Thừa kế theo pháp luật là gì? Ví dụ, đặc điểm, ý nghĩa?

Thừa kế theo pháp luật là gì?

Thừa kế theo pháp luật là gì là câu hỏi thường gặp khi một người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không thể áp dụng để chia toàn bộ di sản. Trong đời sống, nhiều gia đình chỉ biết rằng “cha mẹ mất thì con được hưởng tài sản” nhưng không phải ai cũng hiểu rõ ai là người được hưởng, hàng thừa kế được xác định như thế nào, trường hợp nào phải chia theo pháp luật và vì sao có người được hưởng thay phần của cha mẹ mình đã mất trước. Hiểu đúng thừa kế theo pháp luật không chỉ giúp người dân xác định đúng quyền thừa kế, mà còn giúp hạn chế tranh chấp khi làm thủ tục khai nhận di sản, thỏa thuận phân chia di sản, sang tên nhà đất, rút tiền ngân hàng hoặc xử lý tài sản do người chết để lại.

1. Thừa kế theo pháp luật là gì?

Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Nói một cách dễ hiểu, đây là hình thức chia di sản không dựa trực tiếp vào ý chí riêng của người chết như di chúc, mà dựa vào quy tắc có sẵn của pháp luật về hàng thừa kế, thứ tự ưu tiên và điều kiện hưởng di sản. Nếu thừa kế theo di chúc trả lời câu hỏi “người chết muốn để lại tài sản cho ai?” thì thừa kế theo pháp luật trả lời câu hỏi “pháp luật quy định ai được hưởng tài sản khi không có di chúc hợp pháp hoặc di chúc không điều chỉnh được toàn bộ di sản?”.

Ví dụ, ông A chết không để lại di chúc. Ông A có vợ, 03 người con, cha mẹ ông A đều đã mất. Trong trường hợp này, di sản của ông A sẽ được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, gồm vợ và 03 người con. Nếu không có thỏa thuận khác và không có ai từ chối hoặc không có quyền hưởng di sản, mỗi người thường được hưởng phần bằng nhau.

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp được quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015. Các trường hợp phổ biến gồm: không có di chúc; di chúc không hợp pháp; người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; người được chỉ định hưởng di sản theo di chúc từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản; phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực.

Ví dụ, bà B lập di chúc để lại căn nhà cho con gái nhưng không nhắc đến thửa đất và khoản tiền gửi ngân hàng. Sau khi bà B chết, căn nhà có thể được xem xét chia theo di chúc nếu di chúc hợp pháp; còn thửa đất và khoản tiền gửi ngân hàng không được định đoạt trong di chúc thì có thể được chia theo pháp luật. Đây là trường hợp một vụ thừa kế vừa có phần chia theo di chúc, vừa có phần chia theo pháp luật.

Di sản thừa kế không phải lúc nào cũng là toàn bộ tài sản đang đứng tên người chết. Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di sản gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Vì vậy, trước khi chia theo pháp luật, cần xác định chính xác đâu là di sản của người chết, đâu là tài sản của người còn sống, đâu là phần tài sản chung vợ chồng hoặc tài sản chung với người khác.

Ví dụ, vợ chồng ông C có một căn nhà là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Ông C chết không để lại di chúc. Nếu không có thỏa thuận hoặc căn cứ khác, trước hết cần xác định phần tài sản của ông C trong khối tài sản chung vợ chồng; thông thường có thể hiểu ông C có một nửa giá trị căn nhà, phần này mới là di sản để chia thừa kế. Một nửa còn lại là tài sản của người vợ, không phải di sản của ông C.

Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế. Đây là quy định quan trọng tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định ai có tư cách hưởng di sản. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết; kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan đến di sản mới phát sinh cho người thừa kế.

Ví dụ, ông D chết khi vợ đang mang thai người con thứ hai. Sau đó, đứa trẻ sinh ra còn sống. Trong trường hợp này, người con được thành thai trước khi ông D chết và sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế vẫn có thể được hưởng di sản của ông D theo quy định pháp luật, nếu thuộc hàng thừa kế và không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản.

2. Ví dụ về thừa kế theo pháp luật

Để hiểu rõ hơn thừa kế theo pháp luật là gì, có thể nhìn qua một số ví dụ thực tế thường gặp trong gia đình, đặc biệt là các trường hợp liên quan đến nhà đất, tài sản chung vợ chồng, con nuôi, con riêng và thừa kế thế vị.

Ví dụ thứ nhất là trường hợp người chết không để lại di chúc. Ông E chết, để lại một thửa đất đứng tên riêng của ông. Ông E có vợ, 02 con đẻ và mẹ đẻ còn sống. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Vì vậy, vợ ông E, 02 người con và mẹ đẻ của ông E đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và cùng có quyền hưởng di sản theo pháp luật. Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau nếu không có thỏa thuận khác.

Ví dụ thứ hai là trường hợp không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất. Bà F chết không để lại di chúc, không có chồng, không có con, cha mẹ đều đã mất. Bà F còn một người anh ruột và một người em gái ruột. Khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất, những người ở hàng thừa kế thứ hai mới được hưởng di sản. Hàng thừa kế thứ hai gồm ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người chết, cháu ruột mà người chết là ông bà. Trong ví dụ này, anh ruột và em gái ruột của bà F có thể là những người được hưởng di sản theo pháp luật.

Ví dụ thứ ba là trường hợp thừa kế thế vị. Ông G có 03 người con là H, K và M. Người con H chết trước ông G nhưng H có 02 người con là N và P. Khi ông G chết không để lại di chúc, K và M là con còn sống của ông G được hưởng thừa kế theo pháp luật. Riêng phần mà H đáng lẽ được hưởng nếu còn sống sẽ do N và P hưởng thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015. Nói cách khác, cháu có thể được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống tại thời điểm mở thừa kế.

Ví dụ thứ tư là trường hợp con nuôi. Ông Q nhận nuôi hợp pháp một người con nuôi là R. Sau đó ông Q chết không để lại di chúc. Nếu việc nuôi con nuôi hợp pháp, R thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Q giống như con đẻ. Điều này có nghĩa là con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có quyền thừa kế di sản của nhau theo quy định pháp luật.

Ví dụ thứ năm là trường hợp di chúc không hợp pháp. Cụ S có 04 người con. Trước khi mất, cụ S có một văn bản ghi là di chúc nhưng thời điểm lập văn bản cụ đã mất năng lực nhận thức, không minh mẫn và có dấu hiệu bị một người con ép ký. Nếu Tòa án xác định di chúc này không hợp pháp thì di sản của cụ S sẽ không được chia theo văn bản đó, mà được chia theo pháp luật cho những người thừa kế hợp pháp của cụ S.

Ví dụ thứ sáu là trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản. Bà T chết không để lại di chúc, có chồng và 02 người con. Một người con lập văn bản từ chối nhận di sản hợp lệ trước thời điểm phân chia di sản và việc từ chối không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản. Khi đó, phần di sản được chia cho những người thừa kế còn lại theo quy định và theo thỏa thuận hợp pháp của các bên. Cần lưu ý, người thừa kế không được từ chối nhận di sản nếu việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Những ví dụ trên cho thấy thừa kế theo pháp luật không đơn giản là “cứ con cái thì được hưởng hết”. Việc chia di sản cần xem xét nhiều yếu tố: người chết có để lại di chúc hay không; di chúc có hợp pháp không; ai thuộc hàng thừa kế; có người thừa kế thế vị không; có con nuôi, con riêng, cha mẹ nuôi hay không; có người từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản hay không; tài sản để lại có phải là tài sản riêng hay tài sản chung.

3. Đặc điểm của thừa kế theo pháp luật

– Đặc điểm đầu tiên của thừa kế theo pháp luật là không dựa trực tiếp vào ý chí định đoạt của người chết, mà dựa vào quy định có sẵn của pháp luật. Khi người chết không để lại di chúc hợp pháp hoặc di chúc không điều chỉnh hết di sản, pháp luật sẽ dùng các quy tắc về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự để xác định người hưởng di sản. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với thừa kế theo di chúc, bởi thừa kế theo di chúc lấy ý chí của người lập di chúc làm trung tâm.

Ví dụ, cha mẹ có 03 người con. Khi còn sống, cha mẹ thường nói miệng muốn để lại nhà cho người con út vì người này chăm sóc cha mẹ. Tuy nhiên, nếu cha mẹ không lập di chúc hợp pháp, sau khi cha mẹ mất, lời nói miệng thông thường rất khó được xem là căn cứ chia di sản. Khi đó, tài sản có thể được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế, thay vì tự động thuộc về người con út.

– Đặc điểm thứ hai là người hưởng di sản được xác định theo hàng thừa kế. Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định ba hàng thừa kế. Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; hàng thừa kế thứ hai gồm ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột mà người chết là ông bà; hàng thừa kế thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì, cháu ruột và chắt ruột theo quy định. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản.

Ví dụ, ông U chết, còn vợ và con. Anh chị em ruột của ông U vẫn còn sống nhưng không được hưởng di sản theo pháp luật nếu vợ và con của ông U vẫn còn và không từ chối hoặc không bị loại khỏi quyền hưởng di sản. Anh chị em ruột thuộc hàng thừa kế thứ hai, chỉ được xem xét khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất hoặc những người ở hàng thứ nhất không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản.

– Đặc điểm thứ ba là những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Đây là nguyên tắc thể hiện tính bình đẳng giữa những người có cùng vị trí pháp lý trong quan hệ thừa kế. Nếu có nhiều người cùng thuộc một hàng thừa kế và không có thỏa thuận khác, mỗi người được hưởng một phần ngang nhau trong khối di sản sau khi đã xác định đúng tài sản thừa kế và thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết để lại.

Ví dụ, bà V chết không để lại di chúc, có 04 người con, chồng và cha mẹ đều đã mất. Nếu cả 04 người con đều còn sống, không ai từ chối nhận di sản và không ai thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản thì 04 người con cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau.

– Đặc điểm thứ tư là thừa kế theo pháp luật có tính dự phòng, bổ sung cho thừa kế theo di chúc. Pháp luật không phủ nhận quyền lập di chúc của cá nhân. Ngược lại, nếu có di chúc hợp pháp thì di sản thường được ưu tiên chia theo di chúc. Thừa kế theo pháp luật chỉ được áp dụng khi không có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc có phần di sản không thể chia theo di chúc. Điều này thể hiện sự cân bằng giữa quyền tự định đoạt của cá nhân và nhu cầu bảo đảm trật tự pháp lý khi không có ý chí định đoạt hợp pháp.

Ví dụ, ông X lập di chúc hợp pháp để lại căn nhà cho vợ nhưng không đề cập đến chiếc xe ô tô. Khi ông X chết, căn nhà được giải quyết theo di chúc; chiếc xe ô tô có thể được chia theo pháp luật vì không được định đoạt trong di chúc.

– Đặc điểm thứ năm là thừa kế theo pháp luật gắn chặt với quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Người được hưởng di sản theo pháp luật thường là những người có quan hệ gia đình gần gũi với người chết. Hàng thừa kế thứ nhất ưu tiên vợ chồng, cha mẹ, con; sau đó mới đến ông bà, anh chị em, cháu, bác, chú, cậu, cô, dì và các chủ thể khác theo hàng thừa kế xa hơn. Đây là cách pháp luật bảo vệ mối quan hệ gia đình và sự kế thừa tài sản trong phạm vi thân thích.

Ví dụ, một người độc thân chết, không có con, cha mẹ đều đã mất nhưng còn anh ruột. Nếu không có di chúc, người anh ruột có thể được hưởng di sản theo hàng thừa kế thứ hai. Nhưng nếu người chết còn mẹ đẻ thì người mẹ thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên hơn người anh ruột.

– Đặc điểm thứ sáu là có cơ chế thừa kế thế vị. Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Ví dụ, cụ Y có một người con trai là Z. Z chết trước cụ Y và để lại 02 người con. Khi cụ Y chết không có di chúc, 02 người cháu này có thể được hưởng thế vị phần di sản mà Z đáng lẽ được hưởng nếu Z còn sống. Cơ chế này giúp bảo vệ quyền lợi của thế hệ sau trong trường hợp cha hoặc mẹ của họ chết trước người để lại di sản.

– Đặc điểm thứ bảy là người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản được hưởng. Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Điều này có nghĩa là nhận di sản không chỉ là nhận tài sản, mà còn có thể gắn với nghĩa vụ thanh toán nợ, thuế, chi phí và các nghĩa vụ tài sản hợp pháp khác trong phạm vi di sản.

Ví dụ, ông H chết để lại tài sản trị giá 1 tỷ đồng nhưng còn khoản nợ hợp pháp 300 triệu đồng. Những người thừa kế không thể chỉ nhận tài sản mà bỏ qua khoản nợ. Trong phạm vi di sản do ông H để lại, nghĩa vụ tài sản cần được xử lý theo quy định trước hoặc trong quá trình phân chia di sản.

– Đặc điểm thứ tám là thừa kế theo pháp luật có thể phát sinh nhiều tranh chấp nếu xác định sai người thừa kế hoặc di sản. Các tranh chấp thường gặp gồm bỏ sót con riêng, con nuôi; không xác định đúng tài sản chung vợ chồng; không tính đến người thừa kế thế vị; nhầm lẫn giữa hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ hai; hoặc cho rằng người trực tiếp chăm sóc người chết đương nhiên được hưởng nhiều hơn. Trên thực tế, người có công chăm sóc có thể được các bên thỏa thuận chia phần phù hợp nhưng nếu không có di chúc thì việc xác định quyền hưởng vẫn phải dựa vào hàng thừa kế và quy định pháp luật.

4. Ý nghĩa của thừa kế theo pháp luật

– Ý nghĩa đầu tiên của thừa kế theo pháp luật là bảo đảm có căn cứ chia di sản khi người chết không để lại di chúc. Không phải ai cũng kịp lập di chúc hoặc biết cách lập di chúc hợp pháp. Nếu pháp luật không đặt ra cơ chế chia di sản trong trường hợp này, tài sản của người chết sẽ rơi vào tình trạng không rõ ai có quyền hưởng, ai có quyền quản lý, ai có nghĩa vụ thanh toán nợ và ai được đăng ký sang tên. Thừa kế theo pháp luật tạo ra một trật tự chung để giải quyết vấn đề đó.

Ví dụ, một người đột ngột qua đời do tai nạn, chưa kịp lập di chúc. Người này để lại vợ, con nhỏ và cha mẹ già. Nhờ có quy định về hàng thừa kế theo pháp luật, các thành viên gần gũi nhất trong gia đình có cơ sở pháp lý để xác lập quyền thừa kế, làm thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản, bảo đảm cuộc sống sau khi người để lại tài sản qua đời.

– Ý nghĩa thứ hai là bảo vệ quyền lợi của những người thân thích gần gũi với người chết. Hàng thừa kế thứ nhất ưu tiên vợ, chồng, cha mẹ, con của người chết. Đây thường là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trực tiếp, có sự gắn bó sâu sắc về đời sống và kinh tế. Việc pháp luật ưu tiên họ hưởng di sản khi không có di chúc thể hiện sự bảo vệ đối với gia đình hạt nhân và những quan hệ thân thiết nhất.

Ví dụ, người chồng chết không để lại di chúc, để lại vợ và con chưa thành niên. Nếu tài sản được chia theo pháp luật, vợ và con thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản. Quy định này góp phần bảo vệ cuộc sống của những người thân thiết nhất, nhất là khi họ phụ thuộc nhiều vào người đã mất.

– Ý nghĩa thứ ba là tạo sự bình đẳng giữa những người cùng hàng thừa kế. Khi không có ý chí định đoạt hợp pháp của người chết, pháp luật lựa chọn cách chia tương đối công bằng: những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần bằng nhau. Cách chia này không xem xét cảm tính ai được yêu thương hơn, ai ở gần hơn, ai có tiếng nói lớn hơn trong gia đình, mà đặt những người cùng vị trí pháp lý vào cùng một mặt bằng quyền lợi.

Ví dụ, cha mẹ chết không để lại di chúc, có 05 người con. Dù một người con sống gần cha mẹ hơn, một người con sống xa hơn, nếu không có thỏa thuận khác và không có căn cứ pháp lý đặc biệt, các con cùng hàng thừa kế vẫn được hưởng phần di sản bằng nhau. Sau đó, nếu các bên muốn nhường phần, tặng cho phần hoặc thỏa thuận người chăm sóc được nhận nhiều hơn thì có thể lập văn bản thỏa thuận theo quy định.

– Ý nghĩa thứ tư là giúp hạn chế tình trạng tài sản bị chiếm giữ tùy tiện. Nếu không có quy định rõ về thừa kế theo pháp luật, một người đang quản lý tài sản có thể tự cho rằng mình có quyền sở hữu toàn bộ; người ở cùng nhà có thể tự đứng ra bán tài sản; người giữ giấy tờ có thể ngăn cản người khác hưởng di sản. Các quy định về hàng thừa kế, thừa kế thế vị, nghĩa vụ tài sản và thời hiệu thừa kế giúp xác lập khuôn khổ để mọi người giải quyết quyền lợi một cách có căn cứ.

Ví dụ, sau khi cha mất, người con cả giữ toàn bộ giấy tờ nhà đất và cho rằng mình là con trưởng nên được hưởng toàn bộ nhà đất. Nếu cha không để lại di chúc, quan điểm này không đương nhiên đúng. Các người con khác, người vợ hoặc cha mẹ của người chết nếu còn sống vẫn có quyền thừa kế theo pháp luật nếu thuộc hàng thừa kế và đáp ứng điều kiện luật định.

– Ý nghĩa thứ năm là bảo vệ thế hệ sau thông qua cơ chế thừa kế thế vị. Nếu một người con chết trước cha mẹ, con của người đó có thể được hưởng thế vị phần mà cha hoặc mẹ mình đáng lẽ được hưởng. Quy định này có ý nghĩa nhân văn, tránh việc cháu bị mất hoàn toàn quyền lợi chỉ vì cha hoặc mẹ của cháu chết trước ông bà.

Ví dụ, người con trai duy nhất của cụ K chết trước cụ K, để lại một người con nhỏ. Khi cụ K chết không để lại di chúc, người cháu có thể được hưởng thế vị phần di sản mà cha của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của cháu trong dòng thừa kế gia đình.

– Ý nghĩa thứ sáu là tạo cơ sở cho thủ tục công chứng, khai nhận di sản và đăng ký sang tên tài sản. Khi xác định được người thừa kế theo pháp luật, các bên có thể lập văn bản khai nhận di sản hoặc thỏa thuận phân chia di sản tại tổ chức hành nghề công chứng, sau đó thực hiện thủ tục đăng ký biến động nhà đất, sang tên xe, rút tiền ngân hàng hoặc xử lý tài sản khác. Nếu không xác định đúng người thừa kế theo pháp luật, hồ sơ có thể bị từ chối hoặc phát sinh tranh chấp sau khi đã sang tên.

Ví dụ, mẹ chết không để lại di chúc, để lại một thửa đất. Các con muốn sang tên cho một người con đại diện đứng tên. Trước hết, cần xác định đầy đủ những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mẹ; nếu còn cha, các con khác hoặc người thừa kế thế vị thì những người này phải tham gia thỏa thuận hoặc có văn bản từ chối, ủy quyền hợp lệ theo quy định. Nếu bỏ sót một người thừa kế, hồ sơ có thể bị khiếu nại hoặc tranh chấp về sau.

– Ý nghĩa thứ bảy là góp phần ổn định quan hệ gia đình và trật tự xã hội. Thừa kế là lĩnh vực dễ phát sinh mâu thuẫn vì liên quan trực tiếp đến tài sản, tình cảm và quan hệ thân thích. Khi pháp luật đặt ra quy tắc rõ ràng, các bên có căn cứ để thương lượng, thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Quy định càng rõ thì khả năng tự ý chiếm giữ, tẩu tán tài sản, loại bỏ người thừa kế hoặc tranh chấp kéo dài càng được hạn chế.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng thừa kế theo pháp luật chỉ là cơ chế chia di sản theo quy tắc chung. Cách chia này có thể không phản ánh đầy đủ mong muốn riêng của người đã chết hoặc hoàn cảnh cụ thể của từng người trong gia đình. Vì vậy, nếu một người muốn tài sản được chia theo ý chí riêng, muốn dành phần tài sản cho người chăm sóc mình, muốn để lại tài sản cho người ngoài hàng thừa kế hoặc muốn sắp xếp tài sản để thờ cúng thì nên lập di chúc hợp pháp khi còn minh mẫn, tự nguyện.

Kết luận

Thừa kế theo pháp luật là hình thức thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định, thường được áp dụng khi người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc có phần di sản không được định đoạt trong di chúc. Hình thức thừa kế này có các đặc điểm nổi bật như xác định người hưởng di sản theo hàng thừa kế; những người cùng hàng được hưởng phần bằng nhau; hàng sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước; có cơ chế thừa kế thế vị; người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản được hưởng. Qua các ví dụ thực tế, có thể thấy thừa kế theo pháp luật giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng, cha mẹ, con, cháu và những người thân thích của người chết; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để công chứng, khai nhận, phân chia và sang tên tài sản. Dù vậy, nếu muốn tài sản được chia theo mong muốn riêng, mỗi người vẫn nên cân nhắc lập di chúc hợp pháp để ý chí của mình được thể hiện rõ ràng và hạn chế tranh chấp thừa kế về sau.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?

Đã có 1484 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!