Phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Chuyên mụcTriết học mau-thuan

Nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong phép biện chứng duy vật.

Mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn

Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Đây là quan niệm biện chứng về mâu thuẫn, khác căn bản với quan niệm siêu hình về mâu thuẫn. Theo quan niệm siêu hình, mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập.

Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau. Thí dụ như: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa trong một cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế của xã hội, chân lý và sai lầm trong quá trình phát triển của nhận thức,.. Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật goi là mặt đối lập.

Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng lại đồng thời là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.

Các tính chất của mâu thuẫn gồm: tính khách quan, tính phổ biến, tính phong phú và đa dạng.

Mâu thuẫn có tính khách quan vì mâu thuẫn là cái vốn có trong sự vật, hiện tượng trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất biện chứng chứa đựng các mặt đối lập, tức là chứa đựng những mâu thuẫn tự thân của nó. Do đó, mâu thuẫn tồn tại khách quan trong sự vật, hiện tượng chứ không phải do con người gán cho sự vật, hiện tượng.  Mâu thuẫn có tính phổ biến vì nó tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình, trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Tính đa dạng của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ trong các sự vật, hiện tượng khác nhau, trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn khác nhau.

Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:

+ Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập trong sự vật.

+ Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác.

Cùng một mâu thuẫn nhưng xét trong mối quan hệ này là bên ngoài nhưng xét trong mối quan hệ khác lại là mâu thuẫn bên trong. Để xác định một mâu thuẫn nào đó là mâu thuẫn bên trong hay bên ngoài thì trươc hết phải xác định phạm vi sự vật được xem xét.

Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:

+ Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho phương diện nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.

+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật. Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất.

Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu:

+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đấu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó. Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vật phát triển sang giai đoạn phát triển mới.

+ Mâu thuẫn thứ yếu là nhưng mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối. Giải quyết mâu thuẫn là góp phần vào từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.

Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:   Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, là những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau.

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời. Việc giải quyết mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa trong việc xác định đúng phương pháp giải quyết mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn đối kháng phải bằng phương pháp đối kháng, giải quyết mâu thuẫn không đối kháng phải bằng phương pháp trong nội bộ nhân dân.

2. Quá trình hình thành và giải quyết của mâu thuẫn

Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tưạ vào nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau, không tách của các mặt đối lập, mặt này phải lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập.

Quá trình hình thành của mâu thuẫn: Từ hai mặt khác nhau phát triển theo khuynh hướng trái ngược nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất của sự vật, hiện tượng thì xuất hiện hai mặt đối lập nhau. Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, đồng thời chúng đấu tranh với nhau. Hình thức đấu trnh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng. Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng. Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối, còn sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời, trong sự thốngnhất đã có đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng. Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa chúng là một quá trình. Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản,nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng phát triểnvà đi đến đối lập. Khi hai mặt đốilập xung khắc găy gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và quá trình tác động chuyển hóa giữa hai mặt đối lậplại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển. Bởi vậy, sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới.

3. Ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong phép biện chứng duy vật.

Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực cuả sự vận động, phát triển và có tính khách quan phổ biến nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự việc bằng cách phân tích để tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng, nắm được bản chất, nguồn gốc sự vận động và phát triển.

Vì mâu thuẫn có tính đa dạng phong phú, vì vậy khi tìm hiểu và giải quyết mâu thuẫn cần phải biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp. Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng điều kiện hoàn cảnh nhất định, những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất.

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn, mâu thuẫn chỉ được giải quyết điều kiện đã chin muồi.Phải chống thái độ chủ quan, nóng vội, phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi. Phải giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, phù hợp để làm cho sự vật, hiện tượng phát triển không ngừng.

Hồng Đào

Phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Đánh giá

Bài viết liên quan

Bình luận

avatar