Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại

Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hợp đồng thương mại. Trong điều kiện kinh tế thị trường đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại thì tranh chấp thương mại xuất hiện như một hiện tượng kinh tế-xã hội tất yếu. Để giải quyết những tranh chấp này có bốn phương thức chủ yếu trong đó trọng tài là một phương thức thể hiện được nhiều ưu thế. Song thực tiễn áp dụng ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót.

 

I, Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại và trọng trài thương mại.

 

1.1, Giải quyết tranh chấp thương mại.

 

1.1.1, tranh chấp thương mại.

Theo luật thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, chủ yếu là hoạt động của thuonwg nhân được gọi là tranh chấp thương mại.

Hiểu một cách khái quát thì tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại. Trong điều kiện kinh tế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa  thương mại thì tranh chấp thương mại xuất hiện nhu một hiện tượng kinh tế- xã hội tất yếu.

 

1.1.2, Phương thức giải quyết tranh chấp.

Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản đó là: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án.

 

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại của bên thứ ba theo các nguyên tắc đã được pháp luật quy định như tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, giải quyết công khai…thể hiện được tính tự do trong thỏa thuận. Đồng thười quyết định của trọng tài cũng được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế khi được pháp luật bảo đảm thi hành.

 

1.2, Trọng tài thương mại.

 

1.2.1, Khái niệm trọng tài thương mại.

Theo từ điển tiếng Việt trọng tài là tài phán trung laapjhay người thứ ba được cử làm trung gian phân xử, giải quyết tranh chấp.

Trong khoa học pháp lý, khái niệm ttrong tài được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau, nhưng hai phương diện chủ  yếu được nhắc tới là xem trọng tài như một thiết chế giải quyết tranh chấp hoặc trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp.

 

Theo khoản 1 điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 thì “trong tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy đinh của luật này”

 

Tuy có nhiều nhận định khác nhau về trọng tài thương mại song nhìn chung có thể đánh giá ttrongj  tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp phi chính phủ, thông qua hoạt động của các trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, được các bên có tranh chấp tin tưởng lựa chọn.

 

1.2.2, Đặc điểm của trọng tài thương mại.

Với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài thương mại có những đặc điểm sau:

 

Một là, tranh chấp giải quyết bằng trọng tài thương mại luôn có sự tham gia của bên thứ ba là một hội động trọng tài hay một trọng ài viên duy nhất do các bên thỏa thuận lựa chọn đóng vai trò là trung gian giữa hai bên, phán xét một cách công tâm trong quá trình giải quyết tranh chấp.

 

Hai là, trọng tài thương mại là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua thủ tục tố tụng chặt chẽ. Trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại trọng tài viên và các bên đương sự pải tuyệt đối tôn trong và tuôn thủ theo đúng trình tự, thủ tục nêu tại Luật trọng tài thương mại 2010 và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài quy định.

 

Ba là, phán quyết cuối cùng của trọng tài đưa ra là sự kết hợp linh hoạt giữa yếu tố thỏa thuận và yếu tố tài phán.

 

1.2.3, Các hình thức trọng tài.

Hiện nay, trọng tài thương mại ở các nước nói chung tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là trọng tài vụ việc và trọng tài thương trực.

 

a) Trọng tài vụ việc.

Trọng tài vụ việc là phương  thức trọng tài hình thành trên sự thỏa thuận của các bên để giải quyết tranh chap. Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại trong thời gian giải quyết tranh chấp, sau khi tranh chấp được giải quyết trọng tài vụ việc sẽ chấm dứt.

 

Cơ cấu tổ chức của trọng tài vụ việc nhìn chung rất đơn giản và linh hoạt. trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trưc, không có bộ máy điều hành thường xuyên, liên tục và thậm chí không có danh sách trọng tài viên riêng.

 

Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình. Do vậy khi đưa ra vụ tranh chấp để giải quyết các bên có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ quy tắc tố tục phổ biến nào, mà thông thường là quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài uy tín ở trong nước và trên quốc tế.

 

b) Trọng tài thường trực.

Theo pháp luật việt nam trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ có tư cách pháp nhân có con dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định.

 

Các trung tâm có một số đặc trưng cơ bản sau đây:

 

Thứ nhất các trung tâm ntrongj tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước. các trung tâm này được thành lập theo sáng kiến của trọng tài viên khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, chức không được bởi nhà nước. hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí từ nhà nước.

 

Thứ hai các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân tồn tại độc lập với nhau. Trung tâm trọng tài là tổ chức thỏa mãn đầy đủ các điều kiện pháp nhân bao gồm: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham  gia các quan hệ một cách độc lập. mỗi trung tâm trọng tài là một pháp nhân tồn tại độc lập và bình đẳng với các trung tâm trọng tài khác.

 

Thứ ba tổ chức quản lí của các trung tâm trọng tài rất đơn giản gọn nhẹ. Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài biên của trung tâm. Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phỏ chủ tịch trung tâm và có thể có tổng thư kí trung tâm.

 

Thứ tư mỗi trung tâm trọng tài tự quyết đinh lĩnh vực hoạt động và quy tắc tố tụng riêng.

 

Thứ năm hoạt động xét sử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm.

 

1.2.4, Ưu điểm và hạn chế của hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

 

a) Ưu điểm:

Thứ nhất :giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đảm bảo được bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp của các bên tranh chấp. theo điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 giả quyết tranh chấp bằng trọng tài thưng mại được tiến hành công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Đây là một ưu thế so với nguyên tắc xét sử công khai của tòa án trong trường hợp giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại đầy nhậy cảm.

 

Thứ hai :giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được thực hiện theo trình tự tố tụng linh hoạt mềm dẻo Luật trọng tài thương mại 2010 quy đinh thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên, và đề cao sự thỏa thuận này. Các bên đương sự có thể thỏa thuận về: ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài (khoản 2 điều 10 Luật trọng tài thương mại 2010), địa điểm vụ tranh chấp (khoản 1 điều 11 Luật trọng tài thương mại 2010), đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài các bên có thể chọn luật áp dụng (khoản 2 điều 14 Luật trọng tài thương mại 2010).

 

Thứ ba : phán quyết của trọng tài thương mại có tính chung thẩm, tính chung thẩm của phán quyết trọng tài được thể hiện khi các bên đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài, vụ việc đó xẽ được xét xử ở một cấp duy nhất, phán quyết của trọng tài đư ra có hiệu lực như bản bản án của tòa án và có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp. khi bphans quyết đưa ra các bên không thể chống án hay kháng án.

 

Thứ tư : giaỉ quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại giúp duy trì được mối quan hệ đối tác của các bên. Trước khi đem vụ tranh chấp thương mại để giải quyết bằng trọng tài, các bên cùng ngồi bàn bạc, nêu ý chí nguyện vọng chủ quan của mình, từ đó xây dựng nhũng thỏa thuận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của đôi bên trong quâ trình tố tụng trọng tài chính sự trao đổi trên cơ sở tôn trọng mong muốn của nhaub nên các bên giữ được mối hòa khí.

 

Thứ năm : phán quyết trọng tài được sự công nhận quốc tế. Thông qua một loạt các công ước quốc tế, đặc biệt là công ước New-york năm 1958 về thi hành và công nhận quyết định trọng tài nước ngoài, các quyết định của trọng tài xẽ được công nhận và thi hành tai các quốc gia, vùng lãnh thổ và thành viên của các nước.

 

Tóm lại, luật trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại có những ưu điểm nhất định so với các phương thức khác nhu thương lượng hòa giải, tòa án. Nó vừa mang tính tự do, tự đinh đoạt, vừa có chức năng nduy trì các mối quan hệ hợp tác, hơn nữa nó vẫn đảm bảo tính bắt buộc cưỡng chế cho việc thi hành phán quyết trọng tài.

 

b) Han chế:

Thứ nhất : trọng tại chỉ xét xử một lần chung thẩm tạo nên hiệu lực cho phán quyết trọng tài, song đồng thời hạn chế cơ hội sửa chứa nếu có sai xót về nội dung hay không đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tranh chấp.

Thứ hai :phán quyết của trọng tài có thể bị tuyên hủy bởi quyết định của tòa án là một hạn chế. Vì nó hạn chế hiệu lực của phán quyết trọng tài cũng như giảm sự tin cậy vào cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Thứ ba trọng tài có tính chất phi chính phủ nên khi hiểu biết của một bộ phận dân trí về trọng tài chưa cao thì sự tin tưởng về khả năng, hiệu quả công việc, giá trị pháp lí của phán quyết trọng tài…cũng còn hạn chế.

 

II. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài theo pháp luật hiện hành

 

2.1 Các nguyên tắc giả quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy định cụ thể tại điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 cụ thể như sau:

 

a) Nguyên tắc về thỏa thuận

Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có thể phát sinh hoặc không phát sinh. Quyền lực của trọng tài hoàn toàn do các bên tự thỏa thuận, không có thỏa thuận thì sẽ không có trọng tài.

 

Tại khoản 1 điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định điều kiện “tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thể thỏa thuận trước hoặc sau khi tranh chấp”. ngay khi kí kết hợp đồng tức là khi  tranh chấp chưa sảy ra, quyền và nghĩa vụ của các bên chưa có bất kỳ mâu thuẫn gì, các bên đã có thể thỏa thuận dự liệu phương thức giải quyết tranh chấp cho tương lai  hoặc có thể lựa chọn phương thức trọng tài sau khi  tranh chấp đã được nảy sinh. Sau khi phát sinh tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp xẽ thuộc về trọng tài. Tòa án phải từ chối giải quyết nếu nhận được đơn khởi kiện. viêc ra hạn, thay đổi, hủy bỏ, vô hiệu của hợp đồng không làm mất giá trị pháp lí của thỏa thuận trọng tài. Hiệu lực của thỏa thuận được pháp luật ghi nhận tai điều 19 Luật trọng tài thương mại 2010.

 

Về hình thức thỏa thuận trọng tài: Luật trọng tài thương mại quy định cụ thể tai điều 16, thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, có thể tồn tại là một điều khoản trong hợp đồng hoặc điều khoản riêng trường hợp xác lập bằng hình thức khác thì hình thức này phải có giá trị tương đương như văn bản như là: Fax, telex.

 

Về thỏa thuận trọng tài vô hiệu: thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trường hợp các bên thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng thỏa thuân đó không được công nhân hiệu lực. các trường hợp thỏa thuận ttrongj tài vô hiệu được quy định tai điêu 18 Luật trọng tài thương mại 2010 bao gồm:

 

– Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tai quy định tại điều 2 luật này.

– Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định  của pháp luât.

– Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự

– Hình thức thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại điều 16 luật này

– Một trong các nbeen bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác n lập thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

– Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm pháp luật.

 

b) Trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phương thức đảm bảo cao nhất quyền tự đinh đoạt của các bên. Các bên có thể thỏa thuận với nhau và tự quyết định trung tâm trọng tài, địa điểm giải quyết tranh chấp và thủ tục tố tụng trọng tài. Thẩm quyền của trọng tài cũng do các bên trao cho nên khoản 1 diều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 quy đinh “ trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên…”.

 

c) Trọng tài biên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật

Trọng tài viên với tư cách là người thức ba được các bên tranh chấp tin tưởng trao quyền giải quyết vụ tranh chấp nên cần nhận thức đúng nghĩa vụ vị trí của mình để đưa ra phán quyết cuối cùng, vô tư, khách quan, đảm bảo quyền và lợi ích tối đa cho các bên đương sự. để đảm bảo yếu tố vô tư, khách quan trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp hoặc các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài viên nếu thấy “ trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên” hay “ trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp” ( khoản 1 điều 42 Luật trọng tài thương mại 2010)

 

d) Các bên tranh chấp đều biết được quyền và nghĩa vụ của mình.

Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình (khoản 3 điều 4 Luật trọng tài thương mại). Các bên tranh chấp có địa vị pháp lí ngang nhau giữa các công dân, pháp nhân và tổ chức họ đều có thể giải quyết bằng trọng tài đối với mọi tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại. trong quá trình giải quyết tranh chấp họ được đảm bảo quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau.

 

e) Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại phải được tiến hành công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Khi đưa vụ tranh chấp ra giải quyết, việc bảo đảm bí mật kinh doanh, uy tín danh dự, thương hiệu doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhà kinh doanh. Chính vì vậy pháp luật cho phép họ có thể tự thỏa thuận xét xử kín.

 

2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thương mại.

Theo Luật trọng tài thương mại 2010, một tranh chấp xẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài khi đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:

 

Một là : Nếu tranh chấp thỏa mãn một trong các trường hợp sau thì tranh chấp đó thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại.

 

TH1: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

TH2: tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên hoạt động thương mại.

TH3: tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài thương mại.

 

Như vậy là so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì phạm vi vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại đã dược mở rộng.

 

Hai là: các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có hiệu lực.

 

2.3) Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

 

a, Đơn kiện và thụ lí đơn kiện

Bước đầu của quá trình tố tụng trọng tài, nguyên đơn phải gửi đơn kiện đến trung tâm trọng tài (trong trường hợp giải quyết bằng trung tâm trọng tài) hay gửi đơn kiện cho bị đơn (trong trường hợp giải quyết bằng trọng tài vụ việc). Trong quá trình tố tụng các bên có thể bổ sung, sửa đổi đơn kiện.

 

Đơn kiện phải đáp ứng đầy đủ các thông tin quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 30 Luật trọng tài thương mại 2010. Một trong những nội dung quan trọng của đơn kiện là nguyên đơn chỉ ra cụ thể thông tin về người được nguyên đơn chọn làm trọng tài viên. Cùng theo đưn kiện các bên cần gửi theo bản thỏa thuận trọng tài, đây là tài liệu quan trọng để trung tâm trọng tài đánh giá tranh chấp có được thụ lí hay không. Thời hiệu khởi kiện theo tố tụng trọng tài là hai năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại.

 

b, Tự bảo vệ của bị đơn

Theo điều 35 Luật trọng tài thương mại 2010, trong thời hạn luật định bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ (đối với tranh chấp giải quyết tại trung tâm trọng tài). Đối với tranh chấp giải quyết tại trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do chính nguyên đơn gửi, bị đơn phải gửi đồng thời hai bản tự bảo vệ cho nguyên đơn và trọng tài viên, kềm theo các thông tin về người được chọn làm trọng tài viên.

 

c, Thành lập hội đồng trọng tài.

Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thường trực thì mỗi bên trong tranh chấp sẽ chọn một trọng tài viên và hai trọng tài viên đó sẽ cùng chọn ra một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Nếu hết hạn luật định mà bị đơn không chọn được trọng tài viên cho mình thì chủ tịch trung tâm trọng tài sẽ chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.

 

Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, ngay từ khi nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn họ đã chọn trọng tài viên cho mình và bị đơn trong bản tự bảo vệ cũng đã chọn ra một trọng tài viên. Và hai trọng tài đó sẽ bầu ra một trọng tài viên khác làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Điều khác ở đây là nếu bị đơn không chọn trọng tài viên thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu tòa án chỉ định trọng tài viên cho các bị đơn. Căn cứ xác định thẩm quyền của tòa án được quy định tại khoản 2 điều 7 Luật trọng tài thương mại 2010.

 

d, Chuẩn bị giải quyết vụ việc

Sau khi hội đồng trọng tài được thành laapj trành chấp thương mại sẽ chính thức được chuẩn bị giải quyết. Quá trình này gồm các công việc: nghiên cứu hồ sơ, xác định sự việc, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

 

e, Hòa giải

Hòa giải là một trong những biện pháp tốt nhất cho việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài. Trong tố tụng trọng tài hòa giải không phải là thủ tục tố tụng bắt buộc song hội đồng trọng tài phải tôn trọng việc tự hòa giải của các bên.

 

f, tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài

Thời gian tiến hành, địa diểm giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận. trong trường hợp các bên không thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài quyết định thời gian mở phiên họp giải quyết tranh chấp và phải gửi giấy triệu tập cho các bên đương sự tham gia phiên họp chậm nhất là 30 ngày trước nhày mở phiên họp.

 

Các bên có thể trực tiết tham dự phiên họp giải quyeets tranh chấp hoặc cử đại diện của mình, nếu bị đơn đã được gửi giấy triệu tập mà vắng mặt không có lí do thì phiên họp vẫn được tiến hành, các bên đương sự cũng có thể yêu cầu hội đồng trọng tài hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp nếu có lí do chính đáng.

 

Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp hội đồng trọng tài phải đưa ra phán quyết trọng tài. Quyết định trọng tài được biểu quyết theo nguyên tắc đa số, nếu vụ tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết thì trọng tài viên này quyết định. Quyết định của trọng tài phải đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của luật này.

 

2.4, Hủy, thi hành phán quyết của trọng tài.

a, hủy phán quyết của trọng tài: phán quyết của trọng tài là quyết định cuối cùng về nội dung đơn kiện sau khi hội đồng trọng tài đã nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ…về nguyên tắc phán quyết cuẩ trọng tài là quyết định trung thẩm và được các bên thi hành. Tuy nhiên phán quiets của trọng tài lại có thể bị tòa án tuyên hủy nếu thuộc một số trường hơp nhất định được quy định cụ thể tại điều 68 Luật trọng tài thương mại 2010 cụ thể là:

 

1, tòa án xem xét hủy quyết định của trọng tài khi có đơn yêu cầu của một hoăc hai bên.

2, phán quyết của trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

 

– không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu

– thành phần hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên và trái với quy định của luật này

– vụ tranh chấp không thuộc phạm vị thẩm quyền giải quyết của trọng tài

– chứng cứ do các bên cung cấp mà trọng tài dựa vào đó đẻ ra phán quyết là giả mạo…

– phán quyết của trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

 

b, Thi hành phán quyết trọng tài

Về nguyên tắc quyết định của trọng tài  là quyết ddingj trung thẩm, có hiệu lực từ ngày công bố, các bên buộc phải thi hành. Sau thời hạn 30 ngày kể từ từ ngày thi hành nếu một bên không tự nguyện thi hành cũng không có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn gửi cơ quant hi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi cóa tài sản của bên thi hành, thi hành quyết định của trọng tài.

III, Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam và nguyên nhân giải pháp khắc phục.

 

3.1, thực trạng giải quyết tranh chấp thưong mại bằng trọng tài ở Việt Nam.

 

a, số lượng các vụ tranh chấp thương mại được giải quyết tại các trung tâm trọng tài còn thấp.

Như chúng ta đã biết trọng tài được chính thức thành lập từ những năm 1960 với tên gọi là trọng tài king tế, qua những chặng đường phát triển hiện nay cả nước ta có 7 trung tâm trọng tài tập trung ở các thành phố lớn, trung tâm kinh tế chính trị-xã hội như: Hà Nội, Thành Phố Hồ  Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương.

 

Tuy số lượng của các trung tâm trọng tài không phải là quá ít nhưng số vụ tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài lầ rất ít, theo bản báo cáo của các trung tâm trọng tài các năm 2004,2005,2006 thì năm 2004 tổng số vụ tranh chấp thương mại giải quyết bằng trọng tài là 37 vụ, năm 2005 là 34 vụ, năm 2006 là 46 vụ.

 

Qua số liệu trên cho thấy các trung tâm trọng tài hoạt động chưa có hiệu quả, trọng tài tuy không  phải là một chế định mới mẻ nhưng các doanh nghiệp việt nam vẫn chưa có thói quen sử dụng dịch vụ trọng tài như một trong những cơ chế cơ bản đẻ giaiar quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động thương mại.Các lĩnh vực tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam còn rất hạn chế phần lớn là các vụ đòi nợ (tranh chấp liên quan tới việc thanh toán không đúng  hạn), hoặc các tranh chấp về chất lượng hàng hóa, điều kiện giao hàng.

 

b, số lượng phán quyết của trọng tài được thi hành ttreen thực tế còn rất ít.

 

3.2, Những ưu điểm và hạn chế của hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài ở Việt Nam.

Qua tìm hiểu về trọng tài thương mại, ta thấy hoạt động giải quyết ttranh chấp của trọng tài có một số ưu điểm như: các vụ việc ddwowcj giải quyết bởi ccacs chuyên gia có nhiều king nghiệm, số lượng các vụ tranh chấp dược giải quyết tuy ít nhưng triệt để, tất cả cấc vụ tranh chấp đều được giữ bí mật từ đầu tới cuối. Chưa có bất kỳ sự phản ánh nào về việc tin tức các vụ tranh chấp bị lộ ra ngoài.

 

Ngoài một số ưu điểm trên thì hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài cũng có một số hạn chế như tính chuyên nghiệp chưa cao, trên thực tế thì chưa phát huy được một số ưu điểm trong quá trình giải quyết tranh chấp.

 

3.3, Nguyên nhân và giải pháp.

Sở dĩ tính chuyên nghiệp của hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài chư cao là vì hoạt động này chưa được mội người biế đến một cách phổ biến, chưa lấy được lòng tin của thương nhân, dẫn đến sự lựa chọn sử dụng phương thức này thấp.

 

Số lượng các vụ tranh chấp giải quyết bằng trọng tài ít, các trọng tài viên ít có cơ hội tích lũy kinh nghiệm nên tính chuyên nghiệp chưa cao.

 

Một số giải pháp khắc phục tình trạng này là:

 

Thứ nhất: tăng cường năng lực của trung tâm trọng tài và đội ngũ trọng tài viên nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, chiếm được sự tin cậy của các thương nhân. Vì trọng tài viên là trung tâm, là hạt nhân quan trọng nhất của hoạt động này, tất cả những công tác hỗ trợ khác như sửa đổi pháp luật, phổ biến tuyên ttruyeenf về trọng tài sẽ không có hiệu quả nếu đội ngũ trọng tài viên còn thiếu về số lương, yếu về chất lượng, trình độ chuyên môn.Dội ngũ trọng tài viên yếu kém sẽ không thuyết phục được các doanh nghiệp rằng trọng tài là một phương thức giải quyết các tranh chấp đáng tin cậy. vì vậy vấn đề cốt lõi hiện nay là phải tăng cường năng lực của đội ngũ trọng tài viên, để làm được điều này các trung tâm trọng tài cần phải:

 

– Có chiến lược bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ trọng tài viên. Hiện nay lĩnh vực chuyên sâu của đội ngũ trọng tài viên không đồng đều, số lượng đọi ngũ trọng tài viên hoạt động trong lĩnh vực lao động, liên doanh, vận chuyển hàng hóa, xây dựng kỹ thuật còn rất ít do đó phải có chiến lược đòa tạo đội ngũ trọng tài viên trong các lĩnh vực này để đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

– Tăng cường cơ sở vật chất cần thiết cho các trung tâm trọng tài vì đó chính là “bộ mặt” của các trung tâm trọng tài. Các trung tâm trọng tài phải chú ý phát triển hoạt động của mình theo hướng chuyên nghiệp.

– Có chính sách thu hút các trọng tài viên giỏ, giàu kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp.

 

Thứ hai: để hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại được nhiều người biết đến thì các trung tâm trọng tài cần có chiến lược quảng cáo để số lương người biết đến hoạt động này ngày càng nhiều hơn, có nhiều cách như phổ biến, tuyên truyền bằng cách phát tờ rơi, tài liệu, tổ chức buổi tọa đàm hội thảo, nói chuyện chuyên đề. Có thể kết hợp việc tuyên truyền với các hoạt động khác như tư vấn trợ giúp pháp lí, diễn đàn doanh nghiệp, các khóa học bồi dưỡng pháp luât. Ngoài ra cần tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong việc tiếp cận dịch vụ trọng tài thông qua trang web của các  trung tâm trọng tài.

 

Thứ ba: hiện nay Luật trọng tài thương mại không đưa ra biện pháp đảm bảo cho việc thực hiện quy định trong tài viên phải giữ bí mật về vụ tranh chấp mà mình giải quyết pháp luật phải đưa ra các biện pháp bảo đảm rõ rang. Ví dụ: có thể quy định hình thức chế tài là cấm trọng tài viên hành nghề trong một thời gian nhất định nếu vi phạm quy định đảm bảo tính bí mật của vụ tranh chấp.

 

Thứ tư : Luật trọng tài thương mại 2010 có nghi nhận sự hỗ trợ của tòa án và cơ quant hi hành án đối với hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài, nhưng không có văn bản cụ thể hướng dẫn cụ thể vấn đề này. Đối với sự hỗ trợ cuả tòa án đã có một số quy định trong Luật trọng tài thương mại 2010 nhưng đối với sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án thì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể.

 

Trọng tài thương mại là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại. tại việt nam trọng tài thương mại không phải là một chế định mới, trong suốt hơn 40 năm tồn tại trọng tài thương mại việt nam dần trưởng thành theo sự chuyển đổi của đất nước.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1, Đào Trí Úc – những vấn đề cơ bản của Luật trọng tài thương mại – tạp chí nhà nước và pháp luật số 1/2010

2, Nguyễn Thị Hải – những điểm mới của Luật trọng tài thương mại 2010 so với pháp lệnh TTTM 2003 – khóa luận tốt nghiệp – Hà Nội 2011

3, Đào Thị Thúy Hằng – thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở việt nam theo quy định của pháp luật hiện hành – khóa luận tốt nghiệp 2010

4, Nguyễn Thị Thu Hoài – hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại và tòa án ở việt nam hiện nay – từ góc độ so sánh – luận văn thác sĩ luật học – Hà Nội 2011

5, Nông Quốc Bình ( chủ biên 2007 ) giáo trình luật thương mại quốc tế – Trường ĐHL Hà Nội, NXB tư pháp

6, Giáo trình luật thương mại 2 – Trường ĐHL Hà Nội, NXB công an nhân dân

7, Luật trọng tài thương mại 2010

8, Pháp lệnh TTTM 2003

Bài viết liên quan

Nơi nào mà luật pháp bị xem thường thì luật sư cũng không được coi trọng. Để luật pháp và luật sư cùng được coi trọng thì mỗi luật sư bằng chính hoạt động hàng ngày của mình cần vun đắp cho hệ thống luật pháp được trở nên công minh tiến bộ.

Bình luận

avatar
  Gửi mail cho tôi  
Thông báo