Cơ quan Quân sự cấp đất cho nhân viên, có đúng thẩm quyền?

Chuyên mụcLuật đất đai, Thảo luận pháp luật Giao đất
Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo

Thực tiễn sử dụng đất của nước ta qua nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ pháp luật về đất đai có những quy định khác nhau. Chúng tôi xin nêu một trường hợp, nhân viên được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh ra quyết định cấp đất từ năm 1986, đến nay làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặt ra vấn đề trường hợp này có được coi là cấp đất hợp pháp, đúng thẩm quyền hay không?

Được cơ quan cấp đất từ năm 1986

Năm 1986, gia đình ông A được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C ra quyết định cấp đất ở và đất sản xuất. Nay ông A làm thủ tục kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có phải thực hiện nghĩa vụ tài chính như đất ở được hợp pháp hóa hay không?

Ông Nguyễn Văn A với bà Nguyễn Thị B nguyên là cán bộ công nhân viên công tác tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C. Ngày 25/4/1986, ông A và bà B được Bộ Chỉ huy quân sự cấp cho 500m2 đất để ở. Sau đó, ông A và bà B có đơn gửi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh xin được khai hoang thêm khoảng 500m2 đất để tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống và đã được Bộ Chỉ huy quân sự đồng ý. Tổng diện tích đất ông A, bà B được Bộ Chỉ huy quân sự cấp là 1012m2 và đã sử dụng ổn định từ đó đến nay.

Năm 2015, gia đình ông A và bà B làm thủ tục kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND phường đối với diện tích đất nói trên. Quá trình làm thủ tục, UBND phường D và UBND thành phố E cho rằng diện tích đất mà gia đình ông A, bà B đang sử dụng đã có quy hoạch mở một con đường rộng 3m chạy ngang qua, nên phải tách thành hai thửa, là  thửa đất số 106 và thửa đất số 265. Nhưng sau đó, UBND phường D và UBND thành phố E cho rằng cả hai thửa đất này là đất lấn chiếm nên không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau nhiều lần khiếu nại lên các cấp, ngày 13/1/2016, gia đình ông A nhận được thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố E đối với thửa đất số 106, có diện tích 670,9m2, số tiền phải nộp là 50. 400 000 đồng. Thông báo nộp tiền sử dụng đất xác định nguồn gốc “Đất hợp thức hóa” nên gia đình ông A phải nộp 40%. Đến ngày 25/5/2016, gia đình ông A lại nhận được thêm thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với thửa 265, tờ bản đồ số 29, diện tích 373,5m2, số tiền phải nộp là 376. 488 000 đồng, xác định nguồn gốc “Đất hợp thức hóa” phải nộp 100% tiền sử dụng đất.

Ông A cho rằng việc UBND phường D và UBND thành phố E cho rằng đất của gia đình ông là “đất hợp thức hóa” là không có cơ sở, vì đất được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C ra quyết định cấp từ năm 1986, và sử dụng từ đó đến nay không có ai tranh chấp. Do vậy, ông A và bà B yêu cầu Tòa án hủy hai thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố E.

Hướng giải quyết vụ án

 Có hai quan điểm về giải quyết vụ án:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng ông A và bà B được cấp đất hợp pháp nên yêu cầu hủy hai thông báo nộp tiền sử dụng đất là có căn cứ. Căn cứ Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (Điều 100 Luật Đất đai năm 2013); Điều 2, Điều 11, Điều 12, khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 130, Điều 146 và Điều 149 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 7 Điều 18, điểm a khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất… nên chấp nhận yêu cầu của ông A và bà B.

– Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo khoản 1, 2, 3 Mục I Nghị định 201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước thì việc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C giao và cho phép hộ gia đình ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B sử dụng diện tích 1 012m2, trong đó có 500m2 đất được Bộ Chỉ huy quân sự cấp, phần còn lại là vợ chồng ông A, bà B xin khai hoang thêm để sản xuất cải thiện đời sống là không đúng về thẩm quyền giao đất.

Diện tích đất ông A, bà B sử dụng thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013.

Như vậy, ông A và bà B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 là đúng pháp luật.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Rất mong nhận được ý kiến tham gia của các đồng nghiệp và bạn đọc.

TRƯƠNG THỊ TỐ UYÊN (Thẩm phán TAND Tp Hải Dương, Hải Dương)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Bài viết liên quan

Bình luận

avatar