Về mặt pháp lý, Bộ luật Dân sự 2015 không dùng thuật ngữ chính thức là “công thức chia thừa kế”. Tuy nhiên, từ các quy định về di sản, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, phân chia di sản theo di chúc, phân chia di sản theo pháp luật, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và thừa kế thế vị, có thể diễn đạt thành các công thức tính để người đọc dễ áp dụng trong thực tế. Khi trình bày, cần dùng đúng thuật ngữ pháp lý là di sản, phần di sản, suất của một người thừa kế theo pháp luật, hàng thừa kế, thừa kế thế vị, nghĩa vụ tài sản và phân chia di sản, không nên tự đặt thuật ngữ nếu không giải thích rõ.
- 1. Công thức xác định di sản dùng để chia thừa kế
- 2. Công thức chia thừa kế theo di chúc
- 3. Công thức tính phần di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
- 4. Công thức chia thừa kế theo pháp luật
- 5. Công thức chia thừa kế thế vị
- 6. Công thức khi di chúc chỉ định đoạt một phần di sản
- 7. Công thức khi di sản là hiện vật không thể chia đều
- Kết luận
1. Công thức xác định di sản dùng để chia thừa kế
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Vì vậy, công thức xác định di sản có thể viết như sau:
Di sản = Tài sản riêng của người chết + Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Công thức này bám sát đúng Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó “di sản” là thuật ngữ pháp lý; còn “tài sản riêng của người chết” và “phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” là hai bộ phận cấu thành di sản theo luật.
Ví dụ: Vợ chồng ông A có căn nhà là tài sản chung trị giá 4 tỷ đồng. Ông A còn có tài sản riêng là sổ tiết kiệm 600 triệu đồng. Nếu xác định phần của ông A trong căn nhà là 1/2 thì phần tài sản của ông A trong căn nhà là 2 tỷ đồng. Khi ông A chết, di sản của ông A là: 2 tỷ đồng + 600 triệu đồng = 2,6 tỷ đồng.
Tuy nhiên, không phải cứ xác định xong di sản là chia ngay. Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản; Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan đến thừa kế, gồm chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng còn thiếu, chi phí bảo quản di sản, tiền công lao động, tiền bồi thường thiệt hại, thuế, các khoản nợ và chi phí khác.
Do đó, khi tính phần được hưởng thực tế, có thể diễn đạt công thức như sau:
Giá trị di sản còn lại để phân chia = Giá trị di sản – Nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan đến thừa kế phải thanh toán theo Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015.
Ví dụ: Di sản của ông A là 2,6 tỷ đồng. Ông A còn khoản nợ hợp pháp 300 triệu đồng và chi phí mai táng hợp lý 100 triệu đồng. Giá trị di sản còn lại để phân chia là: 2,6 tỷ đồng – 400 triệu đồng = 2,2 tỷ đồng.
2. Công thức chia thừa kế theo di chúc
Theo Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015, việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật; nếu di chúc chỉ xác định phân chia theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

Từ quy định này, có ba công thức chính:
Trường hợp di chúc xác định tỷ lệ:
Phần di sản của từng người thừa kế theo di chúc = Giá trị khối di sản được định đoạt trong di chúc tại thời điểm phân chia di sản × Tỷ lệ được hưởng theo di chúc.
Ví dụ: Người chết để lại di chúc hợp pháp, xác định con A hưởng 50%, con B hưởng 30%, con C hưởng 20% trong khối di sản trị giá 3 tỷ đồng tại thời điểm phân chia. Khi đó: A hưởng 3 tỷ × 50% = 1,5 tỷ đồng; B hưởng 3 tỷ × 30% = 900 triệu đồng; C hưởng 3 tỷ × 20% = 600 triệu đồng.
Trường hợp di chúc xác định hiện vật:
Người thừa kế được nhận hiện vật được chỉ định trong di chúc, kèm hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản.
Ví dụ: Di chúc ghi rõ con A nhận thửa đất số 01; con B nhận căn nhà; con C nhận xe ô tô. Nếu các tài sản này còn tồn tại trong di sản tại thời điểm mở thừa kế và di chúc hợp pháp thì việc phân chia được thực hiện theo đúng hiện vật đã được chỉ định.
Trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người:
Phần di sản của mỗi người được chỉ định trong di chúc = Di sản được định đoạt trong di chúc ÷ Số người được chỉ định hưởng di sản.
Ví dụ: Di chúc ghi “để lại toàn bộ di sản cho ba người con A, B, C” nhưng không ghi rõ mỗi người hưởng bao nhiêu. Nếu không có thỏa thuận khác, mỗi người được hưởng 1/3 di sản theo khoản 1 Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015.
3. Công thức tính phần di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Đây là phần cần dùng thuật ngữ thật chính xác. Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 gọi nhóm này là “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”. Những người này gồm: con chưa thành niên; cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động. Họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, nếu không được người lập di chúc cho hưởng hoặc chỉ cho hưởng ít hơn mức đó, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản.
Công thức chính xác nên viết là:
Phần di sản bắt buộc của một người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc = 2/3 × Suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.
Trong đó:
Suất của một người thừa kế theo pháp luật = Di sản dùng để tính chia theo pháp luật ÷ Số người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế được hưởng.
Ví dụ: Ông A chết, để lại di sản sau khi đã thanh toán nghĩa vụ tài sản là 1,8 tỷ đồng. Nếu chia theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất của ông A có vợ và 03 người con, tổng cộng 4 người. Một suất thừa kế theo pháp luật là: 1,8 tỷ ÷ 4 = 450 triệu đồng.
Nếu trong đó có một người con chưa thành niên nhưng di chúc không cho người này hưởng di sản thì phần di sản bắt buộc của người con chưa thành niên là: 2/3 × 450 triệu = 300 triệu đồng.
Cần lưu ý: Đây không phải là “phần thừa kế theo pháp luật” thông thường, mà là phần di sản bắt buộc của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
4. Công thức chia thừa kế theo pháp luật
Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Điều 650 quy định các trường hợp áp dụng thừa kế theo pháp luật như không có di chúc; di chúc không hợp pháp; người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; người được chỉ định hưởng di sản không có quyền hưởng hoặc từ chối nhận di sản; phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực.
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Vì vậy, công thức chia thừa kế theo pháp luật là:
Phần di sản của mỗi người thừa kế cùng hàng = Di sản được chia theo pháp luật ÷ Số người thừa kế cùng hàng có quyền hưởng di sản.
Ví dụ: Ông B chết không để lại di chúc. Sau khi xác định di sản và thanh toán nghĩa vụ tài sản, còn 2 tỷ đồng để chia thừa kế. Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm vợ và 03 người con. Tổng cộng có 4 người cùng hàng thừa kế có quyền hưởng. Phần của mỗi người là: 2 tỷ ÷ 4 = 500 triệu đồng.
Cần dùng đúng thuật ngữ “hàng thừa kế”. Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; hàng thừa kế thứ hai và thứ ba chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng trước do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản.
5. Công thức chia thừa kế thế vị
Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thừa kế thế vị: nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm thì chắt được hưởng phần mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Công thức chính xác nên viết là:
Phần di sản của nhánh thừa kế thế vị = Phần di sản mà người được thế vị đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
Nếu trong nhánh thế vị có nhiều người cùng được hưởng thì:
Phần di sản của mỗi người thừa kế thế vị = Phần di sản của nhánh thừa kế thế vị ÷ Số người thừa kế thế vị trong nhánh đó.
Ví dụ: Cụ C chết không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật là 900 triệu đồng. Cụ C có 03 người con là A, B, D. A và B còn sống; D chết trước cụ C và có 02 người con là D1, D2. Nếu D còn sống, D sẽ được hưởng một suất bằng A và B tức là 900 triệu ÷ 3 = 300 triệu đồng. Do D chết trước cụ C, D1 và D2 hưởng thế vị phần của D. Mỗi người được hưởng: 300 triệu ÷ 2 = 150 triệu đồng.
Như vậy, trong thừa kế thế vị, cháu không chia trực tiếp ngang bằng với con của người chết, mà hưởng phần mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
6. Công thức khi di chúc chỉ định đoạt một phần di sản
Theo khoản 2 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc, phần di sản có liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật hoặc phần di sản liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc.
Công thức nên viết là:
Phần di sản chia theo pháp luật = Tổng di sản – Phần di sản được định đoạt hợp pháp và có hiệu lực trong di chúc.
Ví dụ: Bà D chết, để lại di sản 3 tỷ đồng. Di chúc hợp pháp chỉ định đoạt căn nhà trị giá 2 tỷ đồng cho con gái. Ngoài căn nhà, bà D còn 1 tỷ đồng tiền gửi nhưng không được nhắc đến trong di chúc. Khi đó, 2 tỷ đồng được chia theo di chúc; 1 tỷ đồng còn lại là phần di sản không được định đoạt trong di chúc và được chia theo pháp luật.
Nếu hàng thừa kế thứ nhất của bà D gồm chồng và 03 người con thì phần 1 tỷ đồng chia theo pháp luật cho 4 người. Mỗi người được hưởng: 1 tỷ ÷ 4 = 250 triệu đồng.
7. Công thức khi di sản là hiện vật không thể chia đều
Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận định giá hiện vật và thỏa thuận người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Công thức diễn đạt trong trường hợp một người nhận hiện vật là:
Số tiền người nhận hiện vật phải thanh toán cho người thừa kế khác = Giá trị hiện vật người đó nhận – Phần giá trị di sản mà người đó được hưởng.
Ví dụ: Di sản là một căn nhà trị giá 3 tỷ đồng, được chia theo pháp luật cho 3 người con, mỗi người được hưởng 1 tỷ đồng. Nếu một người con nhận toàn bộ căn nhà thì người này nhận hiện vật trị giá 3 tỷ đồng nhưng chỉ có quyền hưởng 1 tỷ đồng. Do đó, người nhận nhà phải thanh toán cho hai người còn lại mỗi người 1 tỷ đồng, nếu các bên thỏa thuận theo hướng một người nhận hiện vật và thanh toán chênh lệch.
Kết luận
Khi viết về công thức chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật nên trình bày rõ rằng đây là cách diễn đạt bằng phép tính từ các quy định của Bộ luật Dân sự 2015, không phải thuật ngữ chính thức được luật đặt tên là “công thức”. Các công thức cần bám đúng thuật ngữ pháp lý: di sản theo Điều 612; nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo Điều 615; thứ tự ưu tiên thanh toán theo Điều 658; phân chia di sản theo di chúc theo Điều 659; thừa kế theo pháp luật và hàng thừa kế theo Điều 649, Điều 650, Điều 651; thừa kế thế vị theo Điều 652; người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644; và phân chia di sản bằng hiện vật theo Điều 660. Cách viết chính xác nhất là không tự tạo thuật ngữ mới, mà chỉ dùng công thức để minh họa cách tính từ điều luật.


Để lại một phản hồi