Tổng hợp các bài tập tình huống Luật hình sự có lời giải

Tổng hợp các bài tập tình huống luật hình sự

Tổng hợp các bài tập tình huống luật hình sự có đáp án được gửi từ sinh viên các trường Đại học Luật Hà Nội, đại học Luật Huế, đại học Luật TP Hồ Chí Minh để các bạn cùng ngâm cứu ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới

 

Danh mục tài liệu gồm có:

– 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)

– 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)

– Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)

– Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)

 

Mấy bài này tương đối hay và phức tạp nên mình chia thành các bài nhỏ và dẫn link riêng đến từng bài

 

>>> Tình huống xúi giục người khác giết người bị coi là đồng phạm – Bài tập học kỳ Luật Hình sự 2

>>> Tình huống không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn là đồng phạm

>>> Tình huống lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc không trả lại vé số trúng thưởng

>>> Tình huống về tội trộm cắp tài sản thông qua việc rút bớt hàng hóa khi vận chuyển

>>> Tình huống về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

 

"Cảm ơn thầy Trần Bá Tâm - Giảng viên bộ môn Luật hình sự - ĐH luật Hà Nội đã bỏ thời biên soạn bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp.
Cảm ơn cô Đặng Thị Phương Linh - Giảng viên bộ môn Luật hình sự - Khoa luật - ĐH Vinh đã biên soạn đề cương ôn tập Luật hình sự - Các dạng bài tập cơ bản.
Cảm ơn các bạn sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Huế, Đại học Luật HCM đã gửi tài liệu cho Họcluật.VN giúp trang xây dựng kho đề cương môn Luật hình sự."

 

Xem thêm:

 


 

Dưới đây là 20 bài tập hình huống hình sự thường gặp nhất trong các đề thi học phần của các trường Đại học Luật, các bạn nên tham khảo.

 

Tải về máyTổng hợp các bài tập tình huống Luật hình sự có lời giải

 

Tình huống 0: Tội phạm

V là người buôn bán ma túy chuyên nghiệp đã thuê G với số tiền 500 nghìn đồng để G (15 tuổi) giúp vận chuyển số Heroin  từ chợ về nhà V. Số Heroin được gói trong bọc quà sinh nhật. G đang mang từ chợ về nhà V thì bị công an bắt giữ. Lượng Heroin mà G vận chuyển nếu bị coi là tội phạm có thể được xử lí theo khoản 2 Điều 194 BLHS.

 

Câu hỏi:

a. Ông H là Bố của G đến hỏi: hành vi vận chuyển ma túy của G cho V có bị coi là tội phạm hay không? (2 điểm)

b. Nếu hành vi của G bị coi là tội phạm thì con tôi có thể phải chịu mức hình phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm tù? (1 điểm)

c. Hiện tại con tôi đang bị cơ quan Công an tạm giữ, vậy tôi phải làm gì để giúp con tôi sớm được về nhà? (2 điểm)

d. Giả định V đã bị tạm giam về tội mua bán 2 bánh Heroin nhưng khi giám định thì số heroin đó hoàn toàn giả, ông F là bố của V đến tư vấn với câu hỏi “ V có bị truy tố về các tội liên quan đến ma túy” không? (2 điểm)

 

Lời giải

 

1. Hành vi vận chuyển ma túy của G cho V có bị coi là tội phạm hay không?

 

Thứ nhất, theo Điều 12 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 có quy định:

 

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

 

Thứ hai, theo căn cứ tại Điều 194 Bộ Luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy có quy định:

 

Điều 194: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy  năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ  hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm

 

Lượng Heroin mà G vận chuyển nếu bị coi là tội phạm có thể được xử lí theo khoản 2 Điều 194 BLHS?

 

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự, vì khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng và theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Người phạm tội thực hiện tội phạm trên với lỗi cố ý (là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra).

Dựa theo phân tích trên thì G chị chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi cháu ý thức được hành vi của mình. Điều này chia ra làm hai trường hợp: Thứ nhất, nếu G không biết đó là ma túy mà chỉ đi vận chuyển vì muốn lấy tiền công thì G sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Thứ hai, nếu G biết đó là ma túy mà vẫn đi vận chuyển thì G sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì G đã đủ các dấu hiệu để cấu thành tội vận chuyển trái phép ma túy.

 

2. Nếu hành vi của G bị coi là tội phạm thì G có thể phải chịu mức hình phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm tù?

 

Tại Khoản 2 Điều 74 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 có quy định như sau:

 

 

Điều 74. Tù có thời hạn

 Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

…2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định

 

Như vậy, trong trường hợp này thì án phạt cao nhất mà G phải chịu sẽ không vượt quá một phần hai mức phạt tù theo quy định của pháp luật.

 

3. Hiện tại con tôi đang bị cơ quan Công an tạm giữ, vậy tôi phải làm gì để giúp con tôi sớm được về nhà?

Bạn có thể bảo lĩnh cho G để được về nhà. Tuy nhiên, phải thực hiện đúng những quy định về bảo lĩnh tại Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự về điều kiện và thủ tục bảo lãnh, cụ thể như sau:

 

– Về thẩm quyền quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh: tùy vào giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xửCơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh.

– Người nhận bảo lĩnh có thể là:

+) Cá nhân: phải có ít nhất 2 người, đều là người thân thích của bị can, bị cáo. Người thân thích bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của bị can bị cáo. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

+) Tổ chức: tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.

– Thủ tục bảo lĩnh:

+) Người bảo lĩnh nộp đơn xin bảo lĩnh tới cơ quan có thẩm quyền quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh. Nếu là cá nhân bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Nếu là tổ chức nhạn bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

+) Cá nhân, tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

– Trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh khi vi phạm nghĩa vụ cam đoan: Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

 

4. Giả định V đã bị tạm giam về tội mua bán 2 bánh Heroin nhưng khi giám định thì số heroin đó hoàn toàn giả, liệu “ V có bị truy tố về các tội liên quan đến ma túy” không?

 

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 thì: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưmg cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trải phép chất ma túy nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà trưy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy…

Thật vậy, trong trường hợp này, tuy không biết đó là ma túy giả nhưng V vẫn ý thức đó là ma túy đem đi buôn bán nên V vẫn sẽ bị truy cứu hình sự vì tội “mua bán ma túy trái phép” theo Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

 


 

Tình huống 1: Tội vô ý làm chết người

X và P rủ nhau đi săn thú rừng, khi đi X và P mỗi người mang theo khẩu súng săn tự chế. Hai người thoả thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần, nếu không thấy phản ứng gì sẽ bắn. Sau đó họ chia tay mỗi người một ngả. Khi X đi được khoảng 200 mét, X nghe có tiếng động, cách X khoảng 25 mét. X huýt sao 3 lần nhưng không nghe phản ứng gì của P. X bật đèn soi về phía có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, X chạy đến thì phát hiện P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. X vội đưa P đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng P đã chết trên đường đi.

 

Câu hỏi:

  1. Xác định tội danh của X? (5 điểm)
  2. Giả sử P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật là 29%, X có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)
  3. Xác định tội anh của X?

 

Lời giải

 

1. Xác định tội danh của X?

Căn cứ vào tình huống đã cho thì X phạm tội vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 98 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”

Phân tích CTTP của tội vô ý làm chêt người ta thấy X trong tình huống  trên đã thỏa mãn những dấu hiệu của tội này, đó là:

 

*Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội vô ý làm chết người là chủ thể thường, là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Trong khuôn khổ của tình huống đã cho thì là người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.

 

*Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội vô ý làm chết người là quyền nhân thân, đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Đối tượng của tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng. Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người – thực thể tự nhiên và xã hội. Như vậy, trong tình huống trên X tước đoạt tính mạng của P, xâm phạm tới quan hệ nhân thân được luật hình sự bảo vệ.

 

*Mặt khách quan của tội phạm:

– Hành vi khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an toàn. Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người. Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành những tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận. Trong tình huống trên thì X và P rủ nhau đi săn thú rừng và hai người thỏa thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần nếu không thấy phản ứng gì thì sẽ bắn. Sau đó X lên phía đồi còn P xuống khe cạn. Và khi X nghe thấy có tiếng động, đã X huýt sáo 3 lần nhưng không nghe thấy phản ứng gì của P. X bật đèn soi về phìa có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, X xách súng chạy đến thì phát hiện là P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. X vội vã đưa P đi đến trạm xá địa phương nhưng P đã chết trên đường đi cấp cứu. Như vậy, hành vi của X do không cẩn thận xem xét kỹ lưỡng trong khi đi săn nên đã để đạn lạc vào người P làm cho P chết.

 

– Hậu quả của tội phạm: Hành vi vi phạm nói trên phải đã gây ra hậu quả chết người. Hậu quả này là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Trong tình huống trên thì hành vi của X đã  gây ra hậu quả làm cho P chết.

– Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: QHNQ giữa hành vi vi phạm và hậu quả đã xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Người có hành vi vi phạm chỉ phải chịu TNHS về hậu quả chết người đã xảy ra, nếu hành vi vi phạm của họ đã gây ra hậu quả này hay nói cách khác là giữa hành vi vi phạm của họ và hậu quả chết người có QHNQ với nhau.Trong tình huống trên thì hậu quả chết người của P là do hành vi của X gây ra. Đò là X nhằm bắn về phía con thú nhưng đã bắn sang P, hậu quả là làm cho P chết, như vậy nguyên nhân P chết là do hành vi bắn súng  của X vào người P.

 

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Trong trường hợp này, X phạm tội vô ý làm chết người với lỗi vô ý vì quá tự tin. Bởi vì X tuy thấy hành vi của mình có thể ra hậu quả làm chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả chết người đó.

-Về lí trí: X nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả làm chết người do hành vi của mình có thể gây ra nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra. Như vậy, sự thấy trước hậu quả làm chết người ở đây thực chất chỉ là sự cân nhắc đến khả năng hậu quả đó xảy ra hay không và kết quả người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu đó quả xảy ra.

-Về ý chí: X không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra cái chết cho P, nó thể hiện ở chỗ, sự không mong muốn hậu quả của X gắn liền với việc X đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra. X đã cân nhắc, tính toán trước khi hành động, thể hiện ở chỗ X đã huýt sáo như thỏa thuận với P và chỉ đến khi không nghe thấy phản ứng gì của P, X mới nhằm bắn về phía có ánh mắt con thú nhưng hậu quả là đã bắn chết P. Và khi X xách súng chạy đến thì phát hiện P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn, X đã vội đưa P đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng P đã chết trên đường đi. Điều này đã chứng tỏ X không mong muốn hậu quả chết người xảy ra. Như vậy, hình thức lỗi của X trong trường hợp trên là lỗi vô ý vi quá tự tin.

 

Ngoài ra, trong trường hợp này X đã đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định sẽ bị phạt hành chính vì sử dụng vũ khí cấm tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 73/2010/NĐ – CP quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự xã hội.

 

2. Giả sử P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật là 29%, X có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao?

 

X không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Theo nội dung tình huống của đề bài và hậu quả là P bị thương, với tỷ lệ thương tật là 29%. Thì hành vi của X là đã vô ý gây thương tích cho P với lỗi vô ý vì quá tự tin. Và căn cứ vào khoản 1 Điều 108 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

 

Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

Vậy, với hậu quả P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật 29%, thì X không phải chịu TNHS nhưng X sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi của mình theo Nghị Quyết 03/2006 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

 


 

Tình huống 2: Cấu thành tội phạm

A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an.

 

Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:

  1. H và Q phạm tội cướp tài sản;
  2. H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;
  3. H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

 

Câu hỏi:

Hành vi của H, Q cấu thành tội gì? Tại sao?

 

Lời giải

 

1. Ý kiến H và Q phạm tội cướp tài sản: ý kiến này là sai, vì các tình tiết của vụ án không đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản

Khoản 1 Điều 133 BLHS quy định về tội cướp tài sản như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”.

Tội cướp tài sản là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhắm chiếm đoạt tài sản.

 

Khách thể tội cướp tài sản:

 

Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, đến tự do của con người để qua đó có thể xâm phạm được sở hữu.

Trong tình huống trên, H và Q thấy chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường, lại thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng nên H và Q lấy đi toàn bộ tài sản của chị B trị giá 10 triệu đồng. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến thân thể, đến tự do của chị B và hai người bạn hay nói cách khác là không xâm phạm đến quan hệ nhân thân. H và Q chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B.

 

Hành vi khách quan của tội cướp tài sản:

 

Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Đó là: Hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi dùng vũ lực là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm chém… Hay có thể nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay. Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể sẽ nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa. Để xác định dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, ta thấy ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội. Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội. Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

Hành vi khác làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi không phải dùng vũ lực, cũng không phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Để xác định hành vi này, trước hết xuất phát từ phía người bị hại phải là người bị tấn công, nhưng không phải bị tấn công bởi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị tấn công bởi hành vi khác. Như vậy, hành vi khác mà nhà làm luật quy định trong cấu thành trước hết nó phải là hành vi tấn công người bị hại, mức độ tấn công tới mức người bị hại không thể chống cự được. Ví dụ như bỏ thuốc ngủ vào cốc nước cho người bị hại uống làm cho người đó ngủ say, bị mê mệt không biết gì sau đó mới chiếm đoạt tài sản của người bị hại…

Trong tình huống trên, H và Q không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay có hành vi nào khác làm cho chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được là do uống quá nhiều rượu nên say, việc chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không nhận thức, không chống cự được không có lỗi của H và Q. Vì vậy, trong tình huống này H và Q chỉ chiếm đoạt tài sản của chị B.

 

Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q không có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản. Vì vậy ý kiến cho rằng H và Q phạm tội cướp tài sản là sai.

 

2. Ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: ý kiến này cũng sai vì các tình tiết không cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 BLHS. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ.

Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ không làm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt của người phạm tội hoặc nếu có thì biện pháp đó cũng không đem lại hiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy đi một cách công khai). Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu giếm hành vi phạm tội của mình , trước, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản, người bị thiệt hại biết ngay người lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được).

 

Do đặc điểm riêng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh… Mặc dù tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là tội phạm chưa được các nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứu nhiều, nhưng qua thực tiễn xét xử chúng ta có thể thấy một số trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:

– Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ;

– Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản. Những hoàn cảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được.

 

Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B. Trong trường hợp nếu chị B và hai người bạn không hẳn bị mê mệt mà vẫn có thể  nhìn thấy hành vi chiếm đoạt tài sản của H và Q nhưng do quá say nên họ không thể ngăn cản hành vi của H và Q thì H và Q có thể bị cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Nhưng trong tình huống có ghi rõ “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…”, như vậy trong khi H và Q đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị B và hai người bạn không hề biết và nhìn thấy hành vi của H và Q, phải đến sáng hôm sau chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. Như vậy, hành vi của H và Q không thể là công nhiên mà có hành vi lén lút, hành vi của H và Q chỉ có thể bị coi là công nhiên khi chị B hoặc hai người bạn của chị B tỉnh giấc nhận thấy chị B bị chiếm đoạt tài sản nhưng do quá say nên không có khả năng chống cự và H và Q vẫn công khai, trắng trợn lấy số nữ trang trên người chị B. Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan, nhưng nó lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh. Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể có những thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếm đoạt, người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.

 

Từ những phân tích trên, ta thấy H và Q không có đủ các dấu hiệu cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là sai.

 

3. Ý kiến H và Q phạm tội trộm cắp tài sản: ý kiến này đúng, vì đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS. Điều 138 không mô tả những dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản mà chỉ nêu tội danh. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.

 

Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản.

 

* Khách thể của tội trộm cắp tài sản:

Khách thể của tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

Trong tình huống trên, H và Q không hề xâm hại đến quan hệ nhân thân của chị B và hai người bạn mà chỉ có hành vi xâm phạm đến tài sản của chị B, cụ thể là lấy đi toàn bộ số nữ trang bằng vàng của chị B.

 

* Hành vi khách quan:

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cành khách quan khác như chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết

 

Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta có thể có một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặc thù như sau:

– Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi có điều kiện sẽ lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản;

– Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn xô đẩy để chiếm đoạt tài sản của người khác;

– Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sản hoặc người tài sản không trực tiếp quản lý nên đã chiếm đoạt. Đặc trưng hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu lén lút. Lén lút là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai ở các tội xâm phạm sở hữu khác, dấu hiệu này vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành đó. Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm khách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút. Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi có hành vi này xảy ra. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình. Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản, đối với những người khác, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản vẫn là công khai. Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người phạm tội trong phần lớn vẫn là lén lút, che giấu đối với người khác.

Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B. Ta thấy trong tình huống có ghi rõ: “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…” . Để xác định hành vi phạm tội của H và Q  trong tình huống này ta cần xác định “tại thời điểm mất tài sản, chủ tài sản có biết hay không” là vấn đề cần thiết phải làm rõ, bởi nó liên quan đến bản chất của hành vi chiếm đoạt. Trong tình huống này, chị B là chủ tài sản, do bị say rượu nằm mê mệt bên đường  nên trong khi bị H và Q chiếm đoạt tài sản không hề biết mình bị chiếm đoạt tài sản. Phải đến sáng hôm sau tỉnh giấc chị B mới biết mình bị mất tài sản. Như vậy, dấu hiệu “thời điểm mất tài sản” là mốc thời gian, xác định việc tài sản đã bị chiếm đoạt và không nằm trong vòng kiểm soát của chủ tài sản nữa. Tại thời điểm này, chủ tài sản (chị B) không biết việc mình bị mất tài sản và đây chính là hệ quả của hành vi “lén lút”. Bởi chỉ có “lén lút” mới làm chủ tài sản không biết mình bị mất tài sản. Mặt khác trị giá tài sản bị các đối tượng chiếm đoạt là 10 triệu đồng, thỏa mãn dấu hiệu được nêu trong điều 138 , BLHS (từ hai triệu đồng trở lên ). Hành vi của H và Q được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích cuối cùng của H và Q là mong muốn chiếm đoạt tài sản của trị B, cụ thể là số nữ trang bằng vàng trên người của chị B.

 

Với sự liên hệ qua lại giữa các dấu hiệu này, giúp chúng ta dễ dàng tìm ra điểm đặc trưng của tội “Trộm cắp tài sản”, từ đó ta có cơ sở để quyết định H và Q phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, ý kiến cho rằng H và Q phạm tội trộm cắp tài sản là đúng.

 

Xem tiếp bài viết ở trang bên…

 

Bài viết liên quan

45 bình luận
  • Nguyễn Đức Thành

    Mình tên Thành
    Mình muốn xin các bạn bộ tài liệu này để học tập
    Danh mục tài liệu gồm có:
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    các bạn gửi giúp mình vào địa chỉ gmaill:toodtosucceed@gmail.com
    xin chân thành cảm ơn!

  • Nguyễn Đức Thành

    Mình tên Thành
    Mình muốn xin các bạn bộ tài liệu này để học tập
    Danh mục tài liệu gồm có:
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    các bạn gửi giúp mình vào địa chỉ gamil:toodtosucceed@gmail.com
    xin chân thành cảm ơn!

  • Minh minh

    Cảm ơn add, tài liệu thật bổ ích

  • Cám ơn ad đã chia sẻ tài liệu. Tài liệu rất hay và hữu ích
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp
    – Đề cương – các dạng bài tập bản Luật Hình sự
    Mình đang ôn thi và rất cần những tài liệu trên. Nếu không phiền thì nhờ ad gửi vào mail của mình:ngolieupham@gmail.com
    Chân thành cảm ơn!

  • Nguyễn Thị Huyền

    Cảm ơn Hocluat.vn đã chia sẻ những tài liệu này

  • Lê Hùng Anh

    Wow, bài tập tình huống hình sự có lời giải rất chi tiết, dễ hiểu

  • mình tên là Thoại.
    Mình muốn xin các bạn bộ tài liệu này để học tập
    Danh mục tài liệu gồm có:
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    các bạn gửi giúp mình vào địa chỉ gamil: buivanthoaicatm9x@gmail.com
    xin chân thành cảm ơn!

    • Luật sư Già

      @Thích Học Luật cậu còn tập này ko gửi cho bạn Thoại đi kìa

  • Phạm Thùy Dương

    có thể gửi cho e xin đáp án 40 câu hỏi có lời giải được không

  • VY

    Xin chào,
    Cháu của mình hỏi mình nội dung này, nình nhờ các bạn giải giúp mình với.
    Để có tiền “chơi” ma túy, C đã lấy trộm khẩu súng của X công tác tại chi cục kiểm lâm để đi cướp tài sản nhưng chưa kịp thực hiện thì C bị bắt. Hãy xác dịnh tính chất pháp lý của tình huống trên.

  • Thiên Di

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!
    địa chỉ gmail: Truongmuoi887@gmail.com

  • HunterJ

    Ad có thể gửi cho mình tài liệu đc k? Cảm ơn bn đã chia sẻ tài liệu này

  • Bích

    tài liệu rất hữu ích. bạn có thể gửi cho mình nốt phần còn lại của bộ tài liệu này đc không ạ ?? mình không thể đăng nhập

  • Tran Quynh Trang

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

    • Luật sư Già

      Mọi người cmt nhiều quá, đọc không kịp @@ bạn có cần tài liệu nữa ko Trần Trang?

    • Nguyễn Thị Huyền

      Dịp thi mà sv thì thi ms học 😛

  • Phạm Việt Hòa

    Cảm ơn mn nhé

  • Nguyễn Đức Thảo

    Cám ơn ad đã chia sẻ tài liệu. ad có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi được không ạ ( gmail : alwayloveyou75@gmail.com )
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

  • Thanh Vân

    Bộ cậu hỏi rất thực tế, hữu ích nhưng tui nghĩ mình phải mất vài ngày mới đọc hết chỗ này :3 Sắp thi rồi @@ phải làm sao đây

    • Law

      Tâm lý của nhiều sinh viên là nước đến chân mới nhảy. Thôi thì chúc bạn may mắn!

    • Thanh Vân

      Dạ cảm ơn anh, em chuẩn bị gà luộc với nhan cả rồi 😛

  • Trang Trần

    Mọi người gửi bài tập cho tớ

  • Páo

    Mình xin lỗi, mình quên không kèm theo địa chỉ mail, mail mình là vanhreal@gmail.com

    • Law

      Chào Páo!
      Khi bạn nhập địa chỉ mail vào phần thông tin để cmt, tụi mình đã có mail của bạn rùi.
      Bạn check mail xem nhận được tài liệu chưa nhé, do website đang nâng cấp nên bị hạn chế chức năng download, tụi mình chỉ có thể gửi tài liệu cho các bạn một cách thủ công!

  • Páo

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

    • Trang Trần

      Bạn k để lại địa chỉ yahoo hoặc gmail sao các anh chị ấy gửi bài đc

  • Lê Hữu Đăng

    lehuudang996@gmail.com – làm phiền anh chị biên soạn bài tập ở Hocluat.vn gửi các bài tập tình huống vào mail này cho em. Em chưa biết cách tạo tài khoản trên trang nên không tải tài liệu về được, cảm ơn ac nha

    • Law

      Mình đã gửi tài liệu vào mail lehuudang996@gmail.com, bạn check mail xem nhận chưa chưa.
      Danh mục tài liệu gồm có:
      – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
      – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
      – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
      – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
      Hiện trang đang nâng cấp nên bạn chưa thể đăng ký tài khoản. Mong bạn sớm gia nhập cộng đồng hocluat.vn. Chào bạn!

    • Lê Hữu Đăng

      e nhận đc file rồi ạ, rất cảm ơn ac

    • nhi

      cám ơn ad đã chia sẻ tài liệu này, nó rất hữu ích ạ, ad có thể gửi cho e những tài liệu dưới đây dc k ạ. e cám ơn ạ!
      Danh mục tài liệu gồm có:
      – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
      – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
      – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
      – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)

  • Bạn ơi, cảm ơn bạn đã chia sẻ tài liệu nhưng mình đăng nhập nhưng chỉ download được file 40 bài tập tình huống hình sự, trong khi còn 1 file 60 bài tập nữa.
    Bạn gửi bài vào mail lechi97@gmail.com dùm mình vs nha, cảm ơn ạ!

    • Law

      Chào Chi!
      Mình đã gửi tài liệu vào mail lechi97@gmail.com, bạn check mail xem nhận chưa chưa.
      Danh mục tài liệu gồm có:
      – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
      – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
      – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
      – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
      Do file bị thiếu nên bạn không download được, tụi mình đã up lên file mới.

  • Nguyễn Hải Yến

    Cả nhà ơi trả lời giúp mình bài tập tình huống này với
    K và D cùng là những người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng nhưng không chịu lao động và cùng là hang xóm của M. Khi đi qua nhà M, thấy chiếc xe máy để bên hè còn cả chìa khóa xe nên chúng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt (lúc này cả nhà M đi vắng). K đứng ngoài ngõ canh gác, còn D vào nhà M lấy xe. Khi D dắt chiếc xe máy ra đến giữa sân thì bất ngờ bà N (vợ ông M) về nhà, bà N hỏi D: “Sao chú lại lấy xe máy của nhà tôi?”. D nói: “Tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có tí việc”. Bà N tưởng thật nên đã để D dắt xe ra ngõ. Lúc này ông M đi chơi về gặp D đang chuẩn bị nổ máy đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “Bà N vừa cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N để hỏi xem có đúng là bà N cho D mượn không, thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Còn K trước đó đứng chờ ở phía đầu ngõ, sau khi ra hiệu cho D biết là có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy cùng với D. Ba ngày sau K và D bị bắt.

    Trị giá chiếc xe máy 25 triệu đồng. Kết quả giám định thương tích cùng đầu ông M tỷ lệ 32%, thương tích ở chân phải 5%. Tổng tỷ lệ thương tích là 37%.

    a/ Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích rõ cơ sở lý luận cho việc định tội?
    b/ Theo dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?
    c/ Xác định những tình tiết tăng nặng có trong bài tập.
    d/ Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là là bao nhiêu năm tù?

    • Law

      Vấn đề 1: Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích cơ sở pháp lý?

      Theo dữ liệu của đề bài đưa ra ta nhận định:

      – D phạm vào tội trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích.

      – K phạm vào tội trộm cắp tài sản.

      * Đối với tội trộm cắp tài sản:

      – Trước hết tội trộm cắp tài sản của D và K là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ và thuộc vào trường hợp có các tình tiết sau:

      + Giá trị tài sản chỉ ở khung 1 của tội trộm cắp, tức là tài sản trộm cắp có giá trị trên 500 nghìn đồng và dưới 50 triệu đồng. Theo bài thì tài sản mà D, K trộm cắp ở đây là chiếc xe máy của ông bà M, N có giá trị 25 triệu đồng. Thể hiện ở hành vi lén lút chiếm đoạt khi chiếc xe máy của ông M, khi ông M sơ ý để chiếc xe đó bên hè mà vẫn để chìa khóe trên xe. Như vậy về mặt đối tượng tác động của tội phạm trộm cắp đã thỏa mãn vì là tài sản có chủ.

      + Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích: D và K mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản và chưa được xóa án tích.

      + Hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của D, K là hành vi lén lút chiếm đoạt lợi dụng lúc gia đình ông M đi vắng mà chiếc xe còn cả khóa. Và khi có gia đình ông bà M, N về thì để chiếm đoạt cho được chiếc xe và che dấu tội phạm của mình thì D lại có hành động xảo quyệt để thực hiện đó là hành vi lừa dối chủ tài sản, thể hiện ở hành động nói dối đối với bà N “tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có việc” và khi ông M đi chơi về gặp D tiếp tục lừa dối “Bà N cho tôi mượn” với mục đích che dấu chủ chiếc xe.

      – Mặt khách quan: K và D phạm tội trộm cắp tài sản khi thực hiện hành vi phạm tội cũng biết chiếc xe chiếm đoạt có đặc điểm là đã có chủ.

      – Về mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý vì mục đích vụ lợi.

      * Đối với tội cố ý gây thương tích:

      D không chỉ thực hiện tội trộm cắp tài sản mà D còn có hành vi “dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng”. Như vậy hành vi của D ở đây có thể coi chính một trong những tình tiết định khung tặng nặng quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 138 là hành vi hành hung để tẩu thoát. Tuy nhiên, do tổng tỷ lệ thương tật của ông M lên đến 37%, do vậy trong trường hợp này hành vi của D sẽ bị xét xử về tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104. Vì dựa trên nguyên tắc chung của pháp luật đó là trong trường hợp phạm nhiều tội thì một hành vi chỉ có thể là tình tiết tăng nặng trong một tội phạm, khi tình tiết đó đã được sử dụng để xét xử cho một tội phạm khác rồi thì không được phép dụng chính tình tiết đó để làm căn cứ tham gia vào việc định một tội khác. Như vậy ở đây, D ngoài phạm tội trộm cắp còn phạm tội cố ý gây thương tích.

      Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của nguời khác dưới dạng thương tích hoặc gây tổn thương khác.

      Để kết luận về việc D phạm thêm tội cố ý gây thương tích này chúng ta phụ thuộc vào các dấu hiệu sau:

      – Về mặt khách quan:

      + Hành vi khách quan: đó là những hành vi có khả năng gây thương tích hoặc gây tổn thương khác làm tổn hại đến sức khỏe của con người . Ở đây D đã có hành động “Bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M “. Hành động đó đã thỏa mãn là hành vi xô đẩy và dùng chiếc xe máy để ngăn cản nhằm mục đích tẩu thoát. Tức là thông qua công cụ phương tiện để ngăn cản việc cản trở của ông M.

      + Hậu quả của tội phạm:

      D đã đẩy ông M vào cạnh tường rào và kết quả giám định thương tích vùng đầu ông M với tỷ lệ 32% đồng thời cùng với hành động chiếc xe máy đổ đè lên chân phải của ông M gây lên thương tích ở chân là 5 %. Tổng tỷ lệ thương tích là 37% . Như vậy với tỷ lệ thương tích là 37% hậu quả thương tích này do chính D gây ra. Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích đó là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

      – Về mặt chủ quan: Lỗi của D là lỗi cố ý ,ở đây D đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, D mong hoặc có thể là chấp nhận hậu quả thương tích đó xảy ra.

      – Về mặt chủ thể: D là người có năng lực trách nhiệm hình sự và chắc chắn là đủ độ tuổi luật định vì họ mới bị xử lý về tội cướp giât tài sản.

      Như vậy dựa vào những căn cứ pháp lý trên chúng ta có thể kết luận rằng : D phạm tội trộm cắp tài sản và tội cố ý gây thương tích; còn K phạm tội trộm cắp tài sản.

      Vấn đề 2: Theo các dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?

      Với những tình tiết cụ thể trong tình huống này có thể khẳng định K và D có đồng phạm với nhau.

      Theo khoản 1 điều 20 BLHS 1999, đồng phạm là trường hợp có 2 người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Đây là hình thức phạm tội đặc biệt, thể hiện quy mô và tính chất nguy hiểm hơn của tội phạm như tinh vi hơn, xảo quyệt hơn, táo bạo và liều lĩnh hơn so với trường hợp phạm tội riêng lẻ.

      Trong trường hợp này, D và K là đồng phạm vì họ đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của đồng phạm.

      1/. Những dấu hiệu về mặt khách quan.

      – Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất 2 người và 2 người này phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Đó là điều kiện có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

      + Số lượng người phạm tội là 2 người, K và D.

      + Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: K và D cùng là những người vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng. Tại thời điểm bắt đầu chấp hành bản án trước đây về tội cướp giật tài sản, K và D đã là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 16 tuổi trở lên) thì đương nhiên trong trường hợp phạm tội mới này cả 2 đều đạt độ tuổi luật định và là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

      – Thứ hai, họ phải cùng thực hiện tội phạm, có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với 1 trong 4 hành vi: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm và hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm. Khi tiến hành hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy nhà ông M, K đứng ngoài ngõ canh gác còn D vào nhà M lấy xe. Như vậy:

      + D là người thực hành, tức là người trực tiếp thực hiện tội phạm bằng hành vi cụ thể của mình: D vào nhà M lấy xe máy ra, bất ngờ gặp bà N là vợ ông M về thì D nói dối là đã hỏi mượn ông M rồi, đến khi gặp ông M thì D lại nói dối là đã hỏi bà N để mượn xe.

      + K là người giúp sức cho D thực hiện tội phạm. Bằng hành vi của mình K đã tạo ra điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc thực hiện tội trộm cắp tài sản của D. Việc K đứng ngoài ngõ canh gác sẽ giúp D yên tâm vào nhà M lấy chiếc xe mà không phải lo lắng gì, nếu có người đến hoặc bị phát hiện thì đã có K ở ngoài báo hiệu cho D biết.

      Tuy nhiên, D và K chỉ đồng phạm thực hiện tội trộm cắp tài sản. Trong vụ việc này, D đã có hành vi vượt quá và hành vi này đã cấu thành một tội độc lập khác: khi ông M gặp D đang chuẩn bị nổ máy đi đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “bà N cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N xem có đúng bà N cho D mượn không thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Theo giám định, tổng thương tích mà D gây ra cho ông M là 37%. Hành vi của D đã cấu thành tội cố ý gây thương tích. Đây là hành vi vượt ra ngoài ý định chung ban đầu của K và D bởi vì mục đích ban đầu của họ chỉ là chiếm đoạt được chiếc xe và K sau khi ra hiệu cho D biết có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy cùng với D. Việc D gây ra thương tích cho ông M, K hoàn toàn không biết vì lúc ấy K đã bỏ chạy đi rồi. K và D không cùng nhau thực hiện tội cố ý gây thương tích cho ông M mà chỉ riêng D thực hiện nên K không đồng phạm cùng D trong tội này.

      2/. Dấu hiệu về mặt chủ quan.

      Trong vụ đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác.

      – Về mặt lí trí: mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên hoàn toàn có thể nhận thức được rằng hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật. Hơn nữa, cả 2 vừa chấp hành xong bản án về tội cướp giật tài sản, đã được giáo dục cải tạo thì càng hiểu rõ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà cả 2 đang cùng nhau thực hiện. Vì K và D cùng nhau thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của M, tức là mỗi người đều biết người còn lại cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D cũng thấy trước được hậu quả từ hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện đó là làm ông M mất đi chiếc xe.

      – Về ý chí: K và D cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả phát sinh. Vì thế, đã có sự phân công rõ ràng giữa 2 người: K đứng ngoài ngõ canh gác còn D vào trong lấy xe ra. Việc phân công này nhằm mục đích là có thể lấy được cái xe dễ dàng, chót lọt.

      Đối với hành vi cố ý gây thương tích do D thực hiện, K hoàn toàn không biết có việc này xảy ra nên tất nhiên là K không mong muốn có hoạt động chung bởi vì K đã bỏ chạy trước khi D thực hiện hành vi ấy. Do đó, K và D không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích.

      Tóm lại, K và D đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản, không đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích. Tội cố ý gây thương tích do một mình D thực hiện nên D phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về tội này.

      Vấn đề 3: Xác định những tình tiết tăng nặng theo dữ kiện có trong bài tập.

      Theo như đã phân tích tại vấn đề 1 thì D sẽ bị xử lý hình sự về hai tội danh là tội trộm cắp tài sản (Điều 138) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104). Còn K sẽ bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản (Điều 138)

      Khoản 2 Điều 48 quy định: “Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Có nghĩa là nếu một tình tiết đã được dùng để định tội và định khung thì không được dùng đến tình tiết đó để làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho chính tội phạm đó nữa. Do vậy khi căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 BLHS quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, áp dụng cho tình huống bài ra. Ta nhận thấy trong tình huống bài có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sau:

      1/ Tái phạm (điểm g Khoản 1).

      2/ Có hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm ( điểm o Khoản 1).

      * Tái phạm:

      Khoản 1 điều 49 BLHS quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”.

      Theo như dữ kiện bài đưa ra thì K và D cùng là người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng thì lại phạm tội mới. Như vậy cả D và K đều chưa đủ điều kiện để được xóa án tích theo như quy định tại Điều 64 BLHS (Đương nhiên được xóa án tích). Dựa vào Điều 64, thì một người bị kết án được xóa án tích chỉ khi thỏa mãn hai điều kiện: qua một thời gian nhất định kể từ ngày chấp hành xong bản án và trong khoảng thời gian đó, người này không phạm tội mới. Đối với trường hợp của D, K thì để có thể được xóa án tích cho tội cướp giật tài sản mà trước đó họ đã chịu án thì phải mất 3 năm kể từ khi họ ra tù. Tuy nhiên, nhưng mới được 5 tháng sau khi ra tù, do không chịu lao động nên D, K lại phạm tội mới. Và tội phạm D, K cùng thực hiện đều xuất phát từ lỗi cố ý. Như vậy, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” sẽ được áp dụng cho cả D và K.

      * Hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm:

      Theo giải thích trong từ điển Việt – Việt thì “Xảo quyệt” có nghĩa là dối trá, lừa lọc một cách khó lường, khéo léo để lừa đảo.

      Sở dĩ, trong tình huống này ta áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “hành động xảo quyệt” (theo điểm o Khoản 1 Điều 48) chứ không áp dụng tình tiết “thủ đoạn xảo quyệt” (theo điểm m Khoản 1 Điều 48) bởi vì hai thuật ngữ “hành động” và “thủ đoạn” ở đây khác nhau về mức độ. Thủ đoạn thì có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành động. Thủ đoạn thì có tính liên tục suốt toàn bộ quá trình phạm tội, còn hành động chỉ có tính tạm thời và kết thúc ngay. Nhận thấy hành vi lừa dối của D chỉ có mục đích là lừa dối ông bà M, N để có thể che dấu cho hành vi trộm cắp của mình và hành vi lừa dối đó chỉ được thực hiện sau khi D gặp ông bà M, N. Mà liền trước đó hành vi chiếm đoạt tài sản của D là hành vi lén lút chiếm đoạt.

      Như vậy, theo như các tình tiết bài đưa ra, thì D đã có hành vi lừa dối ông bà M, N và đã làm cho bà N tin vào lời lừa dối của D. Hơn thế nữa, ta nhận thấy thái độ của D khá là bình tĩnh khi lừa dối ông bà M, N.

      Vấn đề 4: Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là bao nhiêu năm tù?

      Dựa trên cơ sở của các phân tích các yếu tố định tội và kết quả đã kết luận ở các phần trên thì ta nhận thấy D và K là đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản với khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 138, đồng thời thì D còn phạm thêm tội là cố ý gây thương tích với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

      Như vậy xét về từng tội riêng lẻ:

      * Trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138): Vì cả D và K đều có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cả hai đều có thể bị phạt với hình phạt cao nhất là ba năm tù.

      * Tội cố ý gây thương tích của D: Tội phạm sẽ bị xử theo Khoản 2 Điều 104. D có thể bị xử phạt với mức phạt cao nhất là bảy năm.

      Tổng hợp lại. ta thấy với hai tội danh đó thì D có thể bị lĩnh án cao nhất là: 3+7=10 năm tù. Còn hình phạt cao nhất đối với tội phạm mà K thực hiện là 3 năm tù.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1. Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập 1, tập 2 – Đại học Luật Hà Nội.

      2. Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Khoa luật –ĐHQG Hà Nội.

      3. Luật gia: Hoàng Hoa Sơn – Hỏi đáp về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người – Nxb LĐ-XH, 2006.

      4. Đinh Văn Quế – Tìm hiểu tội phạm trong BLHS năm 1999 – xuất bản năm 2001.

      5. Đinh Văn Quế – Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (phần các tội phạm) – Tập I.

      6. TSKH.PGS. Lê Khảm – Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự , 2005.

      7. 550 thuật ngữ chủ yếu trong pháp luật hình sự Việt Nam , Xuất bản năm 1997.

      8. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa – Tội phạm và cấu thành tội phạm, năm 2005.

      9. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.

  • Bình luận

    Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.