 12.
[11] Khoản 8, Điều 6 của Luật Chứng khoán năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010).
[12] Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, sđd, tr. 346.
[13] Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, sđd, tr. 346.
[14] Phạm Thế Anh (2007), Cẩm nang trong đầu tư chứng khoán, sđd, tr. 130.
[15] Điều 3 của Thông tư số 11/2016/TT-BTC ngày 19/01/2016 về Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2015/NĐCP ngày 15/5/2015 của Chính phủ về Chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh.
[16] Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, sđd, tr. 350.
[17] Khoản 7, Điều 6 của Luật Chứng khoán năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2010).
[18] Phạm Thế Anh (2007), Hướng dẫn đầu tư trên thị trường chứng khoán, tr. 12.
[19] Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, sđd, tr. 351.
[20] Báo điện tử Báo mới (2018), Thị trường chứng khoán phái sinh: những điều cần biết trước khi tham gia, sđd, truy cập ngày 28/02/2019.
[21] Phạm Thế Anh (2007), Hướng dẫn đầu tư trên thị trường chứng khoán, tr. 14.

[22] Báo điện tử Nhân dân (2019), Thị trường chứng khoán phái sinh tăng trưởng vượt kỳ vọng, nguồn truy cập: http://www.nhandan.com.vn/chungkhoan/item/38744502-thi-truong-chung-khoan-phai-sinh-tang-truong-vuot-ky-vong.html , truy cập ngày 27/02/2019.

Tác giả: Dân Luật 922 Bài viết
1900.0197 - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của mọi nhà! Gọi ngay 1900.0197 để được luật sư tư vấn, giải đáp kịp thời vấn đề pháp lý mà bạn đang gặp phải!

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*