Tìm hiểu về các biện pháp bảo đảm trong Bộ luật dân sự 2015

Chuyên mụcLuật dân sự, Thảo luận pháp luật bien-phap-bao-dam

Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung về phần các biện pháp bảo đảm (BPBĐ), đáp ứng cơ bản các yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Qua nghiên cứu BLDS 2015 và phần các quy định về BPBĐ được thể hiện ở phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng”, Chương XV “Quy định chung”, Mục 3 “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”, từ Điều 292 đến Điều 350 của BLDS 2015, cho thấy một số quan điểm cơ bản khi xây dựng các quy định về BPBĐ.

1. Các quan điểm cơ bản khi xây dựng BLDS 2015 cũng được cụ thể hóa rõ nét trong các quy định về các biện pháp bảo đảm

Nổi bật quan điểm: “Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn định trong giao dịch dân sự”[1]. BLDS 2015 là luật chung của hệ thống pháp luật dân sự. Vì vậy, các quy định về các BPBĐ trong BLDS 2015 cũng là những quy định chung của pháp luật về các BPBĐ. Pháp luật về các BPBĐ được hiểu là bao gồm tất cả các quy định về BPBĐ trong hệ thống pháp luật, có thể được quy định trong rất nhiều lĩnh vực như pháp luật về đất đai (thế chấp quyền sử dụng đất), trong pháp luật về nhà ở (thế chấp nhà ở), trong pháp luật về hàng không (thế chấp tàu bay), pháp luật về hàng hải (thế chấp tàu biển) v.v…, trong đó các quy định về BPBĐ trong BLDS 2015 là các quy định chung và trong mỗi lĩnh vực pháp luật chuyên ngành có thể có các quy định riêng khác với các quy định chung, nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015.

2. Tăng cường quyền tự do thỏa thuận của các bên tham gia biện pháp bảo đảm

Có thể khẳng định, BLDS 2015 đã thể hiện sâu sắc quyền tự do thỏa thuận của các bên trong việc xác lập, thực hiện, sửa đổi, bổ sung và chấm dứt BPBĐ, kể cả khi xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm. Các bên được thỏa thuận lựa chọn BPBĐ phù hợp, thỏa thuận về loại tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai dùng để bảo đảm, phạm vi bảo đảm lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm; thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm v.v..

Nhìn chung, các bên được thỏa thuận hầu hết các nội dung của BPBĐ. BLDS 2015 chỉ có một số ít các quy định hạn chế quyền tự do thỏa thuận của các bên nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên trong giao dịch và bảo đảm lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

3. Tiếp tục thực hiện quan điểm đa dạng hóa các biện pháp bảo đảm

Quan điểm này đã được thể hiện trong quá trình xây dựng BLDS 2005 và các Nghị định về giao dịch bảo đảm. Trong thời gian vừa qua, thực tế đã xảy ra nhiều vụ tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ, nhất là nghĩa vụ trả nợ, do đó nhu cầu về bảo đảm an toàn pháp lý tăng cao. Đáp ứng nhu cầu này, BLDS 2015 đã quy định 9 BPBĐ, trong đó kế thừa 7 BPBĐ của BLDS 2005, bổ sung 2 BPBĐ đó là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu. Trong BLDS 2005 cũng đã có các quy định về bảo lưu quyền sở hữu, nhưng không xếp vào mục về BPBĐ. Trong Bộ luật Hàng hải cũng đã có quy định về cầm giữ hàng hải và cũng được coi là một BPBĐ.

Hiện nay, có hai quan điểm về các BPBĐ. Quan điểm thứ nhất cho rằng: BLDS quy định 9 BPBĐ, cho nên, chỉ công nhận 9 BPBĐ theo quy định trong BLDS. Từ đó cho rằng, nếu các bên thỏa thuận về một BPBĐ khác với 9 BPBĐ này, thì không công nhận đó là BPBĐ. Quan điểm thứ hai cho rằng việc BLDS quy định 9 BPBĐ không có nghĩa chỉ cho phép các bên áp dụng một hoặc nhiều trong số 9 BPBĐ đó. Các bên có thể thỏa thuận xác lập BPBĐ khác ngoài 9 BPBĐ trong BLDS 2015, miễn sao không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Trong thực tế, có trường hợp các bên thỏa thuận đến hạn mà bên vay không trả được nợ, thì bên vay bán nhà cho bên cho vay và khẳng định việc bán nhà là để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ và khoản tiền mua bán nhà được bù trừ với khoản vay; nếu thiếu thì bên vay trả tiếp khoản thiếu đó và nếu thừa, thì bên cho vay phải thanh toán cho bên vay khoản tiền chênh lệch giữa khoản tiền vay và tiền bán nhà.

Theo quan điểm thứ hai, thì việc bán nhà trong hợp đồng vay tiền nêu trên được coi là một BPBĐ, mặc dù trong BLDS 2015 không quy định đây là một BPBĐ. Theo tôi, quan điểm thứ hai phù hợp với nguyên tắc chung của BLDS 2015 về việc các bên có quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Đồng thời, mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng (khoản 2 Điều 3 BLDS 2015). Đây vừa là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, vừa là quyền dân sự và quyền dân sự này được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (khoản 1 Điều 2 BLDS 2015).

Xuất phát từ đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tiền và có biện pháp bảo đảm khác với 9 BPBĐ trong BLDS 2015, thì Thẩm phán cần hiểu BPBĐ theo nghĩa rộng, đó là có thể là 1 trong 9 BPBĐ trong BLDS 2015 và cũng có thể là một cam kết, thỏa thuận khác với mục đích và ý nghĩa là bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ (theo khái niệm được quy định tại Điều 274 BLDS 2015).

Trong khi BLDS 2015 quy định 9 BPBĐ, thì luật mẫu của Uncitral và luật của Mỹ chỉ đưa ra một khái niệm chung là bảo đảm và nó được hiểu là một cam kết của bên có nghĩa vụ dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc người thứ ba đứng ra bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Cam kết này có hiệu lực đối kháng với người thứ ba khi được đăng ký. Cách thức quy định đơn giản như vậy tạo thuận lợi khi áp dụng do không cần phân biệt cầm cố hay thế chấp hoặc bảo lãnh v.v…

BLDS 2015 quy định 9 BPBĐ cũng có thuận lợi và khó khăn khi áp dụng, vì các bên phải xác định rõ lựa chọn BPBĐ nào để từ đó áp dụng pháp luật cho phù hợp đối với loại BPBĐ mà các bên đã lựa chọn.

4. Đa dạng hóa các loại tài sản bảo đảm

Theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 thì tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản, bất động sản, động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 108 BLDS 2015). Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Các Điều 105, 107, 108 BLDS 2015 được cụ thể hóa thông qua các quy định về xác định tài sản bảo đảm trong BLDS 2015. Theo quy định tại Điều 295 BLDS 2015 thì tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Quy định này nhằm tạo thuận lợi cho việc xử lý tài sản bảo đảm, tránh tranh chấp về quyền sở hữu, nhưng có vẻ như mâu thuẫn với quy định về việc có thể dùng tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vì khi ký kết hợp đồng cầm cố hoặc thế chấp thì tài sản chưa thuộc sở hữu của bên cầm cố hoặc bên thế chấp. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai (khoản 3 Điều 295 BLDS 2015). Quy định này được pháp điển hóa quy định tương tự trong Nghị định của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Thực tiễn áp dụng quy định trên đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của nó đó là: giúp cho các doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận các khoản vay của các tổ chức tín dụng, nhất là vay vốn để thực hiện các dự án, trong đó bên vay có thể dùng chính tài sản hình thành từ dự án để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Khi xác định tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, thì cần áp dụng Điều 108 BLDS 2015, theo đó tài sản bảo đảm hiện có là tài sản đã hình thành và bên bảo đảm đã có quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập BPBĐ. Tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai bao gồm tài sản chưa hình thành; tài sản đã hình thành nhưng bên bảo đảm có quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập BPBĐ. Quyền tài sản cũng được dùng để bảo đảm như quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, các quyền khai thác mỏ, khoáng sản, các quyền tài sản khác, miễn sao các quyền này trị giá được bằng tiền (ví dụ: quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt được quy định từ Điều 245 đến Điều 273 BLDS 2015).

Vấn đề giá trị của tài sản bảo đảm luôn là vấn đề quan trọng khi xác lập, chấm dứt BPBĐ (xử lý tài sản bảo đảm). Theo khoản 4 Điều 295 BLDS 2015 thì các bên có thể thỏa thuận tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm (khoản vay). Quy định này tạo ra sự linh hoạt và cho phép các bên thỏa thuận, nhất là vay vốn ngân hàng thương mại của Nhà nước, không lo sợ về việc cán bộ ngân hàng bị hình sự hóa trong trường hợp tài sản bảo đảm có giá trị nhỏ hơn khoản vay. Thông thường, giá trị thực của tài sản bảo đảm được xác định thông qua bán đấu giá tài sản đó, còn việc xác định giá trị của tài sản bảo đảm trước khi nhận tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ mang tính tương đối và để làm căn cứ xác định mức cho vay sao cho việc thu hồi khoản vay an toàn.

Một tài sản cũng có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (các khoản vay). Tuy nhiên, giá trị của TSBĐ cũng có thể bằng hoặc nhỏ hơn giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (các khoản vay) nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 296 BLDS 2015). Quy định này tạo điều kiện cho việc vay vốn hoặc đầu tư, nhưng cũng vẫn còn điểm bất cập, đó là phải xác định được giá trị của tài sản khi dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Như vậy sẽ loại trừ việc dùng một tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, vì chưa thể xác định giá trị của tài sản đó, do nó chưa được hình thành tại thời điểm xác lập BPBĐ. Để khắc phục hạn chế này thì chỉ cần quy định nguyên tắc một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ và không quy định giá trị của tài sản đó tại thời điểm xác lập BPBĐ.

5. Đổi mới tư duy về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và các loại nghĩa vụ được bảo đảm

Một thời gian dài tồn tại quan điểm và quy định về việc nghĩa vụ được bảo đảm (có thể là nghĩa vụ trả nợ) phải được bảo đảm toàn bộ. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi cần vốn đầu tư phát triển, nhất là các doanh nhân khởi nghiệp, đồng thời cũng hạn chế quyền tự do cam kết, thỏa thuận. Hơn nữa, việc xác định giá trị của tài sản bảo đảm có thể bị làm cho sai lệch nhằm vay vốn, như nâng cao giá trị của tài sản bảo đảm nhiều lần so với giá trị thực của nó.

Để khắc phục hạn chế nêu trên và tăng tường quyền tự do cam kết, thỏa thuận của các bên, đồng thời, nâng cao việc tự chịu trách nhiệm của các bên trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, kinh tế, BLDS 2015 quy định tại Điều 293: “1. Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ tùy theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại…” Xuất phát từ quy định này, thì giả sử, trong hợp đồng cầm cố hoặc thế chấp tài sản không có thỏa thuận về phạm vi bảo đảm, thì được xác định là bảo đảm toàn bộ khoản vay. Nhằm đa dạng hóa các loại nghĩa vụ được bảo đảm, BLDS cho phép nó có thể là nghĩa vụ hiện tại hoặc nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện (khoản 2, khoản 3 Điều 293, Điều 294 BLDS 2015).

Trên đây là một số quan điểm cơ bản được thể hiện trong các quy định về BPBĐ trong BLDS 2015, nhằm hoàn thiện pháp luật về BPBĐ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm nêu trên sẽ tiếp tục được cụ thể hóa trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS về các BPBĐ.

[1] Đề cương giới thiệu BLDS 2015 của Bộ Tư pháp, trang 6.

 


Các tìm kiếm liên quan đến các biện pháp bảo đảm trong luật dân sự 2015, so sánh các biện pháp bảo đảm, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là gì, ví dụ về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, ý nghĩa của biện pháp bảo đảm, bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung các biện pháp bảo đảm mới nào, 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng, khái niệm biện pháp bảo đảm, bảo lãnh trong luật dân sự 2015

Bài viết liên quan

Nơi nào mà luật pháp bị xem thường thì luật sư cũng không được coi trọng. Để luật pháp và luật sư cùng được coi trọng thì mỗi luật sư bằng chính hoạt động hàng ngày của mình cần vun đắp cho hệ thống luật pháp được trở nên công minh tiến bộ.

Bình luận

avatar
  Gửi mail cho tôi  
Thông báo