Tổng hợp các bài tập tình huống Luật hình sự có lời giải

Tổng hợp các bài tập tình huống luật hình sự

Tổng hợp các bài tập tình huống luật hình sự có đáp án được gửi từ sinh viên các trường Đại học Luật Hà Nội, đại học Luật Huế, đại học Luật TP Hồ Chí Minh để các bạn cùng ngâm cứu ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới

 

Danh mục tài liệu gồm có:

  • 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
  • 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
  • Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
  • Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)

 

Mấy bài này tương đối hay và phức tạp nên mình chia thành các bài nhỏ và dẫn link riêng đến từng bài

 

>>> Tình huống xúi giục người khác giết người bị coi là đồng phạm – Bài tập học kỳ Luật Hình sự 2

>>> Tình huống không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn là đồng phạm

>>> Tình huống lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc không trả lại vé số trúng thưởng

>>> Tình huống về tội trộm cắp tài sản thông qua việc rút bớt hàng hóa khi vận chuyển

>>> Tình huống về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

 

"Cảm ơn thầy Trần Bá Tâm - Giảng viên bộ môn Luật hình sự - ĐH luật Hà Nội đã bỏ thời biên soạn bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp.
Cảm ơn cô Đặng Thị Phương Linh - Giảng viên bộ môn Luật hình sự - Khoa luật - ĐH Vinh đã biên soạn đề cương ôn tập Luật hình sự - Các dạng bài tập cơ bản.
Cảm ơn các bạn sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Huế, Đại học Luật HCM đã gửi tài liệu cho Họcluật.VN giúp trang xây dựng kho đề cương môn Luật hình sự."

 

Xem thêm:

 


 

Dưới đây là 20 bài tập hình huống hình sự thường gặp nhất trong các đề thi học phần của các trường Đại học Luật, các bạn nên tham khảo.

 

Tải về máyTổng hợp các bài tập tình huống Luật hình sự có lời giải

 

Tình huống 0: Tội phạm

V là người buôn bán ma túy chuyên nghiệp đã thuê G với số tiền 500 nghìn đồng để G (15 tuổi) giúp vận chuyển số Heroin  từ chợ về nhà V. Số Heroin được gói trong bọc quà sinh nhật. G đang mang từ chợ về nhà V thì bị công an bắt giữ. Lượng Heroin mà G vận chuyển nếu bị coi là tội phạm có thể được xử lí theo khoản 2 Điều 194 BLHS.

 

Câu hỏi:

  1. Ông H là Bố của G đến hỏi: hành vi vận chuyển ma túy của G cho V có bị coi là tội phạm hay không? (2 điểm)
  2. Nếu hành vi của G bị coi là tội phạm thì con tôi có thể phải chịu mức hình phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm tù? (1 điểm)
  3. Hiện tại con tôi đang bị cơ quan Công an tạm giữ, vậy tôi phải làm gì để giúp con tôi sớm được về nhà? (2 điểm)
  4. Giả định V đã bị tạm giam về tội mua bán 2 bánh Heroin nhưng khi giám định thì số heroin đó hoàn toàn giả, ông F là bố của V đến tư vấn với câu hỏi “ V có bị truy tố về các tội liên quan đến ma túy” không? (2 điểm)

 

Lời giải

 

1. Hành vi vận chuyển ma túy của G cho V có bị coi là tội phạm hay không?

Thứ nhất, theo Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009):

 

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

 

Thứ hai, theo căn cứ tại Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy:

 

Điều 194: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy  năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ  hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm

 

Lượng Heroin mà G vận chuyển nếu bị coi là tội phạm có thể được xử lí theo khoản 2 Điều 194 BLHS?

 

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự, vì khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng và theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Người phạm tội thực hiện tội phạm trên với lỗi cố ý (là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra).

Dựa theo phân tích trên thì G chị chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi cháu ý thức được hành vi của mình. Điều này chia ra làm hai trường hợp: Thứ nhất, nếu G không biết đó là ma túy mà chỉ đi vận chuyển vì muốn lấy tiền công thì G sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Thứ hai, nếu G biết đó là ma túy mà vẫn đi vận chuyển thì G sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì G đã đủ các dấu hiệu để cấu thành tội vận chuyển trái phép ma túy.

 

2. Nếu hành vi của G bị coi là tội phạm thì G có thể phải chịu mức hình phạt tù cao nhất là bao nhiêu năm tù?

 

Tại Khoản 2 Điều 74 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) có quy định như sau:

 

Điều 74. Tù có thời hạn

 Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

…2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định

 

Như vậy, trong trường hợp này thì án phạt cao nhất mà G phải chịu sẽ không vượt quá một phần hai mức phạt tù theo quy định của pháp luật.

 

3. Hiện tại con tôi đang bị cơ quan Công an tạm giữ, vậy tôi phải làm gì để giúp con tôi sớm được về nhà?

Bạn có thể bảo lĩnh cho G để được về nhà. Tuy nhiên, phải thực hiện đúng những quy định về bảo lĩnh tại Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự về điều kiện và thủ tục bảo lãnh, cụ thể như sau:

 

– Về thẩm quyền quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh: tùy vào giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xửCơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh.

– Người nhận bảo lĩnh có thể là:

+) Cá nhân: phải có ít nhất 2 người, đều là người thân thích của bị can, bị cáo. Người thân thích bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của bị can bị cáo. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

+) Tổ chức: tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.

– Thủ tục bảo lĩnh:

+) Người bảo lĩnh nộp đơn xin bảo lĩnh tới cơ quan có thẩm quyền quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh. Nếu là cá nhân bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Nếu là tổ chức nhạn bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

+) Cá nhân, tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

– Trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh khi vi phạm nghĩa vụ cam đoan: Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

 

4. Giả định V đã bị tạm giam về tội mua bán 2 bánh Heroin nhưng khi giám định thì số heroin đó hoàn toàn giả, liệu “ V có bị truy tố về các tội liên quan đến ma túy” không?

 

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 thì: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưmg cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trải phép chất ma túy nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà trưy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy…

Thật vậy, trong trường hợp này, tuy không biết đó là ma túy giả nhưng V vẫn ý thức đó là ma túy đem đi buôn bán nên V vẫn sẽ bị truy cứu hình sự vì tội “mua bán ma túy trái phép” theo Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

 


 

Tình huống 1: Tội vô ý làm chết người

X và P rủ nhau đi săn thú rừng, khi đi X và P mỗi người mang theo khẩu súng săn tự chế. Hai người thoả thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần, nếu không thấy phản ứng gì sẽ bắn. Sau đó họ chia tay mỗi người một ngả. Khi X đi được khoảng 200 mét, X nghe có tiếng động, cách X khoảng 25 mét. X huýt sao 3 lần nhưng không nghe phản ứng gì của P. X bật đèn soi về phía có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, X chạy đến thì phát hiện P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. X vội đưa P đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng P đã chết trên đường đi.

 

Câu hỏi:

  1. Xác định tội danh của X? (5 điểm)
  2. Giả sử P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật là 29%, X có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)
  3. Xác định tội anh của X?

 

Lời giải

 

1. Xác định tội danh của X?

Căn cứ vào tình huống đã cho thì X phạm tội vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 98 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”

Phân tích CTTP của tội vô ý làm chêt người ta thấy X trong tình huống  trên đã thỏa mãn những dấu hiệu của tội này, đó là:

 

*Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội vô ý làm chết người là chủ thể thường, là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Trong khuôn khổ của tình huống đã cho thì là người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.

 

*Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội vô ý làm chết người là quyền nhân thân, đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Đối tượng của tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng. Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người – thực thể tự nhiên và xã hội. Như vậy, trong tình huống trên X tước đoạt tính mạng của P, xâm phạm tới quan hệ nhân thân được luật hình sự bảo vệ.

 

*Mặt khách quan của tội phạm:

– Hành vi khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an toàn. Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người. Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành những tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận. Trong tình huống trên thì X và P rủ nhau đi săn thú rừng và hai người thỏa thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần nếu không thấy phản ứng gì thì sẽ bắn. Sau đó X lên phía đồi còn P xuống khe cạn. Và khi X nghe thấy có tiếng động, đã X huýt sáo 3 lần nhưng không nghe thấy phản ứng gì của P. X bật đèn soi về phìa có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, X xách súng chạy đến thì phát hiện là P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. X vội vã đưa P đi đến trạm xá địa phương nhưng P đã chết trên đường đi cấp cứu. Như vậy, hành vi của X do không cẩn thận xem xét kỹ lưỡng trong khi đi săn nên đã để đạn lạc vào người P làm cho P chết.

 

– Hậu quả của tội phạm: Hành vi vi phạm nói trên phải đã gây ra hậu quả chết người. Hậu quả này là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Trong tình huống trên thì hành vi của X đã  gây ra hậu quả làm cho P chết.

– Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: QHNQ giữa hành vi vi phạm và hậu quả đã xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Người có hành vi vi phạm chỉ phải chịu TNHS về hậu quả chết người đã xảy ra, nếu hành vi vi phạm của họ đã gây ra hậu quả này hay nói cách khác là giữa hành vi vi phạm của họ và hậu quả chết người có QHNQ với nhau.Trong tình huống trên thì hậu quả chết người của P là do hành vi của X gây ra. Đò là X nhằm bắn về phía con thú nhưng đã bắn sang P, hậu quả là làm cho P chết, như vậy nguyên nhân P chết là do hành vi bắn súng  của X vào người P.

 

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Trong trường hợp này, X phạm tội vô ý làm chết người với lỗi vô ý vì quá tự tin. Bởi vì X tuy thấy hành vi của mình có thể ra hậu quả làm chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả chết người đó.

-Về lí trí: X nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả làm chết người do hành vi của mình có thể gây ra nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra. Như vậy, sự thấy trước hậu quả làm chết người ở đây thực chất chỉ là sự cân nhắc đến khả năng hậu quả đó xảy ra hay không và kết quả người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu đó quả xảy ra.

-Về ý chí: X không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra cái chết cho P, nó thể hiện ở chỗ, sự không mong muốn hậu quả của X gắn liền với việc X đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra. X đã cân nhắc, tính toán trước khi hành động, thể hiện ở chỗ X đã huýt sáo như thỏa thuận với P và chỉ đến khi không nghe thấy phản ứng gì của P, X mới nhằm bắn về phía có ánh mắt con thú nhưng hậu quả là đã bắn chết P. Và khi X xách súng chạy đến thì phát hiện P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn, X đã vội đưa P đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng P đã chết trên đường đi. Điều này đã chứng tỏ X không mong muốn hậu quả chết người xảy ra. Như vậy, hình thức lỗi của X trong trường hợp trên là lỗi vô ý vi quá tự tin.

 

Ngoài ra, trong trường hợp này X đã đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định sẽ bị phạt hành chính vì sử dụng vũ khí cấm tại khoản 3 Điều 13 Nghị định số 73/2010/NĐ – CP quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự xã hội.

 

2. Giả sử P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật là 29%, X có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao?

 

X không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Theo nội dung tình huống của đề bài và hậu quả là P bị thương, với tỷ lệ thương tật là 29%. Thì hành vi của X là đã vô ý gây thương tích cho P với lỗi vô ý vì quá tự tin. Và căn cứ vào khoản 1 Điều 108 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

 

Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

Vậy, với hậu quả P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật 29%, thì X không phải chịu TNHS nhưng X sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi của mình theo Nghị Quyết 03/2006 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

 

Các tìm kiếm liên quan đến cách làm bài tập luật hình sự: bài tập tình huống luật hình sự có đáp án, bài tập tình huống luật hình sự phần tội phạm bài tập tình huống luật hình sự 3, bài tập luật hình sự phần các tội phạm, bài tập về đồng phạm trong luật hình sự, bài tập luật hình sự về tội giết người, bài tập lý luận định tội danh, bài tập tình huống về quan hệ pháp luật

 


 

Tình huống 2: Cấu thành tội phạm

A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an.

 

Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:

  1. H và Q phạm tội cướp tài sản;
  2. H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;
  3. H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

 

Câu hỏi:

Hành vi của H, Q cấu thành tội gì? Tại sao?

 

Lời giải

 

1. Ý kiến H và Q phạm tội cướp tài sản: ý kiến này là sai, vì các tình tiết của vụ án không đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản

Khoản 1 Điều 133 BLHS quy định về tội cướp tài sản như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”.

Tội cướp tài sản là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhắm chiếm đoạt tài sản.

 

Khách thể tội cướp tài sản:

 

Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, đến tự do của con người để qua đó có thể xâm phạm được sở hữu.

Trong tình huống trên, H và Q thấy chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường, lại thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng nên H và Q lấy đi toàn bộ tài sản của chị B trị giá 10 triệu đồng. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến thân thể, đến tự do của chị B và hai người bạn hay nói cách khác là không xâm phạm đến quan hệ nhân thân. H và Q chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B.

 

Hành vi khách quan của tội cướp tài sản:

 

Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Đó là: Hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi dùng vũ lực là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm chém… Hay có thể nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay. Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể sẽ nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa. Để xác định dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, ta thấy ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội. Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội. Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

Hành vi khác làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi không phải dùng vũ lực, cũng không phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Để xác định hành vi này, trước hết xuất phát từ phía người bị hại phải là người bị tấn công, nhưng không phải bị tấn công bởi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị tấn công bởi hành vi khác. Như vậy, hành vi khác mà nhà làm luật quy định trong cấu thành trước hết nó phải là hành vi tấn công người bị hại, mức độ tấn công tới mức người bị hại không thể chống cự được. Ví dụ như bỏ thuốc ngủ vào cốc nước cho người bị hại uống làm cho người đó ngủ say, bị mê mệt không biết gì sau đó mới chiếm đoạt tài sản của người bị hại…

Trong tình huống trên, H và Q không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay có hành vi nào khác làm cho chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được là do uống quá nhiều rượu nên say, việc chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không nhận thức, không chống cự được không có lỗi của H và Q. Vì vậy, trong tình huống này H và Q chỉ chiếm đoạt tài sản của chị B.

 

Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q không có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản. Vì vậy ý kiến cho rằng H và Q phạm tội cướp tài sản là sai.

 

2. Ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: ý kiến này cũng sai vì các tình tiết không cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 BLHS. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ.

Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ không làm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt của người phạm tội hoặc nếu có thì biện pháp đó cũng không đem lại hiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy đi một cách công khai). Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu giếm hành vi phạm tội của mình , trước, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản, người bị thiệt hại biết ngay người lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được).

 

Do đặc điểm riêng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh… Mặc dù tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là tội phạm chưa được các nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứu nhiều, nhưng qua thực tiễn xét xử chúng ta có thể thấy một số trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:

– Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ;

– Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản. Những hoàn cảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được.

 

Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B. Trong trường hợp nếu chị B và hai người bạn không hẳn bị mê mệt mà vẫn có thể  nhìn thấy hành vi chiếm đoạt tài sản của H và Q nhưng do quá say nên họ không thể ngăn cản hành vi của H và Q thì H và Q có thể bị cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Nhưng trong tình huống có ghi rõ “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…”, như vậy trong khi H và Q đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị B và hai người bạn không hề biết và nhìn thấy hành vi của H và Q, phải đến sáng hôm sau chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. Như vậy, hành vi của H và Q không thể là công nhiên mà có hành vi lén lút, hành vi của H và Q chỉ có thể bị coi là công nhiên khi chị B hoặc hai người bạn của chị B tỉnh giấc nhận thấy chị B bị chiếm đoạt tài sản nhưng do quá say nên không có khả năng chống cự và H và Q vẫn công khai, trắng trợn lấy số nữ trang trên người chị B. Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan, nhưng nó lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh. Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể có những thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếm đoạt, người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.

 

Từ những phân tích trên, ta thấy H và Q không có đủ các dấu hiệu cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là sai.

 

3. Ý kiến H và Q phạm tội trộm cắp tài sản: ý kiến này đúng, vì đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS. Điều 138 không mô tả những dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản mà chỉ nêu tội danh. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.

 

Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản.

 

* Khách thể của tội trộm cắp tài sản:

Khách thể của tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

Trong tình huống trên, H và Q không hề xâm hại đến quan hệ nhân thân của chị B và hai người bạn mà chỉ có hành vi xâm phạm đến tài sản của chị B, cụ thể là lấy đi toàn bộ số nữ trang bằng vàng của chị B.

 

* Hành vi khách quan:

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cành khách quan khác như chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết

 

Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta có thể có một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặc thù như sau:

– Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi có điều kiện sẽ lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản;

– Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn xô đẩy để chiếm đoạt tài sản của người khác;

– Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sản hoặc người tài sản không trực tiếp quản lý nên đã chiếm đoạt. Đặc trưng hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu lén lút. Lén lút là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai ở các tội xâm phạm sở hữu khác, dấu hiệu này vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành đó. Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm khách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút. Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi có hành vi này xảy ra. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình. Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản, đối với những người khác, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản vẫn là công khai. Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người phạm tội trong phần lớn vẫn là lén lút, che giấu đối với người khác.

Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B. Ta thấy trong tình huống có ghi rõ: “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…” . Để xác định hành vi phạm tội của H và Q  trong tình huống này ta cần xác định “tại thời điểm mất tài sản, chủ tài sản có biết hay không” là vấn đề cần thiết phải làm rõ, bởi nó liên quan đến bản chất của hành vi chiếm đoạt. Trong tình huống này, chị B là chủ tài sản, do bị say rượu nằm mê mệt bên đường  nên trong khi bị H và Q chiếm đoạt tài sản không hề biết mình bị chiếm đoạt tài sản. Phải đến sáng hôm sau tỉnh giấc chị B mới biết mình bị mất tài sản. Như vậy, dấu hiệu “thời điểm mất tài sản” là mốc thời gian, xác định việc tài sản đã bị chiếm đoạt và không nằm trong vòng kiểm soát của chủ tài sản nữa. Tại thời điểm này, chủ tài sản (chị B) không biết việc mình bị mất tài sản và đây chính là hệ quả của hành vi “lén lút”. Bởi chỉ có “lén lút” mới làm chủ tài sản không biết mình bị mất tài sản. Mặt khác trị giá tài sản bị các đối tượng chiếm đoạt là 10 triệu đồng, thỏa mãn dấu hiệu được nêu trong điều 138 , BLHS (từ hai triệu đồng trở lên ). Hành vi của H và Q được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích cuối cùng của H và Q là mong muốn chiếm đoạt tài sản của trị B, cụ thể là số nữ trang bằng vàng trên người của chị B.

 

Với sự liên hệ qua lại giữa các dấu hiệu này, giúp chúng ta dễ dàng tìm ra điểm đặc trưng của tội “Trộm cắp tài sản”, từ đó ta có cơ sở để quyết định H và Q phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, ý kiến cho rằng H và Q phạm tội trộm cắp tài sản là đúng.

 


 

Tình huống 3: Định tội danh

A là chủ kiêm lái xe chở xăng dầu. A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty. Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vẫn chuyển của công ty X như sau:

Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phuy không mang sẵn đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe.

Bằng thủ đoạn trên A đã nhiều lần lấy dầu được thuê vận chuyển với tổng trị giá là 100 triệu đồng thì bị phát hiện.

 

Câu hỏi:

  1. Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A?
  2. B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của B là gì?

 

Lời giải

 

1. Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A?

>>> Trường hợp 1: Hành vi của A cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS) :

 

Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người

khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người

khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

 

 

Về dấu hiệu pháp lý: Điều 140 BLHS quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 trường hợp:

 

– Thứ nhất, bằng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay mượn, thuê,…

– Thứ hai, sử dụng tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê,… vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

 

* Chủ thể của tội phạm:

Ngoài những điều kiện về tuổi và phải có năng lực trách nhiệm hình sự, tội này đòi hỏi chủ thể phải là những người đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho khối lượng tài sản nhất định. Cơ sở giao tài sản là hợp đồng, việc giao và nhận tài sản là hoàn toàn ngay thẳng. Chủ tài sản do tín nhiệm đã giao tài sản để người được giao sử dụng, bảo quản, vận chuyển, gia công hoặc sửa chữa,… tài sản.

Trong đề bài đã cho, vì A ký hợp đồng vận chuyển dầu nên A chắc chắn đã có bằng lái ô tô bởi vậy có thể khẳng định rằng A có đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự, Trong đề cũng nêu rõ “A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty”, như vậy A đã được công ty X tín nhiệm, giao cho việc vận chuyển dầu chạy máy. Nếu công ty X là doanh nghiệp tư nhân thì A không có trách nhiệm quản lý tài sản, mà chỉ có trách nhiệm vận chuyển, như vậy A không có dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội tham ô đó là có chức vụ, quyền hạn quản lý đối với tài sản được giao.

 

* Mặt khách quan của tội phạm:

Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của ngườikhác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

 

– Hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt.

Hành vi chiếm đoạt ở đây là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Những hành vi đó là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết:

– Không trả lại tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối      ( như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản rút bớt tài sản,… ) hoặc

– Không trả lại được tài sản do không có khả năng vì đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp ( như dùng vào việc buôn lậu, buôn bán hàng cấm hay đánh bạc, ….)

 

Ví dụ như vụ việc xảy ra tại Việt Trì trong khoảng tháng 1 và tháng 2 năm 2008: Xuất phát từ mối quan hệ quen biết giữa Nguyễn Thị Lộc (phố Đoàn

Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì) với các chị Lê Thị Kiều Vân (phố Thọ Mai, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì)  và Lê Thị Kiều Dung (phường Vân Cơ, thành phố Việt Trì), trong khoảng thời gian tháng 1 và tháng 2 năm 2008, Nguyễn Thị Lộc đã vay tiền của chị Vân và chị Dung với tổng số tiền là 2,1 tỷ đồng để dùng vào mục đích kinh doanh đóng tàu thủy và làm nhà riêng. Sau khi vay được số tiền trên, Nguyễn Thị Lộc lại không dùng đúng mục đích như cam kết. Vì hám lợi, Nguyễn Thị Lộc lại dùng toàn bộ số tiền trên vào việc đánh bạc với hình thức ghi lô, đề mà Lộc tự nhận là thư ký ghi đề cho một chủ đề ở Hà Nội dẫn đến thua lỗ toàn bộ khoản tiền vay. Lộc đã lạm dụng lòng tin của chị Vân và chị Dung, dùng số tiền vay được vào mục đích bất hợp pháp đó là ghi lô đánh bạc.

Hành vi gian dối của A đã được miêu tả kỹ trong đề bài “Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phuy không mang sẵn đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe”.Ban đầu sau khi nhận được dầu thật, A bí mật đem bán,sau đó A đổ nước vào thùng với khối lượng tương đương, đem tới công ty nhập kho,  cuối cùng đổ nước đi và ra khỏi kho dầu.

A đã lợi dụng sự tín nhiệm của công ty X để kiếm lừa dối, chiếm dụng lượng dầu mỗi lần vận chuyển. Giữa A và công ty X đã có hợp đồng vận chuyển “A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty”. A đã có hành vi gian dối, tráo đổi tài sản, cụ thể là đổi dầu bằng nước.

 

– Đối tượng của hành vi chiếm đoạt:

Đối tượng của hành vi chiếm đoạt trong tội này là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm tội trên cơ sở hợp đồng, trong đề bài đối tượng của hợp đồng chính là 200 lít dầu mỗi lần A được thuê vận chuyển.

– Hậu quả:

Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Theo khoản 1 Điều 140 – BLHS thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 1 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 1 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong đề bài đã cho thì hậu quả của hành vi chiếm đoạt của A đã quá rõ ràng, tổng trị giá tài sản mà A đã chiếm đoạt phi pháp có giá trị là 100 triệu đồng, thỏa mãn  Điểm d- Khoản 2- Điều 140 BLHS “ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”

 

* Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản luôn là tài sản, giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, tuy nhiên, tội phạm này không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây là điểm khác biệt so với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhắm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không quy định những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội bị đuổi bắt, có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hay gây thương tích, hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác thì tùy trường hợp người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Trong bài làm thì khách thể của tội phạm chính là lượng dầu mà A đã chiếm đoạt được sau nhiều lần thực hiện hành vi gian dối, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 100 triệu đồng.

 

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt được tài sản, mục đích cũng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp đề ra thì lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp. Về lý trí, A nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt dầu máy của công ty X sẽ gây thiệt hại về tài sản cho công ty, thấy trước hậu quả của hành vi chiếm đoạt trên. Về ý chí, A mong muốn hậu quả phát sinh, A mong chiếm được số dầu trên để đem bán kiếm lợi nhuận.

Khi phân tích đề bài rất có thể có sự nhầm lẫn, cho rằng hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì vậy ở đây em xin phân biệt rõ. Giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản có 1 điểm khác nhau cơ bản đó là thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, nếu như A trước khi ký hợp đồng vận chuyển dầu cho công ty X đã có ý định chiếm đoạt tài sản thì chắc chắn A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn nếu sau khi A có được lượng dầu một cách hợp pháp ( thông qua hợp đồng vận chuyển) mới nảy sinh ý định chiếm đoạt thì hành vi của A cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Có thể thấy trong đề nêu rằng “Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vẫn chuyển của công ty X” mặt khác, hợp đồng vận chuyển dầu nhiều lần thì thường là hợp đồng vận chuyển dài hạn, nên ý định phạm tội của A có thể coi là phát sinh sau khi ký được hợp đồng. Tuy nhiên, nếu ý định này phát sinh trước khi ký hợp đồng, hoặc hợp đồng vận chuyển dầu được ký mỗi lần trước khi vận chuyển thì hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về cơ bản thì khung hình phạt của A là không thay đổi “ bị phạt tù từ  2 đến 7 năm”.

 

>>> Trường hợp 2: Hành vi của A cấu thành tội tham ô tài sản ( Điều 278 – BLHS):

 

Điều 278:

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

Về dấu hiệu pháp lý:

 

* Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội tham ô là chủ thể đặc biệt: chỉ những người mang dấu hiệu chủ thể đặc biệt đó làm dấu hiệu có chức vụ quyền hạn quản lý tài sản mới có thể là chủ thể của tội này, những người không có chức vụ quyền hạn chỉ có  thể là đồng phạm tham ô với vai trò là người xúi giục, tổ chức hay giúp sức.

Chủ thể của tội tham ô là người có trách nhiệm quản lý tài sản, trách nhiệm này có thể có được do có chức vụ hoặc do đảm nhiệm những chức trách công tác nhất định, trách nhiệm quản lý tài sản cần được phân biệt với trách nhiệm bảo vệ đơn thuần của người làm công việc bảo vệ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm,do bầu cử ,do hợp đồng hoặc do hình thức khác có hưởng lương hoặc ko hưởng lưong được giao thực hiện nhiệm vụ nhất định có quyền hạn. Cho nên ở đây A thông qua hợp đồng đã được công ty X giao cho nhiệm vụ và quyền hạn trong việc vận chuyển xăng dầu. A được đảm nhiệm công việc có tính độc lập đó là công việc tạo ra cho ngừoi được giao (tuy ko có trách nhiệm quản lí tài sản) mối quan hệ cũng như trách nhiệm với khối lượng tài sản nhất định trong khoảng thời gian nhất định.Ở đây công ty X đã giao cho anh A một mình vận chuyển chuyển chuyến hàng, ko có người áp tải.(Trong trường hợp những thùng dầu A chở được một cơ quan dùng dây chì buộc lại với nhau thì cơ quan đó mới là người quản lý tài sản, và khi đó A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như đã nêu ở phần a.1).

Khi A có trách nhiệm quản lý lượng dầu máy thì A là người có thẩm quyền, bởi vậy A thỏa mãn dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội tham ô tài sản.

 

* Về mặt khách quan :

Người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Hành vi phạm tội của tội tham ô trước hết là hành vi chiếm đoạt, đối tượng của hành vi chiếm đoạt là những tài sản mà người phạm tội được giao quển lý, người phạm tội đã lợi dụng trách nhiệm quản lý tài sản được giao mà chiếm đoạt tài sản mình đang quản lý. Người phạm tội tham ô có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt được tài sản, xét đến cùng thì những thủ đoạn đó thực chất đều là sử dụng chức vụ quyền hạn được giao như phương tiện, điều kiện để có thể dễ dàng biến tài sản được giao thành tài sản của mình.

Trong vụ án đề ra, hành vi của A là hành vi gian dối, với những thủ đoạn đã phân tích như trong phần a.1.

 

* Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội tham ô tài sản là những quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội  là hoạt động theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

 

Hành vi của A

Về mặt chủ quan của tội phạm không có gì khác biệt so với phần a.1.

Điểm khác biệt giữa Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội tham ô chính là dấu hiệu về chủ thể. Nếu như A có trách nhiệm quản lý tài sản thì hành vi của A cấu thành tội tham ô tài sản.

Hành vi của A thỏa mãn Điểm d Khoản 2 Điều 278 BLHS về tội tham ô tài sản.

 

2. B có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A.

 

Việc B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không thì có thể chia ra những trường hợp như sau:

 

b.1.Thứ nhất, nếu B hoàn toàn không biết gì về hành vi chiếm đoạt của A, không biết số dầu A bán cho mình là bất hợp pháp, và không có bất kỳ thỏa thuận nào với A thì B không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A. Trong cấu thành của mọi vi phạm pháp luật thì yếu tố lỗi là yếu tố không thể thiếu. Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Trong trường hợp thứ nhất này, B không hề có lỗi trong việc tiêu thụ dầu của A, hoàn toàn ngay tình, bởi vậy nên B không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A.

 

b.2.Thứ hai, nếu B hoàn toàn biết được số dầu mình mua của A là  do A chiếm đoạt được một cách phi pháp, nhưng giả vờ như không biết,giữa A và B không hề có sự hứa hẹn hay thỏa thuận nào, B do ham lợi vẫn cố tình tiêu thụ dầu thì hành vi của B thỏa mãn cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ( Điều 250 BLHS)

– Về mặt khách quan của tội phạm, hành vi của B là hành vi tiêu thụ dầu máy mà biết được đó là lượng dầu A chiếm được do phạm tội, tuy nhiên giữa A và B không có bất kỳ sự thỏa thuận nào.

– Về mặt chủ quan, B nhận thức rõ hành vi tiêu thụ dầu máy mà A chiếm đoạt được một cách phi pháp là nguy hiểm cho xã hội, lượng dầu rất lớn ( 200 lít dầu mỗi lần) nhưng do ham lợi nhuận, B vẫn cố tình tiêu thụ số dầu đó, B nhận thức được rõ ràng hậu quả của hành vi của mình. Lỗi của B là lỗi cố ý.

Như vậy hành vi của B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 250 BLHS –  Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

 

b.3.Thứ ba, nếu giữa B và A có sự thỏa thuận trước với nhau (ví dụ như A chiếm đoạt dầu để B tiêu thụ, dầu sẽ được bán cho B với giá thấp hơn giá thị trường 5%, B đảm bảo nguồn cầu cho A,.. ), A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì hành vi của B cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 140 – BLHS với vai trò đồng phạm của A.

 

* Về mặt khách quan :

– Đồng phạm đòi hỏi có ít nhất 2 người tham gia thực hiện tội phạm và họ có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, cả A và B đều đủ điều kiện chủ thể,

-Những người đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm, với một trong 4 hành vi : thực hiện tội phạm hoặc tổ chức thực hiện tội phạm hoặc xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm. A và B cùng tham gia thực hiện tội phạm, A lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt dầu máy, B phụ trách tiêu thụ.

 

* Về mặt chủ quan: cả A và B đều cố ý thực hiện hành vi phạm tội,  A chiếm đoạt, B tiêu thụ giúp, vì giữa hai người đã có sự thỏa thuận với nhau nên họ còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của người đồng phạm kia.

– Về lý trí, A biết rõ hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt dầu máy là trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, B cũng biết rõ hành vi tiêu thụ dầu của mình là gây nguy hiểm cho xã hội. Hai người cũng biết rõ hành vi cố ý của người kia.

– Về ý chí, tất nhiên cả hai người này mong muốn có hoạt động chung, và cùng mong muốn để cho hậu quả phát sinh, bởi vì nếu A chiếm đoạt được dầu thì rất  cần có nơi tiêu thụ, B cũng muốn kiếm được thêm tiền vì hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tuy nguy hiểm nhưng chắc chắn đem lại lợi nhuận cao hơn so với bình thường.

 

Trường hợp đồng phạm của A và B là đồng phạm giản đơn, cả 2 người tham gia với vai trò đồng thực hành nếu phân chia theo dấu hiệu khách quan. Còn nếu chia theo dấu hiệu chủ quan thì trường hợp đồng phạm của họ là đồng phạm có dự mưu, nghĩa là đã có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước để thực hiện hành vi chiếm đoạt và tiêu thụ dầu nhiều lần ( tổng trị giá tài sản lên tới 100 triệu).

Đối với trường hợp đồng phạm giản đơn này, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, thì A và B đều bị truy tố, xét xử về cùng 1 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo điểm d khoản 2.

 

b.4. Thứ tư nếu nếu giữa B và A có sự thỏa thuận trước với nhau, A phạm tội tham ô tài sản, thì hành vi của B cấu thành Tội tham ô tài sản với vai trò đổng phạm.

 

* Về mặt chủ quan thì không có gì khác biệt so với trường hợp thứ ba nêu trên.

* Về mặt khách quan :

– Đồng phạm đòi hỏi có ít nhất 2 người tham gia thực hiện tội phạm và họ có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, cả A và B đều đủ điều kiện chủ thể,

– Những người đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm, với một trong 4 hành vi : thực hiện tội phạm hoặc tổ chức thực hiện tội phạm hoặc xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm.

 

Trong đề bài ra thì A đóng vai trò người thực hành của tội tham ô, hành vi của A là lợi dụng quyền hạn quản lý tài sản bằng hành vi gian dối đã chiếm đoạt lượng dầu với tổng trị giá 100 triệu, còn B đóng vai trò người giúp sức,hành vi của B là tiêu thụ dầu giúp A.

Như vậy B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản với vai trò người giúp sức. Ngoài ra B  cũng có thể là người xúi giục hoặc người tổ chức.

 


 

Tình huống 4: Người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam

 

A là quốc tịch Canada. A có hành vi phạm tội giết người trên lãnh thổ Việt Nam và bị bắt tại Anh.

 

Câu hỏi

  1. Hành vi phạm tội của A có bị xử theo Bộ luật Hình Sự Việt Nam không?
  2. Giả định A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A có bị coi là tội phạm không?
  3. Hãy cho biết quan điểm cá nhân về quy định tại Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam.
  4. Về nguyên tắc thì A bị xử lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam theo khoản 1 điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam: Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Lời giải

 

Tuy nhiên do A là người Canada nên việc xử lý A phải căn cứ vào khoản 2 điều 5 của bộ luật hình sự. Nếu A là đối tượng thuộc khoản 2, điều 5 bộ luật hình sự thì vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Như vậy câu Lời giải chính xác là có thể.

Dù A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A vẫn bị coi là tội phạm.

Hành vi của A là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vì nó thoả mãn những đặc điểm của tội phạm:

+  Tính nguy nguy hiểm cho xã hội

+  Tính có lỗi

+  Tính trái pháp luật hình sự

+  Tính chịu hình phạt

 

Hành vi của A là tội phạm tuy nhiên do A ( chủ thể của tội phạm) thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao nên vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định tại khoan 2, điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật  Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

 

Quan điểm của cá nhân em về quy định tại điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam.

 

Điều 5 của bộ luật hình sự Việt Nam quy định về:  Hiệu lực của bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

  1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩ Việt Nam.
  2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quýêt bằng con đường ngoại giao.

 

Quan điểm cá nhân em cho rằng điều 5 quy định về hiệu lực của bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một điều luật đúng hợp lý vừa thể hiện được tính nghiêm khắc vừa có sự kết hợp hài hoà với những thông lệ ngoại giao và tập quán quốc tế điều đó nói lên rằng Việt Nam rất tôn trọng những điều ước, điều khoản mà mình đã ký kết, đây là một điều kiện rất quan trọng để chúng ta ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới. Tuy vậy không vì điều đó mà việc thực hiện pháp chế bị ảnh hưởng mà trái lại điều luật này đã quy định rất rõ là mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam đều được áp dụng thoe bộ luật này.

Bên cạnh sự đúng đắn và hợp lý đó em còn thấy rằng để thực hiện được điều luật này phải có một chính quyền đủ mạnh và phải có sự phối hợp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vì một khi nhà nước mình không đủ mạnh để gây áp lực và quốc gia khác không hợp tác thì không thể xử lý được một hành vi phạm tội  trên lãnh thổ Việt Nam mà bị bắt ở nước ngoài khi mình yêu cầu dẫn độ về nước để xử lý theo bộ luật hình sự Việt Nam mà không được nước đó chấp nhận.

Một ví dụ điển hình năm 2001 Lý Tống dùng máy bay từ Thái Lan xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam rải truyền đơn rồi tẩu thoát về Thái Lan sau đó bị bắt, nhà nước ta đã yêu cầu phía Thái Lan dấn độ Lý Tống về Việt Nam để xử lý theo bộ luật hình sự Việt Nam nhưng không được phía Thái Lan chấp nhận. Nên hành vi tội phạm mà Lý Tống thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nhưng vẫn không bị xư lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam.

Như vậy ta thấy để thực hiện triệt để được điều luật nay cần phải có một nhà nước mạnh và sự cần thiết phải tiến hành ký kết các hiệp ước tương trợ tư pháp giữa các quốc gia.

 


 

Tình huống 5: Tội cướp tài sản

 

Lợi dụng lúc gia đình B ngủ trưa không đóng cửa, A lẻn và nhà B lấy chiếc xe đạp mini Nhật ( trị giá khoảng hai triệu đồng). A dắt xe ra đến sân thì bị anh B phát hiện và đuổi theo giằng lại, A dùng chân đạp mạnh vào người anh B làm anh ngã ra sân. A vội lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát nhưng đã bị mọi người bắt giữ. Anh B ngã chỉ bị xây xước. Về việc phạm tội của A có quan điểm cho rằng:

  1. A phạm tội trộm cắp tài sản với tình tiết hành hung tẩu thoát (điểm d khoản 2 Điều 138 BLHS)
  2. A phạm tội cướp tài sản

Theo anh (chị) quan điểm nào đúng và giải thích tại sao?

 

Lời giải

 

Với tình huống như đã mô tả ở trên theo em A phạm tội cướp tài sản theo điều 133 BLHS.

Giải thích: Tội cướp tài sản là dùng vũ lực hoặc đe doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

 

Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản (133 BLHS)

 

* Khách thể của tội phạm:

Xâm phạm đến quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Như vậy, tội “Cướp tài sản” xâm phạm đồng thời hai quan hệ được luật hình sự bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.

 

* Mặt khách quan của tội phạm:

Theo quy định của điều luật, có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi phạm tội của tội cướp tài sản. Đó là: + Hành vi dùng vũ lực; + Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc; + Hành vi làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Cả ba hành vi trên đều có mục đích  nhằm chiếm đoạt tài sản.

 

* Chủ thể của phạm

Là chủ thể thường chỉ đòi hỏi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

 

* Mặt chủ quan của tội pham:

+ Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là lỗi cố ý.

+ Mục đích của tội cướp tài sản là chiếm đoạt tài sản.

Đối chiếu và tình huống trên ta thấy mặc dù ý định ban đầu của A là thực hiện hành vi trộm cắp nhưng từ lúc A dắt xe ra bị B phát hiện và giữ lại, A dùng chân đạp mạnh và người B, làm B ngã và A đã lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát hành vi này đã đủ cấu thành tội cướp tài sản và lúc này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hóa thành tội cướp tài sản, đây chính là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản. Kể cả trong trường hợp A đã chiếm đoạt được chiếc xe đạp bằng thủ đoạn của tội trộm cắp nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện và A đã tấn công lại B bằng những thủ đoạn của tội cướp nhằm giữ bằng được chiếc xe đạp đã chiếm đoạt trước đó thì vấn bị xử tội cướp tài sản. Hành vi tấn công B ( dùng chân đạp mạnh vào người B làm B ngã và lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát không thể được coi là tình tiết hành hung để tẩu thoát theo điểm d khoản 2 điều 138 BLHS được vì trường hợp hành hung để tẩu thoát là người phạm tội đã có hành vi dùng sức mạnh chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát chứ không phải nhằm mục đích giữ bằng được tài sản vừa mới chiếm đoạt được. Mà theo mô tả trên thì A tấn công B không phải nhằm mục đích tẩu thoát mà nhằm mục đích giữ bằng được chiếc xe đạp vì vậy đây là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản nên tội trộm cắp đã chuyển hoá thành tội cướp tài sản.

 

Trích: Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 về việc Hướng dẫn áp đụng một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999:

 

6. Khi áp đụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1. Phạm tội thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát.

6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bịngười bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản

 

Trong tình huống trên, mặc dù A cho là lên xe đạp để tẩu thoát nhưng xe đạp là xe của ông D, việc A tẩu thoát cùng với xe đạp của người bị hại phải bị coi là chiếm đoạt tài sản chứ không thể coi là A “mượn tạm” để tẩu thoát. Ai thực hiện hành vi phạm tội xong cũng đều có mục đích tẩu thoát. Nhưng trong trường hợp này, mục đích của A không chỉ đơn thuần là tẩu thoát mà còn là chiếm đoạt.

Như vậy, qua sự phân tích và căn cứ vào hướng dẫn trên ta khẳng định rằng A phạm tội cướp tài sản theo điều 133 BLHS, (do tội Cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức nên tội phạm đã hoàn thành từ khi A dùng chân đạp vào B để lấy cho bằng được chiếc xe), chứ không phải tội trộm cắp tài sản với tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm d khoản 2 điều 138 BLHS).

Theo em, thì thực chất, cái mà chúng ta gọi là “chuyển hoá” chẳng qua là đã bỏ đi một tội cho người phạm tội. Khi A lén vào nhà B dắt xe ra, A đã thực hiện hết các hành vi có thể có trong tội Trộm cắp tài sản, nhưng chưa ra khỏi phạm vi kiểm soát của B (chưa ra khỏi nhà) thì bị phát hiện nên A phạm tội chưa đạt (đã hoàn thành). Tính nguy hiểm của hành vi này được thu hút vào hành vi Cướp tiếp theo nên chúng ta gọi là chuyển hoá thành tội “Cướp tài sản”./.

 


 

Tình huống 6

A bị lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động trong nước. Khi thấy tính hình xã hội có nhiều biến động, để gây thêm thanh thế của tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, A nhận nhiệm vụ ném lựu đạn vào nhà chủ tịch huyện K (huyện giáp biên giới) nhằm giết chết ông K và làm suy yếu chính quyền. A ném lựu đạn vào nhà nhưng lựu đạn không nổ. Sau đó A bị bắt.

 

Hỏi:

 

1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

a. A phạm tội giết người?

b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành?

2. Phân tích sự khác nhau giữa tội khủng bố và tội giết người?

 

Lời giải

 

1 . Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

 

a. A phạm tội giết người? Sai

Nếu xét các dấu hiệu cảu mặt khách quan thì hành vi của A cũng tương tự tội giết người. Đối với tội giết người, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu định tội nhưng nếu giết người có mục đích làm suy yếu chính quyền nhân dân thì đã thỏa mãn CTTP tội khủng bố. Hành vi của A không đơn thuần chỉ là hành vi giết một con người cụ thể mà hành vi của A để gây thêm thanh thế cho tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, từ đó nhằm làm suy yếu chính quyền. Mặt khác, K là một chủ tịch huyện, với vai trò cán bộ nhà nước, lại ở giáp biên giới, nơi thường bị các lực lượng thù địch lợi dụng chống phá. Như vậy, xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi của A là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Chính vì thế, A không phạm tội giết người mà là phạm tội khủng bố theo điều 84 BLHS .

 

b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành? Sai

Về căn cứ pháp lý, CTTP tội khủng bố là CTTP vật chất, là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.

Mặt khác, tội khủng bố có 2 loại hậu quả:

Hậu quả trực tiếp: chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiện để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.

Hậu quả gián tiếp: thông qua hậu quả trực tiếp, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của CTTP tội khủng bố.

Xét về lý luận, CTTP vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xảy ra, xét với tội khủng bố tức là cả 2 hậu quả đều xảy ra. Tuy nhiên, rất khó để xác định, thậm chí là không thể xác định được chính quyền đã suy yếu hay chưa, nếu suy yếu thì nó ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được vì nguyên nhân chính trị. . . Như vậy tội khủng bố hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra.

Xét vào vụ án trên, A đã có hành vi ném lựu đạn vào nhà với ý muốn giết chết K, nên hành vi của A không thể là hành vi quy định tại khoản 3 điều 84: “đe dọa xâm phạm tính mạng” mà là hành vi quy đinh tại khoản 1 nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra.

 

2. Phân tích sự khác nhau giữa tội khủng bố và tội giết người?

 

Khái niệm:

– Tội khủng bố: là hành vi xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng , sức khỏe, tự do thân thể của cán bộ, công chức hoặc công dân nhằm chống chính quyền nhân dân.

Được quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 điều 84 BLHS.

– Tội giết người: là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác.

Được quy đinh tại khoản 1, 2, 3 điều 93 BLHS.

 

Phân tích sự khác nhau:

 

 * Khách thể của tội phạm

Tội khủng bố xâm phạm: sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, xâm phạm an ninh đối ngoại – đe dọa đến quyền cơ bản nhất của quốc gia, thông qua việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người.

Đối tượng tác động của tội khủng bố thường là những cán bộ cốt cán, những thành viên tích cực trong các hoạt động xã hội, những công dân có đóng góp nhiều trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội và cũng có thể là người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Tội giết người xâm phạm đến quyền sống – quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của con người.

Đối tượng tác động của tội giết người có thể là bất kì ai có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, đó là những con người cụ thể, đang tồn tại trong thế giới khách quan.

 

* Mặt khách quan của tội phạm

 

– Hành vi:

Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác – xâm phạm đến tính mạng của một hay những con người cụ thể.

Đối với tội khủng bố, ngoài hành vi xâm phạm đến tính mạng còn có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tự do thân thể của con người. Đó có thể là giết người (khoản 1), cố ý gây thương tích, bắt giữ (khoản 2), dọa giết hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần như dọa đốt nhà, dọa tố cáo. . . (khoản 3).

 

– Hậu quả:

Tội giết người chỉ gây ra một loại hậu quả, đó là hậu quả chết người (hậu quả trực tiếp) và hậu quả đó là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP tội giết người, nói cách khác, tội giết người hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.

Tội khủng bố có thể gây ra 2 loại hậu quả:

Hậu quả trực tiếp: có thể là chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiên để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.

Hậu quả gián tiếp: thông qua việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của cán bộ, công chức hay công dân, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của CTTP tội khủng bố, nguyên nhân ngoài tính chất đặc biệt nguy hiểm của tội khủng bố còn có thể là rất khó để xác định chính quyền đã suy yếu hay chưa, ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được. . .

* Mặt chủ quan của tội phạm

– Lỗi:

Cùng là lỗi cố ý nhưng tội khủng bố được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Nguời phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện,  thấy được hậu quả (thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người khác) nhưng mong muốn hậu quả đó xảy ra (nhằm làm suy yếu chính quyền nhân dân) .

Ngoài lỗi cố ý trực tiếp, tội giết người còn được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp, tuy rằng nhận thức được và thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng người phạm tội lại để mặc cho hậu quả xảy ra, có ý thức chấp nhận hậu quả xảy ra .

 

– Mục đích:

Mục đích, không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP tội giết người, nó không có ý nghĩa trong việc định tội mà có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt hoặc định hình phạt.

Chống chính quyền nhân dân là dấu hiệu bắt buộc trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Cụ thể đối với tội khủng bố mục đích là làm suy yếu chính quyền. Sỡ dĩ quy định như thế là vì các tội xâm phạm an ninh quốc gia có tích chất nguy hiểm đặc biệt, ý chí ngông cuồng cao độ, nhằm chống lại nhà nước, muốn thay đổi chế độ xã hội, chính vì thế phải có chính sách hình sự đặc biệt hơn các tội phạm thông thường. Hơn thế nữa, các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói chung và tội khủng bố nói riêng, các tình tiết của vụ án rất giống các loại tội phạm khác, chính vì thế mục đích của người phạm tội mới thể hiện rõ bản chất phạm tội của họ.

 

* Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.

Thấy rằng “người có năng lực TNHS” và “đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể”, cả 2 tội đều giống nhau, áp dụng điều 12 BLHS, ta dễ dàng nhận thấy rằng:

Chủ thể của tội khủng bố điều 84 BLHS, có thể là người từ 14 tuổi đối với khoản 1, khoản 2, còn đối với khoản 3 thì là 16 tuổi trở lên. Đối với tội giết người, chủ thể luôn là người từ 14 tuổi trở lên, cả khoản 1 lẫn khoản 2.

 

Tóm gọn lại như sau:

 

Tiêu chí Tội khủng bố (Đ. 84 BLHS) Tội giết người (Đ. 93 BLHS)
Khách thể của tội phạm – sự vững mạnh của chính quyền nhân dân

– thường là những người có tầm quan trọng

– quyền sống của con người.

– conngười, bất kì ai, đang sống

Mặt khách quan của tội phạm – hành vi: xâm hại ngoài tính mạng còn : sức khỏe, tự do thân thể. . .

– hậu quả:

+ trực tiếp: chết người, thương tích,. . .

+ gián tiếp: suy yếu chính quyền

– hành vi: xâm hại tính mạng.

– hậu quả: chết người.

Mặt chủ quan của tội phạm – lỗi: + lỗi cố ý trực tiếp

– mục đích: làm suy yếu chính quyền nhân dân ( dấu hiệu bắt buộc )

– lỗi cố ý bao gồm:

+ trực tiếp

+ gián tiếp

– mục đích: không bắt buộc.

Chủ thể của tội phạm – tuổi:

+ 14 trở lên đối với K1, K2

+ 16 tuổi trở lên đối với K3

– tuổi: từ 14 tuổi trở lên.

 


 

Tình huống 7

Trên đường đi uống rượu về, H và Q phát hiện ra chị B cùng với hai người bạn đang say rượu nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng khi cơn say đã hết chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q :

 

  1. H và Q phạm tội cướp tài sản;
  2. H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;
  3. H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

 

Anh (chị) hãy xác định ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai và giải thích rõ tại sao?

 

Giả thiết rằng ngoài việc chiếm đoạt tài sản H và Q còn có hành vi giao cấu với chị B thì bị chị này phát hiện và kêu cứu, sợ bị lộ H và Q đã bóp cổ làm chị B chết thì H và Q có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không? Nếu có tội thì tội danh cho hành vi của H và Q là gì? Căn cứ pháp lý?

 

Lời giải

 

1. H và Q phạm tội cướp tài sản là khẳng định sai vì:

Theo Điều 133 BLHS năm 1999 quy định : Tội cướp tài sản dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Ta khắng định như vậy là dựa vào dấu hiệu pháp lý sau:

 

* Khách thể của tội phạm:

Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Sự xâm hại một trong hai quan hệ này đều chưa thể hiện được hết bản chất nguy hiểm của hành vi cướp tài sản, nên cả hai quan hệ này đều chưa thể hiện được hết bản chất nguy hiểm của hành vi cướp tài sản. Do vậy cả hai quan hệ xã hội bị xâm hại đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản.

 

Ở đây H và Q không có bất kỳ hành vi nào là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay hành vi khác để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản mà H, Q chỉ thực hiện 1 hành vi duy nhất là lấy tài sản trên người chị B khi biết chị đang trong tình trạng say rượu.

 

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn làm và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Bên cạnh việc cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì người phạm tội còn có mục đích chiếm đoạt tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội cướp tài sản. Việc giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng được coi là dạng đặc biệt của mục đích chiếm đoạt. Như vậy, những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay làm cho người khác bị tấn công không thể chống cự được nhằm mục đích giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng bị coi là cấu thành tội cướp tài sản.

Lỗi của H, Q là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội cả H, Q đều biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội là xâm phạm quan hệ sở hữu nhưng vẫn làm và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Khi thấy B và bạn của chị trong tình trạng say rượu H, Q đã không tốn chút công sức nào để chiếm đoạt được tài sản.

Về dấu hiệu mục đích: Khi sử dụng rượu hay các chất kích thích khác thường gây ra sự hưng phấn trong cơ thể nên con người dễ thực hiện những hành vi nằm ngoài sự kiểm soát của bản thân.Trong tình huống này H, Q không hề có sự bàn bạc, thỏa thuận hay rủ nhau uống rượu vào để lợi dụng chất kích thích đi phạm tội. Việc phạm tội nằm ngoài ý chí chủ quan của H, Q. Chỉ khi vô tình nhìn thấy trên người chị B đeo nhiều nữ trang mà chị và các bạn đang ở trong tình trạng say mềm không còn biết gì nữa, không có khả năng phòng vệ nên H, Q mới nảy sinh ý định lấy tài sản.

 

Như vậy căn cứ trên đã chứng tỏ H, Q không phạm tội cướp tài sản theo Đ133BLHS năm 1999.

 

2. H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là khẳng định sai vì:

Theo luật hình sự Việt Nam thì công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để lấy tài sản một cách công khai.

 

* Mặt khách quan của tội phạm:

Do đặc điểm riêng của tội này nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt” nhưng bằng hình thức công khai với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh…

Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan nhưng lại là một đặc điểm cơ bản đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên với mọi người xung quanh.

Ta thấy về hành vi phạm tội, thì hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi có tính chất chiếm đoạt. Đây là dấu hiệu bắt buộc đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi chiếm đoạt. Như vậy hành vi chiếm đoạt không còn là mục đích hành động mà phải được thực hiện trong thực tế.

Ở trường hợp này cả H và Q đã có hành vi chiếm đoạt là lấy tài sản của chị B, dấu hiệu chiếm đoạt ở đây mới nhìn có vẻ rất công khai nhưng thực tế lại không như vậy. Việc chiếm đoạt tài sản của H và Q đối với chị B được thực hiện một cách từ từ, từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc hành vi phạm tội, chính hành vi này đã làm cho ta lầm tưởng rằng H và Q không có ý định che giấu hành vi phạm tội của mình. Tuy vậy cả H và Q đều có hành vi che giấu việc thực hiện tội phạm. H và Q có công nhiên đối với tài sản nhưng lại có hành vi che giấu với chủ sở hữu tài sản là chị B và mọi người xung quanh mà cụ thể ở đây là những người bạn của chị B. Việc chiếm đoạt tài sản của H và Q không công khai nhưng do hoàn cảnh khách quan thuận lợi là trời tối vắng vẻ, chị B và những người bạn đều trong tình trạng say không biết gì đang xảy ra nên không có điều kiện ngăn cản. Vì vậy nên sau khi chiếm đoạt được tài sản H và Q đã không cần nhanh chóng lẩn trốn.

 

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Cũng như đối với tội trộm cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản thì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Khác với tội xâm phạm sở hữu khác thì người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không thể có mục đích chiếm đoạt tài sản trong hoặc sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt vì hành vi chiếm đoạt đã bao gồm cả mục đích của người phạm tội. Vì vậy mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của chủ thể tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội còn có thể có mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác.

Như trên đã phân tích thì H và Q thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và không có mục đích chuẩn bị phạm tội từ trước, hành vi phạm tội hoàn toàn là do điều kiện khách quan mang lại. Việc chiếm đoạt tài sản đã có chủ của H và Q được tiến hành khi họ biết chị B và những người bạn của chị đều trong tình trạng hạn chế về năng lực hành vi không có điều kiện để ngăn cản. Mặc dù chính lúc này chị B phải có đủ điều kiện và có thể kêu cứu để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của H và Q.

Như vậy H và Q không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 137 BLHS năm 1999.

 

3: H và Q phạm tội trộm cắp tài sản là khẳng định đúng vì:

Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ.

Ta thấy hành vi phạm tội của H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản, cụ thể là:

 

* Chủ thể của tội phạm: Đối với tội trộm cắp tài sản thì chủ thể của tội phạm cũng giống như đối với các tội xâm phạm sở hữu khác đều là chủ thể thường tức là đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự (Điều13 BLHS)và đạt độ tuổi luật quy định (Điều12 BLHS).

Ở đây đề bài không nêu H và Q có dấu hiệu hạn chế về năng lực hành vi, mắc bệnh tâm thần… và độ tuổi nên ta mặc nhiên coi H và Q đã đủ tuổi và không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

* Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội trộm cắp tài sản cũng tương tự như những tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản,®Æc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản. Điều luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt vì vậy nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết người, gây thương tích thì tùy từng trường hợp mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội trên.

Trong trường hợp đề bài nêu thì H và Q cũng chỉ có hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Vì khi lấy tài sản thì chủ sở hữu tài sản là chị B và các bạn của chị đang trong tình trạng say, không có điều kiện để ngăn cản hành vi phạm tội của H và Q, hơn nữa khi đó trời lại tối và vắng vẻ. Do đó cả H và Q không có ý định hay hành vi nào nhằm đối phó lại chị B và những người xung quanh.

 

* Mặt khách quan của tội phạm:

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có hành vi duy nhất là “chiếm đoạt” nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút. Với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản. Hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản có hai dấu hiệu phân biệt với hành vi chiếm đoạt của những tội khác đó là dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có chủ.

Lén lút là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai. Nó vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi đó. Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút.

Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà nó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che dấu hành vi phạm tội.

Tài sản là đối tượng của tội trộm cắp tài sản là tài sản đang có chủ. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản ở tội này phải là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ. Đó là tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của người khác, nghĩa là đang nằm trong sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm và tài sản đang còn nằm trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản.

Xét về khách quan, chỉ những tài sản trên mới là đối tượng của tội trộm cắp tài sản. Xét về chủ quan, người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội cũng biết tài sản chiếm đoạt có đặc điểm đang có chủ.

Vì đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản. Ở đây H và Q đã có hành vi lén lút mà không công khai. Sự lén lút trong việc phạm tội thể hiện ở việc lợi dụng chủ sở hữu đang trong tình trạng say rượu không biết gì để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ tài sản là chị B.Vì say mềm nên chị B và hai người bạn không hề biết bị H và Q lấy mất tài sản, chỉ sau khi tỉnh rượu thì họ mới biết là mình bị mất tài sản và đi báo công an.

 

Tính chất lén lút của hành vi trộm cắp tài sản còn thể hiện ở chỗ người phạm tội che giấu hành vi phạm tội của mình. Lén lút đối lập với công khai, trắng trợn. Tuy nhiên lén lút không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà trong nhiều trường hợp người phạm tội cũng lén lút để thực hiện mục đích khác như lẻn vào nhà người khác để đặt mìn nhằm giết hại những người trong gia đình của họ, lẻn vào phòng ngủ của phụ nữ để thực hiện việc hiếp dâm…vì vậy khi nói đến trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp tài sản.

 

Ở đây H và Q đã lén lút lấy đi số nữ trang của chị B trị giá 10 triệu đồng, tuy công khai với tài sản nhưng cả H và Q đều có hành vi lén lút với chủ tài sản là chị B và những người xung quanh nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình.

 

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội trộm cắp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Vì vậy có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của chủ thể tội này. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt tài sản người phạm tội còn có thể có mục đích khác.

Khi trên đường về phát hiện ra chị B và những người bạn của chị do say rượu không biết gì đang nằm mê mệt bên lề đường và trên người chị B có đeo nhiều nữ trang bằng vàng có giá trị nên H và Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Tuy không có chủ định,bàn bạc từ trước và việc phạm tội cũng hoàn toàn là do điều kiện khách quan mang lại nhưng lỗi mà H và Q thực hiện là lỗi cố ý chiếm đoạt tài sản đang có chủ sở hữu.

Từ những phân tích trên chứng tỏ hành vi phạm tội của H và Q đã đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 BLHS năm 1999.

 


 

Tình huống 8:

T, H, K là cựu sĩ quan của chính quyền Sài gòn có sự thù ghét mất mãn với chính quyền mới. Thấy hoạt động chống phá chính quyền trong nước gặp nhiều khó khăn cần có sự dúp đỡ của nước ngoài. T, H, K đã liên hệ với  một tổ chức phản động ở nước ngoài. Theo thoả thuân, tổ chức phản động nước ngoài sẽ đón cả bọn tại hải phận quốc tế. T, H, K thuê A ngư dân dùng thuền đưa bọn chúng ra hải phân quốc tế với giá 15 cây vàng. Biết rõ mục đích chống chính quyền của chúng nhưng do tham tiền nên A vẫn chở bọn chúng đi.

 

Hỏi:

 

1. Các khẳng định sau đây đúng hay sai? giải thích?

  1. T, H,K phạm tội nhằm lật đổ chính quyền nhân dân?
  2. Tội phạm do T, H, K thực hiên ở giai đoạn phạm tội hoàn thành?
  3. A là người đồng phạm

 

2. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

 

Lời giải

 

1. Các khẳng định sau đây đúng hay sai? giải thích?

 

a. T, H, K có phạm tội nhằm lật đổ chính quyền nhân dân – Đúng

 

Theo điều 79 BLHS năm 1999 quy định:

 

Điều 79:

Người nào hoạt đông, thành lập, tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thỉ bị phạt tù như sau:

Người tổ chức người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 

Ta thấy hành vi của T, H, K đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Khách thể của tội này là xâm phạm sự tồn tại cuả chính quyền nhân dân. Thấy hoạt động chống chính quyền trong nước gặp nhiều khó khăn cần có sự tiếp sức của nước ngoài T, H, K đã liên hệ với một tổ chức  phản động nước ngoài như vây về mặt khách quan thì K, H, T đã tham gia vào tổ chức phản động của nước ngoài nhằm tạo thêm sức mạnh để tiến tới hoạt động nhằm lật đổ chính quyền mới.

Mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp mục đích của T, H, K là lật đổ chính quyền nhân dân. mặc dù nhận thức được hành vi của mình, thấy rõ được hậu quả của hành vi đó có mức độ nguy hiểm cao ngây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia, tức là sức mạnh và sự tồn tại của chế độ nhà  nước, chế độ xã hội, lợi ích cơ bản của dân tộc, sự đoàn kết thống nhất của toàn dân,an toàn chung xét trên quy mô quốc gia nhưng chúng vấn thực hiện và mong muốn cho hậu quả xẩy ra, hậu quả xẩy ra là hoàn toàn phù hợp với mục đích của chúng

Chủ thể của tội hoạt động nhăm lật đổ chính quyền nhân dân là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Khoản 1 điều 12 BLHS năm 1999 quy định về tuổi chiụu trách nhiệm hình sự “ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm”. Tại khoản 1 điều 13 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự “ Người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, đối với những người này phải áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc.”. Căn cứ vào hai điều luật này ta thấy T,H, K là cựu sĩ quan của chính quyền Sài gòn nên đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không trong tình trạng khôg có năng lực trách nhiệm hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội T, H, K đã đủ điều kiện là chủ thể của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân đân.

 

Qua sự phân tích trên ta thấy tội phạm mà T, H, K thực hiện là tôị hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

 

b. Tội phạm do T, H, K thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành –  Đúng

 

Biểu hiện cụ thể của hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân rất đa dạng phong phú. Có thể nhận lời tham gia dưới hình thức thoả thuân miện, cũng có thể bằng hình thức văn bản như viết đơn, cam đoan xin gia nhập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân… một người được coi là tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi nhân lời tham gia  tổ chức đó, không cần xét đến đã làm lễ kết  nạp, ăn thề hay chưa, có tên trong danh sách tổ chức hay không, hoặc đã tiến hành những hoạt động tội phạm cụ thể theo sự phân công, chỉ đạo của tổ chức hay chưa. Như vậy sự tham gia ở đây là sự tự nguyện, nhận  thức được tính chất phạm tội của tổ chức còn các trường hợp khác do bị cưỡng bức, lừa bịp hoặc do bị lạc hậu về nhận thức nên đã nhận lời tham gia tổ chức thì phải xem xét đánh giá điều kiện hoàn cảnh của từng trường hợp

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có cấu thành tội phạm cắt xén tức là chỉ có dấu hiệu hành vi mà không có dấu hiệu hậu quả. cấu thành tội phạm cắt xén khác với cấu thành tội phạm hình thức là dấu hiệu hành vi trong cắt xén không phải là sự phản ảnh chính hành vi phạm tội mà là hành vi “hoạt động” nhằm thực hiện hành vi đó, hành vi phạm tội của loại tội có cấu thành tội phạm cắt xén phản ảnh.

Trong cấu thành tội phạm của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân dấu hiệu hành vi phản ảnh tất cả những hoạt động nhằm thành lập hoặc tham gia tổ chức – có mục đích lật đổ chính quyền chứ không phản ảnh chính hành vi thành lập hoặc tham gia là hai loại hành vi phạm tội của loại tội này. Vì vậy tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tôi thực hiện hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Tổ chức phạm tội có thể hoàn thành hoặc chưa hoàn thành người tham gia  tổ chức có những hành động cụ thể theo kế hoạch của tổ chức hoặc chưa có hành động cụ thể gì, điều đó chỉ có giá trị trong đánh gía mức độ phạm tội, để quyết định hình phạt và hình thức xử lý tương xứng chứ không có giá trị trong xác định cấu thành tội phạm hay không, khi có hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức thì tội phạm được xác định là hoàn thành.

Ở đây T, H, K có sự thù ghét bất mãn với chính quyền nhân dân, thấy hoạt động chống phá trong nước  gặp nhiều khó khăn cần sự tiếp sức của tổ chức phản động nước ngoài K, T, H đã lên hệ với tổ chức phản động nước ngoài và theo thoả thuận tổ chức phản động nước ngoài sẽ đón cả bọn tại hải phận quốc tế như vậy mặc dù T, H, K chưa có hành động cụ thể nhưng bọn chúng đã có hành vi liên hệ với tổ chức phản động nước ngoài để tìm sự dúp đỡ và đã trốn ra nước ngoài để thuận lợi hơn cho việc hoạt động nhằm chống phá chính quyền nhân dân. Vì vậy tội phạm do T, H, K thực hiện ở giai đoạn tội phạm đã hoàn thành.

 

c. A là người đồng pham – Đúng

 

Tại khoản 1 điều 20 BLHS năm 1999 quy định “ Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

 

Đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt thể hiện quy mô và tính chất nguy hiểm hơn của tội phạm như tinh vi hơn xảo quyệt hơn táo bạo và liều lĩnh hơn có bàn bạc và lên kế hoạch…hơn so với tội phạm riêng rẽ.

 

* Về mặt khách quan đồng phạm có hai dấu hiệu:

Thứ nhất là phải có ít nhất từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm.

Thứ hai là những người đồng phạm phải cùng tham gia vào một tội phạm sự tham gia này thể hiện một trong 4 hành vi là Tổ chức, thực hành, xúi dục và dúp sức, tương ứng với bốn hành vi đó là có bốn lại người đồng pham.

 

* Về mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện do đồng phạm phải là tội cố ý. Những người đồng phạm đều cố ý thực hiện tội phạm hoặc biết và mong muốn sự cố ý của người khác khi cùng  thực hiên tội phạm. về lý trí mọi người đồng phạm đều  nhận thức rõ hành vi của mình và của người khác trong vụ đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội và cùng thấy trước được hậu quả của hành vi đó họ đều ý thức được hành vi của minh là môt bộ phận, một mắt xích trong quá trình thực hiện vụ đồng phạm, hành động của người này là điều kiện là tiền đề cho hành động của người kia và cho tất cả những đồng phạm khác. Về mặt ý chí mọi đồng phạm đều mong muốn  hậu quả xẩy ra hoặc có ý để mặc cho hậu quả xẩy ra. Trong trường hợp này A đóng vai trò là người dúp sức. Khoản 2 điều 20 quy định “người dúp sức là người tạo ra những điều kiện về vật chất hay tinh thần cho việc thực hiện tội phạm

T, H, K đã thuế A là ngư dân dùng thuyền đưa bọn chúng ra hải phận quốc tế với giá mười lăm cây vàng  biết rõ mục đích chống chính quyền của T, H, K nhưng A do tham lam nên vẫn chở bọn chúng trốn đi. Hành vi dúp sức qua hành động của A đã tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng cho vịêc thực hiên tội phạm của T, H, K. Ở đây A không có cùng mục đích hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân với T, H, K nhưng vì động cơ cá nhân, tham tiền nên biết rõ A vẫn  chấp nhận mục đích và tạo điều kiện vật chất bằng cách dùng thuyền đưa bọn chúng ra hải phân quốc tế. Về mặt lý trí A nhận thức rõ hành vi của mình trong vụ đồng phạm là nguy hiểm và có thể thấy trước hậu quả là T, H, K trốn thoát ra nước ngoài kết hợp với tổ chức phản động nước ngoài sẽ có những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Đối với A hậu quả chính quyền nhân dân có bị lật đổ hay không A không quan tâm, cải mà A quan tâm chỉ là mười lăm cây vàng mà T, H, K dùng để thuê A chở bọn chúng trốn thoát.

Như vậy trong vụ này A là người đồng phạm  đóng vai trò là người dúp sức.

 

2: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Theo quy định của điều luật mục đích của tội phạm là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thay đổi chế độ chính trị, chế độ kinh tế và xã hội đã được hiến pháp ghi nhận. Để đạt được mục đích đó người phạm tội đã tiến hành thành lâp, tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, xâm hại đến những quan hệ xã hội được luật hính sự bảo vệ là sự tồn tại sự vững mạnh của nhà nước của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy khách thể trực tiếp của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thể hiên đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này là sự tồn tại, sự vững mạnh của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

* Về mặt khách quan:

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thể hiện ở những hành vi sau:

Thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hoạt động thành lập do người tổ chức tiến hành, chính hoạt động thành lập của người tổ chức dẫn đến tổ chức phạm tội được hình thành tồn tại và phát triển nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hoạt động thành lập tổ chức có thể được thực hiện dưới các hình thức cụ thể sau:

– Khởi xướng và thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân đề ra chủ trương, phương hướng kế hoach hoạt động sau khi tổ chức phạm tội được thành lập.

– Tuy không khởi xướng việc thành lập tổ chức nhưng trực tiếp đứng ra thành lập tổ chức tuyên truyền lôi kéo người khác tham gia vào tổ chức phạm tội

– Bàn bạc thảo luận về việc thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, phân công nhau tiến hành những hoạt động cần thiết cho tổ chức phạm tội ra đời.

– Soạn thảo cương lĩnh, điều lệ hoặc vạch ra phương hướng, kế hoạch hoạt động của tổ chức phạm tội.

Một tổ chức được thành lập nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có thể đã soạn thảo được cương lĩnh điều lệ cũng có thể chỉ là thoả thuận miệm nội dung quan trọng chính là mục đích lật đổ chính quyền nhân dân của tổ chức phạm tội. Hành vi thành lập tổ chức thường xuất hiện khi tổ chức phạm tội chưa ra đời hoặc trong quá trình hình thành tổ chức. Trong một số trường hợp hành vi này xuất hiện khi tổ chức phạm tội đã được thành lập thâm chí đã tan rã cơ bả về cơ cấu tổ chức.

 

Tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân:

 

Đây là hành vi của những người gia  nhập tổ chức phạm tội khi nhận thức được tính chất, mục đích hoạt động của tổ chức đó là lật đổ chính quyền nhân dân. Một người bị quy kết là tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi người đó nhận thức được rằng tổ chức mà mình tham gia là tổ chức phạm tội có mục đích lật đổ chính quyền nhân dân mà vẫn tham gia với bất kì vai trò nào trong tổ chức đó. Biểu hiên cụ thể của hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân rất phong phú và đa dạng. Có thể là nhận lời tham gia  dưới hình thức thoả thuận miệng cũng có thể bằng văn bản như viết đơn cam đoan xin gia nhập tổ chức…một người bị coi là tham gia vào tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi nhận lời tham gia tổ chức đó mà không cần xét đến lễ kết nạp ăn thề  hay chưa, có tên trong danh sách tổ chức hay không hoặc đã tiến hành hoạt động tội pham cụ thể theo sự phân công chỉ đạo của tổ chức hay chưa. Như vậy sự tham gia ở đây là tự nguyện, nhận thức được tính chất phạm tội của tổ chức còn các trường hợp bị cưỡng bức, lừa bịp hoặc lạc hậu về nhận thức nên đã nhận lời tham gia tổ chức thì phải xem xét đánh giá điều kiện hoàn cảnh thực tế cụ thể của từng trường hợp để kết luận.

– Nếu hoàn toàn bị lừa bịp không nhận thức được tính chất và mục đích của tổ chức nhưng sau đó đã nhận thức được mục đích của tổ chức là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân nhưng vẫn không từ bỏ tổ chức đó thì phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhăm lật đổ chính quyền nhân dân. Tổ chức phạm tội có thể đã hoàn thành hoặc chưa hoàn thành người tham gia tổ chức có thể đã có hoạt động tội phạm cụ thể theo kế hoạch của tổ chức hoắc chưa có hoạt động cụ thể gì điều đó chỉ có gía trị trong việc đánh giá mức độ phạm tội, để quyết định hình phạt và hình thức xử lý tương xứng chứ không có gía trị trong việc cấu thành tội phạm. Khi có hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức thì tội phạm đã được xác định là hoàn thành.

 

  * Chủ thể của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiêm hình sự và đạt độ tuổi lật định.

 

* Mặt chủ quan của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được đặc trưng bởi hình thức lỗi cố ý trực tiếp và mục đích nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Người nào thành lập hoặc tham gia vào tổ chức phạm tội nhưng không nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân thì không phải chịu trách nhiêm hình sự về tội này. Khả năng và thực lực của tổ chức không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Thực tiến đấu tranh chống loại tội này cho thấy bọn tội phạm thường tập hợp lực lượng chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ thuận lợi sẽ tiến hành lật đổ chính quyền nhân dân. Song cũng không ít trường hợp chúng manh động liều lĩnh chỉ có vài tên đã dùng vũ lực, chống phá chính quyền nhân dân. Cần phải xuất phát từ nguyên tắc rất cơ bản là phải bảo vệ an toàn tuyệt đối sự vững mạnh của chính quyền nhân dân vì thế không phải chờ khi những người phạm tội có hoạt động cụ thể nhằm lật đổ chính quyền nhân dân mới quy kết là phạm tội.

 

Bài viết liên quan

59 bình luận
  • Ngọc nhi

    Mình câng bài tập tình huống và lời giải
    Mail truongnhisv1909@gmail.com
    Mấy bn ai có tài liệu cho min xin ạ cảm ơn nhiều ạ

  • thuận

    mấy bạn nào có tài liệu cho mình xin với ạ, giờ mình đang cần tài liệu này để ôn tập trước khi thi, mình cảm ơn ạ. mail: enyoula7@gmail.com

  • Tinh

    Minh rất cần những tài liệu này để ôn thi.mấy bạn có the gửi cho minh nhe.xin cám ơn. Tinhnguyen16186@gmail.com

  • mai

    bạn cho mik xin tài liệu với. Địa chỉ mail của t là thachmai8791@gmail.com
    Mik cảm ơn !

  • Trần đại phúc

    Các bạn gởi cho mình các bài tập tình huống luật hình sự 1, cám ơn nhiều

  • Phúc

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

  • Nguyễn Đức Thành

    Mình tên Thành
    Mình muốn xin các bạn bộ tài liệu này để học tập
    Danh mục tài liệu gồm có:
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    các bạn gửi giúp mình vào địa chỉ gmaill:toodtosucceed@gmail.com
    xin chân thành cảm ơn!

  • Lê Thu Hương

    Đây là tài liệu rất hữu ích phục vụ việc theo học bộ môn luật hình sự của tụi e, cảm ơn page rất nhiều

  • Minh minh

    Cảm ơn add, tài liệu thật bổ ích

  • Cám ơn ad đã chia sẻ tài liệu. Tài liệu rất hay và hữu ích
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp
    – Đề cương – các dạng bài tập bản Luật Hình sự
    Mình đang ôn thi và rất cần những tài liệu trên. Nếu không phiền thì nhờ ad gửi vào mail của mình:ngolieupham@gmail.com
    Chân thành cảm ơn!

  • Nguyễn Thị Huyền

    Cảm ơn Hocluat.vn đã chia sẻ những tài liệu này

  • Lê Hùng Anh

    Wow, bài tập tình huống hình sự có lời giải rất chi tiết, dễ hiểu

  • mình tên là Thoại.
    Mình muốn xin các bạn bộ tài liệu này để học tập
    Danh mục tài liệu gồm có:
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    các bạn gửi giúp mình vào địa chỉ gamil: buivanthoaicatm9x@gmail.com
    xin chân thành cảm ơn!

    • Luật sư Già

      @Thích Học Luật cậu còn tập này ko gửi cho bạn Thoại đi kìa

  • Phạm Thùy Dương

    có thể gửi cho e xin đáp án 40 câu hỏi có lời giải được không

  • VY

    Xin chào,
    Cháu của mình hỏi mình nội dung này, nình nhờ các bạn giải giúp mình với.
    Để có tiền “chơi” ma túy, C đã lấy trộm khẩu súng của X công tác tại chi cục kiểm lâm để đi cướp tài sản nhưng chưa kịp thực hiện thì C bị bắt. Hãy xác dịnh tính chất pháp lý của tình huống trên.

  • Thiên Di

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!
    địa chỉ gmail: Truongmuoi887@gmail.com

  • HunterJ

    Ad có thể gửi cho mình tài liệu đc k? Cảm ơn bn đã chia sẻ tài liệu này

  • Bích

    tài liệu rất hữu ích. bạn có thể gửi cho mình nốt phần còn lại của bộ tài liệu này đc không ạ ?? mình không thể đăng nhập

  • Tran Quynh Trang

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

  • Phạm Việt Hòa

    Cảm ơn mn nhé

  • Nguyễn Đức Thảo

    Cám ơn ad đã chia sẻ tài liệu. ad có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi được không ạ ( gmail : alwayloveyou75@gmail.com )
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

  • Thanh Vân

    Bộ cậu hỏi rất thực tế, hữu ích nhưng tui nghĩ mình phải mất vài ngày mới đọc hết chỗ này :3 Sắp thi rồi @@ phải làm sao đây

    • Law

      Tâm lý của nhiều sinh viên là nước đến chân mới nhảy. Thôi thì chúc bạn may mắn!

    • Thanh Vân

      Dạ cảm ơn anh, em chuẩn bị gà luộc với nhan cả rồi 😛

    • Van huan hoang

      Mình đang chuẩn bị thi . Rất cần tài liệu tham khảo . Nếu bạn còn có thì gửi cho mình với nhé :)) mình cảm ơn rất nhiều gmail minh là huan0975075311@gmail.com

  • Trang Trần

    Mọi người gửi bài tập cho tớ

  • Páo

    Mình xin lỗi, mình quên không kèm theo địa chỉ mail, mail mình là vanhreal@gmail.com

    • Law

      Chào Páo!
      Khi bạn nhập địa chỉ mail vào phần thông tin để cmt, tụi mình đã có mail của bạn rùi.
      Bạn check mail xem nhận được tài liệu chưa nhé, do website đang nâng cấp nên bị hạn chế chức năng download, tụi mình chỉ có thể gửi tài liệu cho các bạn một cách thủ công!

  • Páo

    Cám ơn bạn đã chia sẻ tài liệu. Bạn có thể gửi cho mình các tài liệu này để phục vụ việc học tập và ôn thi
    – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
    – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
    – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
    – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
    Mình chân thành cám ơn!

    • Trang Trần

      Bạn k để lại địa chỉ yahoo hoặc gmail sao các anh chị ấy gửi bài đc

  • Lê Hữu Đăng

    lehuudang996@gmail.com – làm phiền anh chị biên soạn bài tập ở Hocluat.vn gửi các bài tập tình huống vào mail này cho em. Em chưa biết cách tạo tài khoản trên trang nên không tải tài liệu về được, cảm ơn ac nha

    • Law

      Mình đã gửi tài liệu vào mail lehuudang996@gmail.com, bạn check mail xem nhận chưa chưa.
      Danh mục tài liệu gồm có:
      – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
      – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
      – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
      – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
      Hiện trang đang nâng cấp nên bạn chưa thể đăng ký tài khoản. Mong bạn sớm gia nhập cộng đồng hocluat.vn. Chào bạn!

    • Lê Hữu Đăng

      e nhận đc file rồi ạ, rất cảm ơn ac

    • nhi

      cám ơn ad đã chia sẻ tài liệu này, nó rất hữu ích ạ, ad có thể gửi cho e những tài liệu dưới đây dc k ạ. e cám ơn ạ!
      Danh mục tài liệu gồm có:
      – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
      – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
      – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
      – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)

  • Bạn ơi, cảm ơn bạn đã chia sẻ tài liệu nhưng mình đăng nhập nhưng chỉ download được file 40 bài tập tình huống hình sự, trong khi còn 1 file 60 bài tập nữa.
    Bạn gửi bài vào mail lechi97@gmail.com dùm mình vs nha, cảm ơn ạ!

    • Law

      Chào Chi!
      Mình đã gửi tài liệu vào mail lechi97@gmail.com, bạn check mail xem nhận chưa chưa.
      Danh mục tài liệu gồm có:
      – 20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)
      – 40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)
      – Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có lời giải – dàn ý)
      – Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)
      Do file bị thiếu nên bạn không download được, tụi mình đã up lên file mới.

    • Bạn cho mình xin tài liệu để tham khảo trước khi thi nhé. email của mình là : cuongngock48@gmail.com

  • Nguyễn Hải Yến

    Cả nhà ơi trả lời giúp mình bài tập tình huống này với
    K và D cùng là những người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng nhưng không chịu lao động và cùng là hang xóm của M. Khi đi qua nhà M, thấy chiếc xe máy để bên hè còn cả chìa khóa xe nên chúng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt (lúc này cả nhà M đi vắng). K đứng ngoài ngõ canh gác, còn D vào nhà M lấy xe. Khi D dắt chiếc xe máy ra đến giữa sân thì bất ngờ bà N (vợ ông M) về nhà, bà N hỏi D: “Sao chú lại lấy xe máy của nhà tôi?”. D nói: “Tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có tí việc”. Bà N tưởng thật nên đã để D dắt xe ra ngõ. Lúc này ông M đi chơi về gặp D đang chuẩn bị nổ máy đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “Bà N vừa cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N để hỏi xem có đúng là bà N cho D mượn không, thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Còn K trước đó đứng chờ ở phía đầu ngõ, sau khi ra hiệu cho D biết là có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy cùng với D. Ba ngày sau K và D bị bắt.

    Trị giá chiếc xe máy 25 triệu đồng. Kết quả giám định thương tích cùng đầu ông M tỷ lệ 32%, thương tích ở chân phải 5%. Tổng tỷ lệ thương tích là 37%.

    a/ Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích rõ cơ sở lý luận cho việc định tội?
    b/ Theo dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?
    c/ Xác định những tình tiết tăng nặng có trong bài tập.
    d/ Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là là bao nhiêu năm tù?

    • Law

      Vấn đề 1: Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích cơ sở pháp lý?

      Theo dữ liệu của đề bài đưa ra ta nhận định:

      – D phạm vào tội trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích.

      – K phạm vào tội trộm cắp tài sản.

      * Đối với tội trộm cắp tài sản:

      – Trước hết tội trộm cắp tài sản của D và K là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ và thuộc vào trường hợp có các tình tiết sau:

      + Giá trị tài sản chỉ ở khung 1 của tội trộm cắp, tức là tài sản trộm cắp có giá trị trên 500 nghìn đồng và dưới 50 triệu đồng. Theo bài thì tài sản mà D, K trộm cắp ở đây là chiếc xe máy của ông bà M, N có giá trị 25 triệu đồng. Thể hiện ở hành vi lén lút chiếm đoạt khi chiếc xe máy của ông M, khi ông M sơ ý để chiếc xe đó bên hè mà vẫn để chìa khóe trên xe. Như vậy về mặt đối tượng tác động của tội phạm trộm cắp đã thỏa mãn vì là tài sản có chủ.

      + Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích: D và K mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản và chưa được xóa án tích.

      + Hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của D, K là hành vi lén lút chiếm đoạt lợi dụng lúc gia đình ông M đi vắng mà chiếc xe còn cả khóa. Và khi có gia đình ông bà M, N về thì để chiếm đoạt cho được chiếc xe và che dấu tội phạm của mình thì D lại có hành động xảo quyệt để thực hiện đó là hành vi lừa dối chủ tài sản, thể hiện ở hành động nói dối đối với bà N “tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có việc” và khi ông M đi chơi về gặp D tiếp tục lừa dối “Bà N cho tôi mượn” với mục đích che dấu chủ chiếc xe.

      – Mặt khách quan: K và D phạm tội trộm cắp tài sản khi thực hiện hành vi phạm tội cũng biết chiếc xe chiếm đoạt có đặc điểm là đã có chủ.

      – Về mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý vì mục đích vụ lợi.

      * Đối với tội cố ý gây thương tích:

      D không chỉ thực hiện tội trộm cắp tài sản mà D còn có hành vi “dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng”. Như vậy hành vi của D ở đây có thể coi chính một trong những tình tiết định khung tặng nặng quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 138 là hành vi hành hung để tẩu thoát. Tuy nhiên, do tổng tỷ lệ thương tật của ông M lên đến 37%, do vậy trong trường hợp này hành vi của D sẽ bị xét xử về tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104. Vì dựa trên nguyên tắc chung của pháp luật đó là trong trường hợp phạm nhiều tội thì một hành vi chỉ có thể là tình tiết tăng nặng trong một tội phạm, khi tình tiết đó đã được sử dụng để xét xử cho một tội phạm khác rồi thì không được phép dụng chính tình tiết đó để làm căn cứ tham gia vào việc định một tội khác. Như vậy ở đây, D ngoài phạm tội trộm cắp còn phạm tội cố ý gây thương tích.

      Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của nguời khác dưới dạng thương tích hoặc gây tổn thương khác.

      Để kết luận về việc D phạm thêm tội cố ý gây thương tích này chúng ta phụ thuộc vào các dấu hiệu sau:

      – Về mặt khách quan:

      + Hành vi khách quan: đó là những hành vi có khả năng gây thương tích hoặc gây tổn thương khác làm tổn hại đến sức khỏe của con người . Ở đây D đã có hành động “Bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M “. Hành động đó đã thỏa mãn là hành vi xô đẩy và dùng chiếc xe máy để ngăn cản nhằm mục đích tẩu thoát. Tức là thông qua công cụ phương tiện để ngăn cản việc cản trở của ông M.

      + Hậu quả của tội phạm:

      D đã đẩy ông M vào cạnh tường rào và kết quả giám định thương tích vùng đầu ông M với tỷ lệ 32% đồng thời cùng với hành động chiếc xe máy đổ đè lên chân phải của ông M gây lên thương tích ở chân là 5 %. Tổng tỷ lệ thương tích là 37% . Như vậy với tỷ lệ thương tích là 37% hậu quả thương tích này do chính D gây ra. Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích đó là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

      – Về mặt chủ quan: Lỗi của D là lỗi cố ý ,ở đây D đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, D mong hoặc có thể là chấp nhận hậu quả thương tích đó xảy ra.

      – Về mặt chủ thể: D là người có năng lực trách nhiệm hình sự và chắc chắn là đủ độ tuổi luật định vì họ mới bị xử lý về tội cướp giât tài sản.

      Như vậy dựa vào những căn cứ pháp lý trên chúng ta có thể kết luận rằng : D phạm tội trộm cắp tài sản và tội cố ý gây thương tích; còn K phạm tội trộm cắp tài sản.

      Vấn đề 2: Theo các dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?

      Với những tình tiết cụ thể trong tình huống này có thể khẳng định K và D có đồng phạm với nhau.

      Theo khoản 1 điều 20 BLHS 1999, đồng phạm là trường hợp có 2 người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Đây là hình thức phạm tội đặc biệt, thể hiện quy mô và tính chất nguy hiểm hơn của tội phạm như tinh vi hơn, xảo quyệt hơn, táo bạo và liều lĩnh hơn so với trường hợp phạm tội riêng lẻ.

      Trong trường hợp này, D và K là đồng phạm vì họ đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của đồng phạm.

      1/. Những dấu hiệu về mặt khách quan.

      – Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất 2 người và 2 người này phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Đó là điều kiện có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

      + Số lượng người phạm tội là 2 người, K và D.

      + Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: K và D cùng là những người vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng. Tại thời điểm bắt đầu chấp hành bản án trước đây về tội cướp giật tài sản, K và D đã là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 16 tuổi trở lên) thì đương nhiên trong trường hợp phạm tội mới này cả 2 đều đạt độ tuổi luật định và là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

      – Thứ hai, họ phải cùng thực hiện tội phạm, có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với 1 trong 4 hành vi: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm và hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm. Khi tiến hành hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy nhà ông M, K đứng ngoài ngõ canh gác còn D vào nhà M lấy xe. Như vậy:

      + D là người thực hành, tức là người trực tiếp thực hiện tội phạm bằng hành vi cụ thể của mình: D vào nhà M lấy xe máy ra, bất ngờ gặp bà N là vợ ông M về thì D nói dối là đã hỏi mượn ông M rồi, đến khi gặp ông M thì D lại nói dối là đã hỏi bà N để mượn xe.

      + K là người giúp sức cho D thực hiện tội phạm. Bằng hành vi của mình K đã tạo ra điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc thực hiện tội trộm cắp tài sản của D. Việc K đứng ngoài ngõ canh gác sẽ giúp D yên tâm vào nhà M lấy chiếc xe mà không phải lo lắng gì, nếu có người đến hoặc bị phát hiện thì đã có K ở ngoài báo hiệu cho D biết.

      Tuy nhiên, D và K chỉ đồng phạm thực hiện tội trộm cắp tài sản. Trong vụ việc này, D đã có hành vi vượt quá và hành vi này đã cấu thành một tội độc lập khác: khi ông M gặp D đang chuẩn bị nổ máy đi đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “bà N cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N xem có đúng bà N cho D mượn không thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Theo giám định, tổng thương tích mà D gây ra cho ông M là 37%. Hành vi của D đã cấu thành tội cố ý gây thương tích. Đây là hành vi vượt ra ngoài ý định chung ban đầu của K và D bởi vì mục đích ban đầu của họ chỉ là chiếm đoạt được chiếc xe và K sau khi ra hiệu cho D biết có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy cùng với D. Việc D gây ra thương tích cho ông M, K hoàn toàn không biết vì lúc ấy K đã bỏ chạy đi rồi. K và D không cùng nhau thực hiện tội cố ý gây thương tích cho ông M mà chỉ riêng D thực hiện nên K không đồng phạm cùng D trong tội này.

      2/. Dấu hiệu về mặt chủ quan.

      Trong vụ đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác.

      – Về mặt lí trí: mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên hoàn toàn có thể nhận thức được rằng hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật. Hơn nữa, cả 2 vừa chấp hành xong bản án về tội cướp giật tài sản, đã được giáo dục cải tạo thì càng hiểu rõ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà cả 2 đang cùng nhau thực hiện. Vì K và D cùng nhau thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của M, tức là mỗi người đều biết người còn lại cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D cũng thấy trước được hậu quả từ hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện đó là làm ông M mất đi chiếc xe.

      – Về ý chí: K và D cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả phát sinh. Vì thế, đã có sự phân công rõ ràng giữa 2 người: K đứng ngoài ngõ canh gác còn D vào trong lấy xe ra. Việc phân công này nhằm mục đích là có thể lấy được cái xe dễ dàng, chót lọt.

      Đối với hành vi cố ý gây thương tích do D thực hiện, K hoàn toàn không biết có việc này xảy ra nên tất nhiên là K không mong muốn có hoạt động chung bởi vì K đã bỏ chạy trước khi D thực hiện hành vi ấy. Do đó, K và D không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích.

      Tóm lại, K và D đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản, không đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích. Tội cố ý gây thương tích do một mình D thực hiện nên D phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về tội này.

      Vấn đề 3: Xác định những tình tiết tăng nặng theo dữ kiện có trong bài tập.

      Theo như đã phân tích tại vấn đề 1 thì D sẽ bị xử lý hình sự về hai tội danh là tội trộm cắp tài sản (Điều 138) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104). Còn K sẽ bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản (Điều 138)

      Khoản 2 Điều 48 quy định: “Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Có nghĩa là nếu một tình tiết đã được dùng để định tội và định khung thì không được dùng đến tình tiết đó để làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho chính tội phạm đó nữa. Do vậy khi căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 BLHS quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, áp dụng cho tình huống bài ra. Ta nhận thấy trong tình huống bài có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sau:

      1/ Tái phạm (điểm g Khoản 1).

      2/ Có hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm ( điểm o Khoản 1).

      * Tái phạm:

      Khoản 1 điều 49 BLHS quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”.

      Theo như dữ kiện bài đưa ra thì K và D cùng là người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng thì lại phạm tội mới. Như vậy cả D và K đều chưa đủ điều kiện để được xóa án tích theo như quy định tại Điều 64 BLHS (Đương nhiên được xóa án tích). Dựa vào Điều 64, thì một người bị kết án được xóa án tích chỉ khi thỏa mãn hai điều kiện: qua một thời gian nhất định kể từ ngày chấp hành xong bản án và trong khoảng thời gian đó, người này không phạm tội mới. Đối với trường hợp của D, K thì để có thể được xóa án tích cho tội cướp giật tài sản mà trước đó họ đã chịu án thì phải mất 3 năm kể từ khi họ ra tù. Tuy nhiên, nhưng mới được 5 tháng sau khi ra tù, do không chịu lao động nên D, K lại phạm tội mới. Và tội phạm D, K cùng thực hiện đều xuất phát từ lỗi cố ý. Như vậy, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” sẽ được áp dụng cho cả D và K.

      * Hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm:

      Theo giải thích trong từ điển Việt – Việt thì “Xảo quyệt” có nghĩa là dối trá, lừa lọc một cách khó lường, khéo léo để lừa đảo.

      Sở dĩ, trong tình huống này ta áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “hành động xảo quyệt” (theo điểm o Khoản 1 Điều 48) chứ không áp dụng tình tiết “thủ đoạn xảo quyệt” (theo điểm m Khoản 1 Điều 48) bởi vì hai thuật ngữ “hành động” và “thủ đoạn” ở đây khác nhau về mức độ. Thủ đoạn thì có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành động. Thủ đoạn thì có tính liên tục suốt toàn bộ quá trình phạm tội, còn hành động chỉ có tính tạm thời và kết thúc ngay. Nhận thấy hành vi lừa dối của D chỉ có mục đích là lừa dối ông bà M, N để có thể che dấu cho hành vi trộm cắp của mình và hành vi lừa dối đó chỉ được thực hiện sau khi D gặp ông bà M, N. Mà liền trước đó hành vi chiếm đoạt tài sản của D là hành vi lén lút chiếm đoạt.

      Như vậy, theo như các tình tiết bài đưa ra, thì D đã có hành vi lừa dối ông bà M, N và đã làm cho bà N tin vào lời lừa dối của D. Hơn thế nữa, ta nhận thấy thái độ của D khá là bình tĩnh khi lừa dối ông bà M, N.

      Vấn đề 4: Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là bao nhiêu năm tù?

      Dựa trên cơ sở của các phân tích các yếu tố định tội và kết quả đã kết luận ở các phần trên thì ta nhận thấy D và K là đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản với khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 138, đồng thời thì D còn phạm thêm tội là cố ý gây thương tích với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

      Như vậy xét về từng tội riêng lẻ:

      * Trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138): Vì cả D và K đều có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cả hai đều có thể bị phạt với hình phạt cao nhất là ba năm tù.

      * Tội cố ý gây thương tích của D: Tội phạm sẽ bị xử theo Khoản 2 Điều 104. D có thể bị xử phạt với mức phạt cao nhất là bảy năm.

      Tổng hợp lại. ta thấy với hai tội danh đó thì D có thể bị lĩnh án cao nhất là: 3+7=10 năm tù. Còn hình phạt cao nhất đối với tội phạm mà K thực hiện là 3 năm tù.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1. Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập 1, tập 2 – Đại học Luật Hà Nội.

      2. Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Khoa luật –ĐHQG Hà Nội.

      3. Luật gia: Hoàng Hoa Sơn – Hỏi đáp về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người – Nxb LĐ-XH, 2006.

      4. Đinh Văn Quế – Tìm hiểu tội phạm trong BLHS năm 1999 – xuất bản năm 2001.

      5. Đinh Văn Quế – Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (phần các tội phạm) – Tập I.

      6. TSKH.PGS. Lê Khảm – Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự , 2005.

      7. 550 thuật ngữ chủ yếu trong pháp luật hình sự Việt Nam , Xuất bản năm 1997.

      8. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa – Tội phạm và cấu thành tội phạm, năm 2005.

      9. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.

  • Bình luận

    Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.