Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng tại BLHS 2015

Chuyên mụcLuật hình sự Không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng
Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo

Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng quy định tại Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với điều 102. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng BLHS 1999.

 

Các nội dung liên quan:

>>> Xem thêm: Các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe nhân phẩm danh dự của con người

 

Điều 132. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;

b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

3. Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

1. Khái niệm

Không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được hiểu là hành vi thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp người bị nạn.

2. Các yếu tố cấu thành tội không cứu giúp người đang trong ở tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau đây:

a) Về hành vi. Có hành vi (không hành động) không cứu giúp người bị nạn trong trường hợp nhìn thấy người đó đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (như bị rơi xuống sông, bị tai nạn giao thông nghiêm trọng…).

Nghĩa là mặc dù người phạm tội đã nhìn thấy có người bị tai nạn hoặc trong trường hợp đang bị nguy hiểm có thể dẫn đến bị chết nhưng đã không thực hiện ( không có hành động gì) việc cứu giúp nạn nhân.

– Tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là tình trạng của người mà mạng sống của họ đang bị đe dọa, cần phải có sự cứu giúp cấp giúp hoặc giúp đỡ của người khác ngay lập tức mà nếu không có sự cứu giúp kịp thời thì có thể dẫn đến hậu quả người đó bị chết.

Ví dụ: Người đang bị tai nạn bị thương nặng trong lao động do bị rơi từ trên cao xuống, cười không biết bơi bị té xuống ao, người bị rắn độc cắn…

b) Các dấu hiệu khác

Người phạm tội phải là người có điều kiện cứu giúp nạn nhân: nghĩa là họ có đủ khả năng về chuyên môn cũng như về vật chất hoặc những điều kiện cần thiết khác để thực hiện việc ngăn chặn hậu quả chết người xảy ra nhưng họ đã không hành động tức không cứu giúp người bị nạn như nêu trên. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Ví dụ: Vận động viên bơi lội hoàn toàn có khả năng cứu giúp người bị rơi xuống sông có nguy cơ bị chết đuối; bác sĩ hoàn toàn có khả năng sơ cứu nạn nhân bị thương do bị tai nạn giao thông mà mình đang gặp phải trên đường.

c) Về hậu quả

Hậu quả chết người là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm này. Hậu quả chết người là hệ quả tất yếu của hành vi không cứu giúp người bị nạn như nêu trên.

Lưu ý: Về hậu quả phải xảy ra hậu quả là người bị trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng bị chết thì hành vi của người không cứu giúp mới bị coi là tội phạm. Nếu Hậu quả người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng không chết do sau đó có người khác tới kịp thời hoặc họ chỉ bị thương nặng… thì hành vi của người không cứu giúp chưa cấu thành tội này.

2.2. Khách thể

Hành vi phạm tội lưu trên đã gián tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác và quy tắc đạo đức trong cuộc sống mà pháp luật đòi hỏi mọi người phải tuân theo.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và phải là người không đủ điều kiện để cứu giúp người bị nạn. Đây cũng có thể xem là dạng chủ thể đặc biệt.

3. Về hình phạt

Có mức phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

a) Khung một (khoản 1)

Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

b) Khung hai (khoản 2)

Có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bài viết liên quan

Tác giả: Thích Học Luật 476 Bài viết
Xin chào! Tôi là Thoáng - Nếu bạn đang cần người hỗ trợ pháp lý hãy liên hệ với tôi qua SĐT: 0968.929.015 hoặc Facebook

Bình luận

avatar