Những trường hợp không được đơn phương ly hôn là vấn đề rất quan trọng đối với người đang muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng chưa biết pháp luật có cho phép nộp đơn hay không. Về nguyên tắc, ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng; tuy nhiên, quyền này không phải lúc nào cũng được thực hiện không giới hạn. Trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng để bảo vệ phụ nữ mang thai, phụ nữ sau sinh, trẻ sơ sinh và sự ổn định tối thiểu của gia đình trong giai đoạn nhạy cảm. Bên cạnh đó, có những trường hợp không phải là “bị cấm nộp đơn” nhưng nếu không có căn cứ chứng minh hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án có thể không chấp nhận yêu cầu đơn phương ly hôn.
- 1. Không được đơn phương ly hôn khi chồng yêu cầu ly hôn mà vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi
- 2. Không được Tòa án chấp nhận đơn phương ly hôn nếu không có căn cứ chứng minh hôn nhân đã trầm trọng
- 3. Những nhầm lẫn thường gặp về trường hợp không được đơn phương ly hôn và cách xử lý đúng
- Kết luận
1. Không được đơn phương ly hôn khi chồng yêu cầu ly hôn mà vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Trường hợp rõ ràng nhất về không được đơn phương ly hôn là trường hợp người chồng yêu cầu ly hôn khi người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là quy định trực tiếp tại khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, theo đó: chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nói cách khác, nếu người nộp đơn là chồng và tại thời điểm nộp đơn hoặc giải quyết vụ án, người vợ thuộc một trong các tình trạng nêu trên thì yêu cầu ly hôn của người chồng sẽ bị hạn chế theo luật.
Quy định này xuất phát từ mục đích bảo vệ người phụ nữ và trẻ nhỏ trong giai đoạn đặc biệt nhạy cảm. Khi mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người vợ thường chịu nhiều áp lực về sức khỏe, tâm lý, kinh tế và chăm sóc con. Nếu cho phép người chồng đơn phương ly hôn trong giai đoạn này, người vợ và đứa trẻ có thể rơi vào tình trạng bị tổn thương nghiêm trọng hơn. Vì vậy, pháp luật đặt ra một “khoảng bảo vệ” nhất định, buộc người chồng phải tạm thời không được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Cần hiểu đúng rằng đây là hạn chế đối với quyền yêu cầu ly hôn của người chồng, chứ không phải cấm tuyệt đối mọi việc ly hôn trong giai đoạn người vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nếu chính người vợ là người muốn ly hôn vì bị bạo lực, bị bỏ mặc, bị xúc phạm, bị chồng ngoại tình hoặc hôn nhân không thể tiếp tục thì người vợ vẫn có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Quy định này cũng không cấm trường hợp cả hai vợ chồng cùng tự nguyện yêu cầu thuận tình ly hôn, miễn là Tòa án xem xét thấy việc tự nguyện đó là thật sự, đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Từ ngày 01/7/2024, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cụ thể hơn về khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, “đang có thai” được hiểu là khoảng thời gian người vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén. Như vậy, chỉ cần có căn cứ y tế xác định người vợ đang mang thai, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian này.
Đối với trường hợp “sinh con”, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn rằng đây không chỉ là trường hợp người vợ sinh con và đang trực tiếp nuôi con, mà còn bao gồm những tình huống đặc biệt như vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi; vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh; hoặc vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén. Trong những trường hợp này, chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hoặc ngày đình chỉ thai nghén theo hướng dẫn.
Một điểm rất đáng chú ý là chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai hoặc sinh con mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai. Điều này có nghĩa, kể cả trong trường hợp người chồng cho rằng thai nhi hoặc đứa trẻ không phải là con của mình thì trong giai đoạn người vợ đang có thai hoặc vừa sinh con, người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật. Đây là nội dung có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, bởi trước đây nhiều người cho rằng nếu vợ mang thai với người khác thì chồng có thể ly hôn ngay. Theo hướng dẫn mới, quyền yêu cầu ly hôn của người chồng vẫn bị hạn chế trong giai đoạn này để bảo vệ người phụ nữ và trẻ nhỏ.
Tương tự, trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng cũng không có quyền yêu cầu ly hôn, không phân biệt con đẻ hay con nuôi. Điều này có nghĩa nếu vợ đang trực tiếp nuôi con nuôi dưới 12 tháng tuổi, người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn như trường hợp vợ đang nuôi con đẻ dưới 12 tháng tuổi. Quy định này thể hiện quan điểm bảo vệ trẻ nhỏ dựa trên nhu cầu chăm sóc thực tế, không chỉ dựa vào quan hệ huyết thống.
Đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cũng có hướng dẫn riêng. Theo đó, chồng của người mang thai hộ không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đồng thời, chồng của người nhờ mang thai hộ cũng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc khi người mang thai hộ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là quy định nhằm bao quát các quan hệ gia đình đặc biệt phát sinh từ việc mang thai hộ hợp pháp.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng việc chồng không được quyền yêu cầu ly hôn trong các trường hợp trên không đồng nghĩa với việc người vợ “không thể ly hôn”. Nếu người vợ là nạn nhân của bạo lực gia đình, bị đe dọa tính mạng, sức khỏe, tinh thần, bị xúc phạm nghiêm trọng hoặc hôn nhân không thể tiếp tục, người vợ vẫn có thể chủ động yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Nói cách khác, pháp luật hạn chế người chồng trong giai đoạn đặc biệt nhưng vẫn bảo vệ quyền tự quyết của người vợ nếu chính người vợ muốn chấm dứt hôn nhân.
Tóm lại, nhóm trường hợp không được đơn phương ly hôn theo nghĩa rõ nhất là: chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai; chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ sinh con trong thời hạn pháp luật bảo vệ; chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; chồng của người mang thai hộ hoặc chồng của người nhờ mang thai hộ cũng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong các trường hợp nhất định theo Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Căn cứ pháp lý áp dụng là khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
2. Không được Tòa án chấp nhận đơn phương ly hôn nếu không có căn cứ chứng minh hôn nhân đã trầm trọng
Ngoài trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, còn có một nhóm tình huống rất hay bị nhầm là “không được đơn phương ly hôn”. Đó là trường hợp người yêu cầu vẫn có quyền nộp đơn, Tòa án vẫn có thể thụ lý nếu hồ sơ hợp lệ nhưng sau khi xem xét, Tòa án không chấp nhận cho ly hôn vì chưa đủ căn cứ theo pháp luật. Đây không phải là trường hợp bị cấm nộp đơn, mà là trường hợp yêu cầu ly hôn không được chấp nhận do không chứng minh được tình trạng hôn nhân đã đến mức phải chấm dứt.
Căn cứ pháp lý quan trọng là Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo điều luật này, khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, ly hôn đơn phương không chỉ dựa vào mong muốn chủ quan của một bên, mà phải dựa trên tình trạng thực tế của quan hệ hôn nhân.
Trong thực tế, có nhiều người nộp đơn ly hôn chỉ với lý do rất chung chung như “không hợp nhau”, “không còn tình cảm”, “hay cãi nhau”, “muốn sống riêng”, “gia đình hai bên không hòa hợp”. Những lý do này có thể là biểu hiện của mâu thuẫn vợ chồng nhưng nếu không được chứng minh bằng sự việc cụ thể, không thể hiện rằng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án có thể chưa chấp nhận cho ly hôn. Tòa án cần đánh giá toàn diện quá trình chung sống, mức độ mâu thuẫn, khả năng hàn gắn và quyền lợi của con chung nếu có.
Ví dụ, vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn trong thời gian ngắn, chưa từng ly thân, chưa có hành vi bạo lực, chưa có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng, vẫn còn khả năng hòa giải, con còn nhỏ và hai bên chưa thực sự rơi vào tình trạng không thể tiếp tục chung sống thì yêu cầu đơn phương ly hôn có thể chưa được chấp nhận. Tương tự, nếu người yêu cầu ly hôn không cung cấp được chứng cứ nào ngoài lời trình bày một chiều, trong khi bên còn lại mong muốn đoàn tụ và có căn cứ cho thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, Tòa án có thể cân nhắc không chấp nhận yêu cầu ly hôn tại thời điểm đó.
Ngược lại, nếu có chứng cứ về việc một bên thường xuyên bạo lực, đe dọa, xúc phạm danh dự nhân phẩm, ngoại tình, chung sống như vợ chồng với người khác, bỏ mặc gia đình, không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc con, phá tán tài sản, nghiện ma túy, cờ bạc, rượu chè kéo dài hoặc vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài không còn quan tâm đến nhau thì đây là những căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét chấp nhận ly hôn đơn phương. Vấn đề cốt lõi không phải là bên kia có đồng ý hay không, mà là tình trạng hôn nhân đã thực sự đổ vỡ hay chưa.
Điểm cần lưu ý là pháp luật không quy định cứ ly thân bao lâu thì đương nhiên được ly hôn. Ly thân chỉ là một dấu hiệu chứng minh đời sống chung không còn nhưng vẫn cần đặt trong tổng thể các yếu tố khác như nguyên nhân ly thân, thời gian ly thân, việc hai bên còn quan tâm chăm sóc nhau hay không, có còn cùng thực hiện nghĩa vụ với con cái và gia đình hay không, có khả năng đoàn tụ hay không. Nếu chỉ mới tạm thời sống riêng do mâu thuẫn nhỏ, chưa đủ để kết luận hôn nhân trầm trọng thì yêu cầu ly hôn có thể gặp khó khăn.
Cũng cần phân biệt giữa không đủ căn cứ ly hôn và thiếu hồ sơ, chứng cứ. Có trường hợp hôn nhân thực sự trầm trọng nhưng người yêu cầu không biết cách chứng minh. Ví dụ, người vợ bị bạo lực nhiều năm nhưng không có giấy khám thương, không trình báo công an, không có hình ảnh, tin nhắn, người làm chứng; người chồng ngoại tình nhưng người vợ chỉ nghe người khác kể lại, không có tài liệu nào chứng minh; vợ chồng ly thân nhưng không có xác nhận cư trú, không có chứng cứ về việc mỗi người sống riêng. Khi đó, Tòa án có thể khó chấp nhận yêu cầu ly hôn nếu hồ sơ không đủ căn cứ.
Vì vậy, người muốn đơn phương ly hôn cần chuẩn bị chứng cứ theo hướng cụ thể, hợp pháp và có khả năng chứng minh. Nếu có bạo lực gia đình nên có đơn trình báo, biên bản công an, giấy khám thương, hình ảnh thương tích, tin nhắn đe dọa, lời khai người làm chứng. Nếu có ngoại tình nên có tin nhắn, hình ảnh, video, sao kê chuyển tiền, tài liệu thể hiện việc chung sống như vợ chồng nếu có. Nếu có ly thân nên có giấy tờ về nơi ở riêng, xác nhận của địa phương, tin nhắn trao đổi, lời khai của người thân hoặc tài liệu chứng minh hai bên đã chấm dứt đời sống chung.
Trong một số trường hợp, người yêu cầu ly hôn cho rằng chỉ cần bên kia “không ký đơn” là có thể đơn phương ly hôn ngay. Cách hiểu này chưa đầy đủ. Việc bên kia không ký đơn chỉ cho thấy không có sự thuận tình ly hôn nên người yêu cầu phải đi theo thủ tục ly hôn đơn phương. Tuy nhiên, khi đã đi theo thủ tục đơn phương, người yêu cầu vẫn phải chứng minh căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nếu không chứng minh được, việc không có chữ ký của bên kia không tự động làm phát sinh quyền được ly hôn.
Ngoài ra, nếu vụ việc thuộc trường hợp người yêu cầu là cha, mẹ hoặc người thân thích khác theo khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án cũng không đương nhiên cho ly hôn. Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp này, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng hoặc vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia. Do đó, nếu người thân thích yêu cầu ly hôn thay nhưng không chứng minh được điều kiện đặc biệt này, yêu cầu có thể không được chấp nhận.
Tóm lại, không phải mọi trường hợp nộp đơn phương ly hôn đều được Tòa án chấp nhận. Nếu không chứng minh được hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; không chứng minh được bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng; không chứng minh được trường hợp mất tích hoặc trường hợp đặc biệt theo khoản 2 Điều 51 thì yêu cầu đơn phương ly hôn có thể bị bác hoặc chưa được chấp nhận. Căn cứ pháp lý áp dụng là Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Những nhầm lẫn thường gặp về trường hợp không được đơn phương ly hôn và cách xử lý đúng
Trong thực tế, rất nhiều người hiểu sai về những trường hợp không được đơn phương ly hôn. Nhầm lẫn phổ biến nhất là cho rằng “vợ hoặc chồng không ký đơn thì không ly hôn được”. Đây là cách hiểu không đúng. Nếu cả hai cùng ký đơn, cùng tự nguyện chấm dứt hôn nhân và thỏa thuận được về con chung, tài sản, nợ chung thì đó là thuận tình ly hôn. Còn nếu một bên không ký, không đồng ý, không hợp tác, người còn lại vẫn có thể nộp đơn ly hôn đơn phương, miễn là không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền yêu cầu và có căn cứ ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nhầm lẫn thứ hai là cho rằng chồng tuyệt đối không thể ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi trong mọi hoàn cảnh. Cần nói chính xác hơn: chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong các trường hợp này nhưng nếu người vợ là người yêu cầu ly hôn thì pháp luật không cấm. Ngoài ra, nếu hết thời gian vợ mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo quy định, người chồng có thể thực hiện quyền yêu cầu ly hôn nếu có căn cứ pháp luật. Do đó, đây là sự hạn chế có thời hạn và có chủ thể cụ thể, không phải là việc “không bao giờ được ly hôn”.
Nhầm lẫn thứ ba là cho rằng nếu vợ mang thai với người khác thì chồng được ly hôn ngay. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai. Vì vậy, dù người chồng có nghi ngờ hoặc có căn cứ cho rằng thai nhi không phải con mình, người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong giai đoạn pháp luật bảo vệ. Những vấn đề như xác định cha, mẹ, con; tranh chấp về con chung, cấp dưỡng, tài sản hoặc lỗi trong hôn nhân có thể được giải quyết theo thủ tục phù hợp nhưng không làm mất đi hạn chế tại khoản 3 Điều 51 trong giai đoạn này.
Nhầm lẫn thứ tư là cho rằng nếu người vợ không trực tiếp nuôi con sau sinh thì chồng được nộp đơn ly hôn ngay. Theo hướng dẫn mới, “sinh con” bao gồm cả trường hợp vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này có nghĩa, việc người mẹ không trực tiếp nuôi con sau sinh không làm cho người chồng được tự do yêu cầu ly hôn ngay trong thời gian pháp luật còn hạn chế. Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe, tinh thần của người phụ nữ sau sinh, kể cả trong những hoàn cảnh gia đình phức tạp.
Nhầm lẫn thứ năm là cho rằng chỉ cần nói “không còn tình cảm” là chắc chắn được ly hôn đơn phương. Thực tế, Tòa án cần căn cứ vào tình trạng hôn nhân cụ thể. Nếu người yêu cầu chỉ trình bày cảm xúc cá nhân mà không có sự kiện, chứng cứ, quá trình mâu thuẫn, tình trạng ly thân hoặc hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng thì yêu cầu ly hôn có thể không được chấp nhận. Vì vậy, cách xử lý đúng là phải trình bày rõ nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm phát sinh, mức độ trầm trọng, quá trình hòa giải, hiện trạng đời sống chung và chứng cứ kèm theo.
Nhầm lẫn thứ sáu là cho rằng nếu lần đầu Tòa án không chấp nhận ly hôn thì vĩnh viễn không được ly hôn nữa. Điều này cũng không chính xác. Nếu tại thời điểm xét xử, Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn chưa trầm trọng hoặc chứng cứ chưa đủ, người yêu cầu vẫn có thể tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách thu thập chứng cứ, chứng minh tình trạng hôn nhân sau đó và nộp lại yêu cầu khi có căn cứ mới. Hôn nhân là quan hệ động, nếu sau một thời gian mâu thuẫn tiếp tục kéo dài, đời sống chung thực sự không thể hàn gắn, Tòa án có thể xem xét khác trên cơ sở hồ sơ mới.
Để xử lý đúng khi rơi vào các trường hợp nhạy cảm, người muốn ly hôn cần xác định mình thuộc nhóm nào. Nếu là chồng và vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, cần hiểu rằng hiện tại mình bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn; nếu có tranh chấp nghiêm trọng nên ưu tiên bảo vệ an toàn cho bản thân, con cái, tài sản và chờ thời điểm pháp luật cho phép hoặc xử lý các vấn đề khác bằng thủ tục phù hợp. Nếu là vợ trong giai đoạn mang thai, sinh con, nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhưng bị bạo lực, bị bỏ mặc hoặc hôn nhân không thể tiếp tục, người vợ vẫn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn và cần chuẩn bị chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình.
Nếu không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền yêu cầu nhưng lo ngại Tòa án không chấp nhận đơn phương ly hôn, người yêu cầu cần tập trung vào chứng cứ. Cách trình bày nên rõ ràng, theo trình tự thời gian: kết hôn khi nào; mâu thuẫn bắt đầu từ đâu; đã xảy ra những sự việc gì; hai bên đã ly thân hay chưa; có bạo lực, ngoại tình, xúc phạm, bỏ mặc gia đình, phá tán tài sản hay không; đã hòa giải trong gia đình, địa phương hoặc tại Tòa án chưa; hiện tại có còn khả năng đoàn tụ không. Một đơn ly hôn được trình bày cụ thể, có chứng cứ kèm theo sẽ thuyết phục hơn rất nhiều so với đơn chỉ ghi vài dòng chung chung.
Người yêu cầu ly hôn cũng cần lưu ý rằng các vấn đề về con chung, tài sản chung, nợ chung không phải là điều kiện làm mất quyền ly hôn nhưng có thể làm vụ án phức tạp hơn. Nếu chưa thỏa thuận được quyền nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản, trả nợ chung, Tòa án vẫn có thể giải quyết trong vụ án ly hôn nếu có yêu cầu và đủ căn cứ. Tuy nhiên, nếu tranh chấp tài sản quá phức tạp, thiếu chứng cứ hoặc liên quan đến người thứ ba, thời gian giải quyết có thể kéo dài. Vì vậy nên chuẩn bị giấy khai sinh của con, chứng cứ về điều kiện nuôi con, giấy tờ nhà đất, đăng ký xe, sao kê ngân hàng, hợp đồng vay nợ, chứng từ góp vốn và các tài liệu liên quan ngay từ đầu.
Tóm lại, khi nói đến những trường hợp không được đơn phương ly hôn, cần phân biệt thật rõ giữa ba nhóm: nhóm thứ nhất là trường hợp người chồng bị pháp luật hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; nhóm thứ hai là trường hợp người yêu cầu có quyền nộp đơn nhưng không được Tòa án chấp nhận vì chưa đủ căn cứ theo Điều 56; nhóm thứ ba là các nhầm lẫn thực tế như bên kia không ký đơn, không đến Tòa, không đồng ý ly hôn, vốn không làm mất quyền yêu cầu ly hôn nếu người nộp đơn có căn cứ pháp luật.
Kết luận
Những trường hợp không được đơn phương ly hôn cần được hiểu chính xác theo hai lớp nghĩa. Về mặt quyền yêu cầu, căn cứ pháp lý quan trọng nhất là khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, theo đó chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; nội dung này được hướng dẫn chi tiết tại Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, đặc biệt là không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai và không phân biệt con dưới 12 tháng tuổi là con đẻ hay con nuôi. Về mặt căn cứ giải quyết, theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu người yêu cầu không chứng minh được hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được hoặc không có căn cứ về bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng thì Tòa án có thể không chấp nhận yêu cầu đơn phương ly hôn. Vì vậy, muốn ly hôn đúng luật và hạn chế rủi ro, người yêu cầu cần xác định mình có thuộc trường hợp bị hạn chế quyền yêu cầu hay không; đồng thời chuẩn bị chứng cứ rõ ràng về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản, nợ chung và các quyền lợi cần bảo vệ.


Để lại một phản hồi