Lý luận chung về quyền nhân thân của cá nhân

Quyền nhân thân là một chế định ngày càng được khoa học pháp lý cũng như khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu. Bộ luật Dân sự năm 2015 trên cơ sở kế thừa một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, được ban hành đánh dấu một bước tiến mới trong việc bảo vệ các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng, thể hiện trình độ phát triển kinh tế – xã hội, kỹ thuật lập pháp tiến bộ. Đồng thời, đây cũng là sự cụ thể hóa những quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013. Với những sự ghi nhận đó, quyền nhân thân ngày càng khẳng định vai trò hết sức quan trọng, là những giá trị cốt lõi trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân.

 

1. Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân

Quyền nhân thân là một bộ phận của quyền con người, quyền dân sự và không tách rời khỏi quyền con người[1]. Theo quy định tại Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây gọi chung là BLDS 2005) và Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 (sau đây gọi chung là BLDS 2015), thì quyền nhân thân được hiểu là một loại quyền dân sự. Do vậy, tìm hiểu khái niệm quyền nhân thân trước hết phải xuất phát từ khái niệm quyền con người, quyền dân sự.

 

Có thể khẳng định, quyền con người là thành quả của sự nghiệp đấu tranh của cả nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên trái đất. Do vậy, quyền con người luôn được xác định là những giá trị cao quý, chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực đó kết tinh những giá trị nhân văn, nhờ đó con người được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ năng lực của mình. Cùng với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt trong đời sống xã hội hiện nay, vấn đề này càng được pháp luật ghi nhận và bảo đảm, có sự thay đổi căn bản, từ công thức Nhà nướcquyết định” trao quyền cho người dân sang công thức các quyền con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ và bảo đảm thực hiện, mà không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước[2]. Việc hiểu đúng bản chất và nội dung cơ bản của quyền con người sẽ giúp mỗi quốc gia – dân tộc không những không né tránh vấn đề quyền con người mà còn nâng cao trách nhiệm của mình trong việc cùng hợp sức xây dựng những điều kiện bảo đảm thực hiện các quyền này.

 

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng vấn đề quyền con ng­ười “về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội”[3].

Quyền con ng­ười trư­ớc hết là một thuộc tính tự nhiên, đ­ược thể hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền đư­ợc sáng tạo, phát triển, quyền đ­ược đối xử như­ con ng­ười, xứng đáng với con ngư­ời. Về mặt xã hội, con ng­ười mặc dù là “động vật cao cấp” nhất của tự nhiên, nh­ưng đã trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong Luận c­ương thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ng­ười là tổng hòa những quan hệ xã hội”[4]. Theo Mác: “Quyền con ngư­ời là những đặc quyền chỉ có ở con ng­ười mới có, với tư­ cách là con ng­ười, là thành viên xã hội loài người”[5]. Quyền con ngư­ời phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con ngư­ời, sự phát triển của lực l­ượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Con ng­ười càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con ng­ười ngày càng đ­ược mở rộng, ngày càng đ­ược bảo đảm bấy nhiêu.

 

Quyền con người là một phạm trù phức tạp, đa dạng, biểu hiện các đặc điểm, thuộc tính quan trọng và nhân cách của con người. Khoa học pháp lý nói chung cũng như trong nhiều công trình nghiên cứu tồn tại một số định nghĩa khác nhau về quyền con người, có thể do cách thể hiện từ ngữ hoặc căn cứ trên những đặc trưng khác nhau về quyền con người. Tuy nhiên, giá trị cốt lõi mà những định nghĩa đó đều thống nhất, quyền con người là quyền mà một con người đều có, đơn giản vì họ là con người; quyền con người là của mọi người và bình đẳng cho mọi người, là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Ví như, quyền con người được định nghĩa một cách khái quát “là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người”[6]; hoặc định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”.

 

Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 và các Công ước quốc tế về các quyền cơ bản của con người năm 1966[7] của Liên Hợp quốc ghi nhận ý tưởng về con người tự do trong việc hưởng quyền tự do khỏi sự sợ hãi, tự do làm điều mong muốn và được hưởng các quyền bình đẳng. Theo đó, quyền con người mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng, có nghĩa là chúng được áp dụng khắp nơi và không thể lấy đi.
Từ quá trình tìm hiểu luật pháp quốc tế và với những công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Bá Diến đã đưa ra định nghĩa về quyền con người như sau: “Quyền con ngư­ời là các khả năng của con ngư­ời được bảo đảm bằng pháp luật (luật quốc tế và luật quốc gia) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật”[8]. Tuy nhiên, định nghĩa này mới chỉ đề cập đến quyền con ng­ười với tư­ cách là phạm trù luật học mà chưa làm rõ được quyền con người cũng là quyền tự nhiên, xuất hiện một cách bẩm sinh bởi cá thể con người, không phụ thuộc bất cứ điều kiện truyền thống, văn hóa, dân tộc hay Nhà nước nào.

 

Như vậy, có thể hiểu quyền con ng­ười là một phạm trù tổng hợp, vừa là “chuẩn mực tuyệt đối” mang tính phổ biến, vừa là “sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển”. Quyền con ngư­ời “không thể tách rời”, đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội… Quyền con ng­ười là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối t­ương quan biện chứng, đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị – dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội… mà không thể chuyển giao.

 

Quyền dân sự được coi là một khái niệm được bao hàm trong nội dung của quyền con người, được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ. Quyền dân sự ở một khía cạnh nhất định chính là những lợi ích mà các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự mong muốn đạt được, đó có thể là những quyền lợi liên quan đến vật chất và/hoặc những lợi ích về tinh thần.

 

Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, quyền dân sự được hiểu là:

Khả năng được phép xử sự theo một cách nhất định của chủ thể trong quan hệ dân sự để thực hiện, bảo vệ lợi ích của mình.

Quyền dân sự hiểu theo nghĩa rộng là quyền của chủ thể được pháp luật dân sự quy định như là nội dung của năng lực pháp luật của chủ thể đó. Các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự khác nhau thì có các quyền dân sự khác nhau.

Quyền dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là quyền của chủ thể trong quan hệ dân sự nhất định mà chủ thể đó đang tham gia, quyền tự mình thực hiện những hành vi nhất định, quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, quyền yêu cầu cơ quan nhà nướcthẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị người khác xâm phạm[9].

 

Quyền dân sự có thể được phân thành nhiều loại quyền khác nhau căn cứ vào những tiêu chí nhất định, tuy nhiên, sự phân loại khá phổ biến hiện nay và được thừa nhận rộng rãi trong giới luật học, đó là quyền nhân thân và quyền tài sản. Hay nói cách khác, quyền nhân thân là một bộ phận của quyền dân sự.
Trong BLDS cũng như trong khoa học pháp lý, tồn tại nhiều quan điểm khi đề cập tới quyền nhân thân, như về chủ thể của quyền nhân thân (chỉ thuộc về cá nhân hay còn bao gồm cả quyền nhân thân của tổ chức), đối tượng, nội dung của quyền nhân thân và cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về quyền nhân thân.

 

Theo các tác giả của cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân. Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…”[10]. Theo cách giải thích này thì chủ thể của quyền nhân thân có thể là tổ chức (khi mà giá trị nhân thân của tổ chức được pháp luật ghi nhận).

 

Trong một bài nghiên cứu năm 2009 đăng trên Tạp chí Luật học, tác giả Bùi Đăng Hiếu cho rằng, pháp luật có quy định thừa nhận pháp nhân và các chủ thể khác cũng có quyền nhân thân, như: Điều 604, Điều 611 BLDS 2005 có đề cập đến “danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác”; hoặc tại Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (thay thế Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP) quy định: “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”… Từ đó, tác giả cho rằng khái niệm quyền nhân thân nên được mở rộng không những gắn với cá nhân mà cả với các chủ thể khác và đã xây dựng khái niệm quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”[11].
Các quan điểm trên đều thừa nhận quyền nhân thân có thể thuộc về cả cá nhân và pháp nhân. Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng quyền nhân thân chỉ có thể thuộc về cá nhân mà thôi.
Theo quy định của pháp luật, thuật ngữ “Quyền nhân thân” được đề cập đầu tiên với tư cách là thuật ngữ pháp lý trong BLDS 1995. Điều 26 BLDS 1995 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

 

Đây là một trong những điểm mới tiêu biểu của BLDS 1995, đánh dấu bước tiến lớn của pháp luật dân sự cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam, đặt nền móng cho sự nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển khái niệm “quyền nhân thân”. BLDS 2005 và BLDS 2015 tiếp tục kế thừa gần như trọn vẹn quy định này của BLDS 1995 khi định nghĩa về quyền nhân thân. Với quan điểm này, các nhà làm luật đã nhìn nhận quyền nhân thân với hai điểm chính là “quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân” và “không thể chuyển giao”.

 

Tại Hội thảo khoa học “Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân bằng pháp luật dân sự”, Giáo sư Ravanas đã phân tích khái niệm quyền nhân thân xuất phát từ khái niệm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do dân sự và quyền của cá nhân. Sau quá trình phân tích, Giáo sư đã đưa ra nhận định: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và nhằm bảo vệ nhân thân của mỗi người không phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình, địa vị, tuổi tác của họ”; và nêu cụ thể các đặc điểm của quyền nhân thân, bao gồm: (i) từ khi sinh ra tất cả mọi người đều có quyền nhân thân; (ii) quyền nhân thân không nằm trong tài sản của cá nhân; (iii) quyền nhân thân không thể bị định đoạt, có nghĩa là không thể chuyển nhượng; và (iv) quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác[12]. Quan điểm của Giáo sư Ravanas về quyền nhân thân cũng xuất phát từ quan niệm “là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân”.

 

Trong khoa học pháp lý, công trình nghiên cứu của Tòa án nhân dân tối cao[13] đã đề cập tới quyền nhân thân dưới hai giác độ: Dưới giác độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Dưới giác độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân để đảm bảo địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân được thực hiện các quyền con người về dân sự trong sự bảo hộ của Nhà nước và pháp luật. Theo đó, quyền nhân thân được nhìn nhận trên hai yếu tố cơ bản là chủ thể quyền (quyền con người) và khách thể (chế định pháp luật) đều gắn liền với mỗi cá nhân.

 

Trong cuốn Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu đã định nghĩa quyền nhân thân là “quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”[14]. Với định nghĩa này, quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân với những đặc tính không thể chuyển giao, tức là không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự, trừ một số trường hợp mà pháp luật có quy định khác.

 

Tác giả Lê Đình Nghị trong Luận án Tiến sĩ Luật học của mình có đưa ra khái niệm quyền nhân thân theo hai nghĩa:
Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình.
Theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác[15].

 

Để bảo vệ thêm cho quan điểm quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân, tác giả Nguyễn Thị Quế Anh cho rằng, “quyền nhân thân trong luật dân sự là quyền chủ thể của các cá nhân xuất hiện do việc điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự đối với các quan hệ liên quan đến các giá trị nhân thân của các chủ thể đó”[16].
BLDS 2015 cũng đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân và thừa nhận quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân, như sau: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có quy định khác” (khoản 1 Điều 25).
Xét về các đặc tính của quyền nhân thân, hầu hết các định nghĩa đã nêu trên đều thừa nhận các đặc tính cơ bản của quyền nhân thân gồm: (1) Đối tượng của quyền nhân thân là giá trị tinh thần (phi vật chất); (2) gắn liền với cá nhân và không thể chuyển giao; và (3) có tính cá biệt hóa cá nhân. Đây là những đặc trưng khác biệt với các quyền dân sự khác.

 

Từ những quan điểm nêu trên và qua quá trình nghiên cứu, tiếp thu và có những đánh giá nhất định, tác giả nhận thấy quyền nhân thân chỉ thuộc về cá nhân. Điều đó được lý giải bởi một số lập luận sau đây:

– Xuất phát từ chính cụm từ “nhân thân”. “Quyền” là những xử sự được phép của các chủ thể nói chung. Quyền của chủ thể có thể là quyền tự nhiên, vốn có, không do ai quy định, cho phép và cũng có thể trên cơ sở quy định của pháp luật, trên cơ sở ủy quyền từ phía chủ thể khác. “Nhân thân” là tổng hợp các đặc điểm về xuất thân, giới tính, tuổi tác, sức khỏe, tính cách, học vấn, quá trình giáo dục, nghề nghiệp, thành phần tôn giáo, hoàn cảnh gia đình, địa vị xã hội của cá nhân… Mỗi người đều có nhân thân riêng, ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người đó[17].

– Quyền nhân thân thuộc phạm trù của quyền con người, chỉ gắn với mỗi con người cụ thể. Ở mức độ cao nhất, quyền con người là những quyền tự nhiên vốn có khi con người sinh ra, thiêng liêng và bất khả xâm phạm, như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Mỗi con người đều có đời sống riêng, tâm tư, tình cảm, nhân cách, phẩm giá, uy tín riêng… làm nên những giá trị tinh thần cốt lõi của người đó. Các quyền nhân thân luôn thể hiện đời sống tinh thần của mỗi con người cụ thể. Pháp nhân, chủ thể khác không thể có tâm tư, tình cảm, phẩm giá… như một con người.

– Đối tượng của quyền nhân thân là giá trị tinh thần (phi vật chất), luôn gắn liền với cá nhân và không thể chuyển giao (trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định của luật). Còn các yếu tố như danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác là những giá trị vô hình của pháp nhân, chủ thể khác thông qua quá trình hoạt động, gắn liền với lợi ích mà pháp nhân, chủ thể khác hướng tới và mong muốn đạt được.

– Một số quyền nhân thân được bảo vệ vô thời hạn mà không phụ thuộc là cá nhân đó còn sống hay đã chết. Pháp nhân, chủ thể khác xét về tư cách chủ thể là do được thành lập trên cơ sở quyết định hành chính hoặc đăng ký thông qua trình tự, thủ tục hành chính, được phân biệt thông qua tên gọi, trụ sở, cơ cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động, tài sản… và có thể bị chấm dứt sự tồn tại trên cơ sở thủ tục hành chính hoặc thủ tục tư pháp do pháp luật quy định. Danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác được tích lũy do quá trình hoạt động của pháp nhân, chủ thể khác và sẽ mất đi khi pháp nhân, chủ thể khác đó chấm dứt sự tồn tại.

 

Tuy quyền nhân thân thuộc phạm trù quyền con người (là những quyền tự nhiên), nhưng gắn với những điều kiện lịch sử, chính trị – xã hội, cơ sở kinh tế của mỗi quốc gia mà mức độ ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật có những giới hạn nhất định. Ở Việt Nam, quyền nhân thân đã có những sự ghi nhận và bảo vệ khá toàn diện, đặc biệt là kể từ khi ban hành BLDS 2015. Trên cơ sở những sự nghiên cứu nêu trên, tác giả có thể đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân như sau:

Quyền nhân thân là các quyền dân sự của cá nhân được pháp luật thừa nhận, gắn liền với cá nhân đó và mang tính chất tinh thần, không trị giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật có quy định khác.

 

2. Đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân của cá nhân

Với tư cách là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, quyền nhân thân mang một số đặc trưng cơ bản sau:

– Bình đẳng về quyền nhân thân đối với mọi cá nhân

Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948, đó là mọi người luôn được hưởng các quyền bình đẳng. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16). Do đó, quy định của pháp luật về quyền nhân thân đối với “mọi người” là như nhau, được ghi nhận, thực thi và bảo vệ một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào vị trí địa lý, hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó.

– Quyền nhân thân là một loại quyền dân sự đặc biệt của cá nhân và mang tính chất tinh thần
Dưới góc độ pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên, quan trọng và phổ biến của quan hệ dân sự. Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là vì con người và luôn hướng tới con người, trong đó có quyền nhân thân. Trong khi nhiều quyền khác có thể thuộc về cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác thì có thể nói quyền nhân thân là một loại quyền dân sự đặc biệt chỉ thuộc về cá nhân và gắn với đời sống tinh thần của mỗi con người.

– Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Khác với quyền tài sản, quyền nhân thân có khách thể là những giá trị tinh thần gắn với đời sống con người với bản chất là các giá trị phi tài sản. Tính chất phi tài sản thể hiện, đó là không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự như mua bán, trao đổi, tặng cho… và cũng không gắn với yếu tố tiền bạc, với tính chất đền bù ngang giá. Do vậy, “quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi”[18]. Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không thể chuyển giao cho người khác (trừ trường hợp luật có quy định khác). Các quyền nhân thân gắn với tài sản chỉ được xác lập cùng với sự hình thành của một tài sản vô hình và để được thừa nhận các quyền nhân thân gắn với tài sản đó thì cá nhân đó phải chứng minh được sự tồn tại của loại tài sản vô hình do chính mình sáng tạo ra.

– Quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Dưới góc độ lý luận, mỗi cá nhân khi sinh ra đều có quyền nhân thân, không phân biệt giới tính, thành phần, địa vị xã hội, dân tộc… Đây là một trong những sự ghi nhận giá trị con người vì mỗi con người nói riêng. Do vậy, tùy thuộc điều kiện kinh tế – xã hội nhất định mà Nhà nước thể chế hóa và ghi nhận trong các văn bản pháp luật cho cá nhân có các quyền nhân thân cụ thể. Các quyền này gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho cá nhân khác (không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự). Tuy nhiên trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác. Luật Sở hữu trí tuệ quy định cho tác giả có các quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 19, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Trong số các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả, thì quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm được luật quy định tác giả có thể chuyển giao (có thể theo hình thức ủy quyền hoặc được thừa kế).

– Quyền nhân thân có thể được bảo hộ vô thời hạn, kể cả khi chủ thể của quyền nhân thân chết

Theo quy định của pháp luật, các quyền nhân thân có thể được phân loại thành hai nhóm: Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn và nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn. Các quyền nhân thân thuộc nhóm vô thời hạn được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn. Khi cá nhân chết thì những người có liên quan được quyền yêu cầu bảo vệ những nhóm quyền nhân thân đó khi có hành vi xâm phạm thông qua các phương thức theo quy định của pháp luật.

 

Ngoài ra, quyền nhân thân còn một số đặc điểm gắn với một số quyền riêng lẻ như: hành vi xâm phạm quyền nhân thân mang tính chất riêng biệt, hành vi đó có thể đồng thời xâm phạm chính chủ thể mang quyền (con người cụ thể), là những tổn thất trực tiếp như tính mạng, sức khỏe, bộ phận cơ thể người (hành vi xâm phạm quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác…); hoặc việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm quyền nhân thân đa số là mang tính chất định tính (việc bồi thường các tổn thất do hành vi xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổn thất do xâm phạm sức khỏe, tính mạng… chỉ mang tính “bù đắp” phần nào đó) . Những đặc điểm này có sự khác biệt rõ ràng với sự xâm phạm quyền tài sản. Khi có hành vi xâm phạm về quyền tài sản, đối tượng tác động chính là tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của chủ thể khác mà không tác động đến đối tượng mang quyền và việc bồi thường thiệt hại chủ yếu là dựa trên giá trị của tài sản bị thiệt hại hoặc thu nhập thực tế bị mất, giảm sút.

 

Như vậy, với tư cách là một bộ phận của quyền dân sự, quyền nhân thân của cá nhân cũng ngày càng được chú trọng, mở rộng và bảo đảm thực hiện có hiệu quả trên thực tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Những giá trị nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân như hình ảnh, thông tin thuộc về bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm, uy tín… được khai thác và sử dụng phải tuân thủ quy định của BLDS và pháp luật liên quan, thể hiện sự ghi nhận và tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ quyền nhân thân, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

ThS. Nguyễn Văn Huy / CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

 


 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Quế Anh, Quyền nhân thân trong pháp luật dân sự và sự ghi nhận quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí Luật học, Số đặc biệt: Góp ý hoàn thiện Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), (6/2015).
2. C.Mác – Ph.Ăngghen (1986), Toàn tập, tập III, Nxb Sự thật, Hà Nội.
3. C.Mác – Ph.Ăngghen (1998), Về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR).
5. Nguyễn Bá Diến (chủ biên, 2015), Mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế (Sách chuyên khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
6. Bùi Thị Đào, Đổi mới của Hiến pháp năm 2013 trong sự tương đồng với pháp luật quốc tế về quyền con người, Tạp chí Luật học, Số Đặc san Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (2013) – Bước tiến mới trong lịch sử lập hiến Việt Nam, (Đặc san 9/2014).
7. Bùi Đăng Hiếu, Khái niệm và phân loại quyền nhân thân, Tạp chí Luật học, (7/2007).
8. Lưu Thúy Hòa (2015), Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
9. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 3, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
10. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Kỷ yếu tọa đàm khoa học “Chế định quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi” (Hỗ trợ bởi Dự án ISEE), Hà Nội.
11. Nguyễn Văn Huy (2016), Bảo vệ quyền nhân thân trong lĩnh vực xuất bản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
12. Lê Đình Nghị (2008), Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội.
13. Nhà Pháp luật Việt – Pháp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân bằng pháp luật dân sự, Hà Nội, 24, 25, 26/11/1997.
14. Tòa án nhân dân tối cao, Vai trò của TAND trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Số đăng ký: 96-98-063/ĐT.
15. Trung tâm Nghiên cứu quyền con người – quyền công dân (2010), Hỏi đáp về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
16. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
17. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2014), Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 – Quan điểm mới, cách tiếp cận mới và các quy định mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa – Nxb Tư pháp, Hà Nội.

 


 

Các tìm kiếm liên quan đến Lý luận chung về quyền nhân thân của cá nhân: tiểu luận quyền nhân thân, ví dụ về quyền nhân thân, ý nghĩa của quyền nhân thân, quyền nhân thân gắn với tài sản là gì, quyền nhân thân trong bộ luật dân sự 2015, vi phạm quyền nhân thân, ý nghĩa pháp lý của các quyền nhân thân, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

Bài viết liên quan

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.