Tìm hiểu về về nguồn chứng cứ lời khai của người làm chứng

Chứng cứ một chế định trung tâm của Điểm neo pháp luật tố tụng hình sự. Chứng cứ không chỉ đóng vai trò xác định sự thật khách quan của vụ án mà còn phản ánh bản thân quá trình xác định sự thật khách quan đó. Trong hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan tố tụng chỉ có thể xác định các tình tiết của vụ án bằng chứng cứ để từ đó có phương án giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đồng thời loại trừ, phủ định các sự kiện, hiện tượng đã không xảy ra hoặc không liên quan đến vụ án.

 

Việc nghiên cứu chứng cứ nói chung và nguồn chứng cứ nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ về mặt khoa học pháp lý mà cả trong thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta quy định chứng cứ và nguồn chứng cứ chung trong một điều luật dẫn đến trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn sự nhầm lẫn giữa chứng cứ với nguồn chứng cứ. Chỉ đến khi xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nhà làm luật mới quy định chứng cứ và nguồn chứng cứ thành hai điều luật khác nhau, giúp cho việc phân biệt khái niệm chứng cứ và nguồn chứng cứ được rõ ràng hơn.

 

Khái niệm nguồn chứng cứ trong khoa học pháp luật tố tụng hình sự vẫn còn nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo Tiến sỹ Trần Quang Tiệp thì “nguồn chứng cứ là nơi mà từ đó cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng có thể tìm ra chứng cứ trong vụ án hình sự”[1]. Còn theo tác giả Trịnh Tiến Việt thì “nguồn chứng cứ được hiểu là nơi cung cấp những tài liệu quan trọng để rút ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án”[2]. Tác giả Nguyễn Nhật Lệ cho rằng “nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự được hiểu là nơi chứa đựng thông tin tồn tại một cách khách quan, có liên quan đến vụ án hình sự, được các chủ thểthẩm quyền thu thập theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định, có ý nghĩa trong việc xác định tính hợp pháp của chứng cứ đối với mỗi vụ án cụ thể, nhằm giúp giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”[3]. Theo từ điển Luật học thì nguồn chứng cứ được hiểu là “nơi thu, nhận được chứng cứ”[4].

 

Như vậy, có thể thấy dù mỗi quan điểm có cách diễn giải định nghĩa nguồn chứng cứ khác nhau nhưng tất cả đều khẳng định nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng thông tin và trongnhững thông tin được rút ra từ nguồn chứng cứ có thể có chứng cứ được dùng để chứng minh sự thật khách quan của vụ án.
BLTTHS năm 2003 chưa có điều luật riêng quy định nguồn chứng cứ mà nguồn chứng cứ được quy định chung trong điều luật về chứng cứ (Điều 64) dẫn đến trong khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa chứng cứ với nguồn chứng cứ. BLTTHS năm 2015 đã quy định nguồn chứng cứ trong một điều luật riêng, giúp phân biệt rõ ràng hơn nguồn chứng cứ với chứng cứ của vụ án hình sự. Khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015 quy định nguồn chứng cứ gồm:

 

Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a)Vật chứng
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.

 

So với các văn bản pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trước đây về chế định chứng cứ thì nguồn chứng cứ được quy định trong BLTTHS năm 2015 đa dạng hơn. Trong đó nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày nói chung và lời khai của người làm chứng nói riêng vẫn là“một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất”[5].Những thông tin có được từ lời khai của người làm chứng là chứng cứ quan trọng để cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng có thể nhanh chóng tìm ra sự thật khách quan của vụ án, bởi lẽ người làm chứng nắm được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại … Khi bắt đầu điều tra, nhà chức trách thường thẩm vấn các nhân chứng biết được bất kỳ thông tin gì liên quan đến vụ án để lần ra các manh mối của vụ án.

 

Lời khai của người làm chứng là sự trình bày bằng miệng của người làm chứng về những tình tiết của vụ án hình sự, về đặc điểm nhân thân của người bị buộc tội, người bị hại, mối quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, người bị hại và những người làm chứng khác.

Một người được triệu tập với tư cách là người làm chứng thì họ phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với người làm chứng. Điểm b, khoản 4 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định người làm chứng có nghĩa vụ “trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó“.Như vậy, khai báo trung thực những gì mình biết liên quan đến vụ án là nghĩa vụ bắt buộc mà người làm chứng phải thực hiện khi tham gia tố tụng hình sự. Nếu người làm chứng không có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan mà khai báo gian dối, từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Trách nhiệm hình sự đó có thể là tội khai báo gian dối quy định tại Điều 382 hoặc tội từ chối khai báo quy định tại Điều 383 Bộ luật hình sự năm 2015.

 

Lời khai của người làm chứng trước cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng những gì họ biết về vụ án thì những lời khai đó đều là nguồn chứng cứ nhưng chỉ những thông tin từ lời khai của người làm chứng đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ gồm tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp thì mới trở thành chứng cứ của vụ án hình sự. Lời khai của người làm chứng có thể cung cấp nhiều thông tin khác nhau, vì vậy nó đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có sự kiểm tra, đánh giá các thông tin đó để xác định thông tin nào là chứng cứ của vụ án hình sự, thông tin nào không liên quan đến vụ án.

 

Pháp luật hiện nay không quy định cụ thể việc kiểm tra, đánh giá như thế nào đối với nguồn chứng cứ lời khai của người làm chứng, do đó việc đánh giá một thông tin nào đó từ lời khai của người làm chứng có phải là chứng cứ hay không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng. Khoản 2 Điều 91 chỉ quy định“không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó”. Theo quy định này thì việc đánh giá một thông tin nào đó từ lời khai của người làm chứng có phải là chứng cứ hay không thì chỉ cần họ nói rõ được vì sao họ biết được tính tiết đó. Tức là một người khai về một tội phạm và họ nói được rằng tôi đứng gần đó và tôi nhìn thấy sự việc xảy ra thì lời khai đó là chứng cứ.

 

Chúng tôi cho rằng,quy định như trên dễ dẫn đến tình trạng khi đánh giá, sử dụng những thông tin từ lời khai của người làm chứng để chứng minh các tình tiết của vụ án sẽ thiếu cơ sở khoa học để đảm bảo tính chính xác của thông tin từ lời khai đó. Bởi lẽ “có thể người làm chứng nói toàn sự thật nhưng biết đâu sự thật đó là do sự sai nhầm mà ra, hoặc nghe nhầm, hoặc nhìn thấy nhầm, hoặc kể lại nhầm”[6]. Lời khai của nhân chứng có mặt tại hiện trường có thể cung cấp những thông tin không chính xác bởi những gì họ thấy có thể không phản ánh đúng bản chất của sự việc.

 

Có quan điểm cho rằng, “nếu có từ hai người làm chứng không có quan hệ với nhau, họ lại có tất cả những phẩm chất và điều kiện của người làm chứng và khai thống nhất với nhau thì tình tiết được khai báo có thể tin cậy được”[7].Chúng tôi cho rằng, thông tin có được từ lời khai, dù đó là lời khai của người làm chứng hay của bất kỳ ai đều phản ánh ý chỉ chủ quan của mỗi người, do đó chất lượng thông tin từ lời khai phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thời gian để họ nhận biết sự việc, hiện tượng diễn ra quá nhanh hoặc thời gian xảy ra đã quá lâu; người làm chứng không có kiến thức về lĩnh vực đó; hiện trường nơi xảy ra tội phạm người phạm tội đã làm thay đổi, tẩy xóa; điều kiện thời tiết khí hậu xấu, nơi xảy ra tội phạm lại xa…. Vì thế, lời khai của người làm chứng sẽ không có giá trị nếu không có dẫn chứng cụ thể.

 

Trước đây, Tòa án nhân dân tối cao có công văn số 98-NCPL ngày 02/03/1974 gửi cho các Tòa án địa phương đề cập việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng đã nói rõ những thông tin mà người làm chứng biết được có thể do “nghe và thấy khi việc phạm pháp xảy ra”[9] hoặc “không nghe thấy trực tiếp mà nghe nói lại”[10], do đó khi sử dụng lời khai của người làm chứng “đều phải được xác minh có đúng sự thật không, vì những lý do:

a) Người làm chứng tuy khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc mắt có thể không tốt, nên thuật lại có thể không hoàn toàn đúng diễn biến của sự việc.
b) Việc xảy ra đã lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót.
c) Ngại phiền phức hoặc thù oán mà không khai hết sự việc mà mình đã biết.
d) Vì cảm tình hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà khai thêm hoặc bớt, thiếu chính xác.
đ) Có nhân chứng, vì nhớ không kỹ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình.
e) Vì bị đe dọa hoặc bị mua chuộc mà khai sai sự thật.
g) Đã khai không đúng, nhưng sau vẫn khai như trước, vì sợ khai khác thì bị đánh giá là người không trung thực”[11].

Tinh thần của văn bản này vẫn còn nguyên giá trị và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn giải quyết án.

 

Thực tế có rất nhiều vụ án chỉ có chứng cứ có được từ lời khai của người làm chứng và các đương sự của vụ án,vì thế việc đánh giá và sử dụng chứng cứ lúc này phụ thuộc vào ý chí của Hội đồng xét xử. Để sử dụng lời khai của người làm chứng làm chứng cứ của vụ án một cách khách quan, khoa học, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi khoản 2 Điều 91 BLTTHS năm 2015 theo hướng “Thông tin có được từ lời khai của người làm chứng được sử dụng làm chứng cứ nếu họ nói rõ được vì sao biết được những tình tiết đó và phải phù hợp với các chứng cứ khách của vụ án”.

 

Nguyễn Duy Nam – Tòa án quân sự Quân khu 4

 

Tài liệu tham khảo:
[1] Trần Quang Tiệp (2011), Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 47.
[2], [9]Trịnh Tiến Việt, Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Chuyên trang luật hình sự, tố tụng hình sự ngày 30/11/2009
Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
[3] Nguyễn Nhật Lệ (2014), Nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (luận văn cao học).
[4] Xem Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, tr 563.
[5] Trần Quang Tiệp (2005), Về lời khai của người làm chứng trong vụ án hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4.
[6] Huỳnh Kỳ (1952), Cảnh sát khoa học, NXB Văn Hồng Thịnh, tr 96.
[7] Nguyễn Văn Huyên – Lê Thanh Bình, Một số vấn đề về chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam, Chuyên trang luật hình sự, tố tụng hình sự ngày 30/9/2010
Một số vấn đề về chứng cứ trong Tố tụng Hình sự Việt Nam
[9], [10], [11] Xem: Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao xuất bản, Hà Nội, 1976, tr. 74-75

Bài viết liên quan

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.