Thừa kế theo di chúc là gì? Ví dụ, đặc điểm, ý nghĩa?

Thừa kế theo di chúc là gì?

Thừa kế theo di chúc là gì là câu hỏi rất thường gặp khi một người muốn chủ động để lại nhà đất, tiền gửi, xe ô tô, cổ phần, phần vốn góp hoặc tài sản khác cho người thân sau khi qua đời. Trong pháp luật dân sự Việt Nam, thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế thể hiện rõ nhất quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân. Nếu thừa kế theo pháp luật dựa vào hàng thừa kế, quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng thì thừa kế theo di chúc lại đặt trọng tâm vào ý chí hợp pháp của người để lại di sản. Hiểu đúng khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thừa kế theo di chúc không chỉ giúp người có tài sản lập di chúc đúng quy định, mà còn giúp gia đình hạn chế tranh chấp, bảo vệ người yếu thế và bảo đảm tài sản được chuyển giao đúng với mong muốn cuối cùng của người đã mất.

1. Thừa kế theo di chúc là gì?

Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Từ quy định này có thể hiểu, thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch di sản của người chết cho người còn sống theo nội dung di chúc hợp pháp mà người đó đã lập khi còn sống. Nói cách khác, nếu một người trước khi qua đời đã lập di chúc để xác định ai được hưởng tài sản, hưởng tài sản nào, hưởng bao nhiêu, có phải thực hiện nghĩa vụ gì hay không thì sau khi người đó chết, việc phân chia di sản trước hết phải căn cứ vào di chúc.

Ví dụ, ông A có một căn nhà, một thửa đất và một khoản tiền gửi tiết kiệm. Khi còn minh mẫn, ông A lập di chúc để lại căn nhà cho con gái cả, thửa đất cho con trai út và khoản tiền tiết kiệm dùng vào việc thờ cúng. Nếu di chúc này hợp pháp, sau khi ông A chết, việc chia tài sản phải ưu tiên thực hiện theo nội dung di chúc của ông A, chứ không tự động chia đều toàn bộ tài sản cho tất cả các con theo hàng thừa kế pháp luật.

Bản chất của thừa kế theo di chúc là tôn trọng ý chí cá nhân của người có tài sản. Khi còn sống, chủ sở hữu tài sản có quyền bán, tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp hoặc định đoạt tài sản của mình trong phạm vi pháp luật cho phép. Khi họ qua đời, pháp luật vẫn tiếp tục tôn trọng quyền định đoạt đó thông qua di chúc. Vì vậy, nếu có di chúc hợp pháp và di chúc còn hiệu lực, di sản thường được chia theo di chúc trước; chỉ khi không có di chúc, di chúc không hợp pháp, di chúc không định đoạt hết di sản hoặc có phần di chúc không có hiệu lực thì phần di sản liên quan mới được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.

Ví dụ, bà B lập di chúc để lại căn nhà duy nhất cho người con út vì người này sống cùng và trực tiếp chăm sóc bà nhiều năm. Bà B còn có hai người con khác đã có nhà riêng và ổn định kinh tế. Nếu di chúc của bà B hợp pháp, ý chí để lại căn nhà cho người con út sẽ được ưu tiên xem xét. Hai người con còn lại không thể chỉ căn cứ vào việc mình cũng là con ruột để yêu cầu chia đều căn nhà, trừ trường hợp có căn cứ pháp luật khác như di chúc vô hiệu hoặc có người thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Người lập di chúc có nhiều quyền định đoạt rất rộng. Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người; dành một phần tài sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản và người phân chia di sản. Những quyền này cho thấy thừa kế theo di chúc là một cơ chế pháp lý linh hoạt, cho phép người có tài sản chủ động sắp xếp tài sản theo hoàn cảnh gia đình, quan hệ tình cảm và mong muốn riêng của mình.

Ví dụ, cha mẹ có ba người con. Người con cả đã được cha mẹ cho đất khi lập gia đình; người con thứ hai đang khó khăn, chưa có chỗ ở; người con út có điều kiện kinh tế tốt. Trong trường hợp này, cha mẹ có thể lập di chúc để lại căn nhà cho người con thứ hai, một phần tiền cho người con út và ghi nhận rằng người con cả đã được cho đất trước đó nên không nhận thêm di sản. Nếu nội dung này được lập hợp pháp, di chúc giúp phản ánh hoàn cảnh thực tế của từng người, thay vì chia đều một cách máy móc.

Tuy nhiên, không phải cứ có một văn bản ghi là “di chúc” thì đương nhiên được chia thừa kế theo di chúc. Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải bảo đảm người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định pháp luật. Đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, di chúc phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Ví dụ, cụ C đã 92 tuổi, bị bệnh nặng, lúc tỉnh lúc mê. Một người con tự soạn sẵn di chúc rồi đưa cụ ký trong lúc cụ không còn nhận thức rõ nội dung văn bản. Sau khi cụ mất, các người con khác có quyền tranh chấp, yêu cầu xem xét di chúc có hợp pháp hay không. Nếu chứng minh được cụ C không minh mẫn, không sáng suốt khi ký di chúc hoặc bị tác động, cưỡng ép thì di chúc có thể không được công nhận.

Một điểm quan trọng nữa là di chúc không có hiệu lực ngay tại thời điểm lập. Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế tức là thời điểm người lập di chúc chết. Trong thời gian còn sống, người lập di chúc vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc. Nếu một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Ví dụ, năm 2020 ông D lập di chúc để lại thửa đất cho con trai. Đến năm 2024, ông D thay đổi ý chí và lập di chúc mới để lại thửa đất đó cho con gái vì con gái là người trực tiếp chăm sóc ông. Khi ông D mất năm 2026, nếu bản di chúc năm 2024 hợp pháp thì bản di chúc này được xem là bản sau cùng và có hiệu lực đối với thửa đất, còn bản di chúc năm 2020 không còn là căn cứ ưu tiên để chia thừa kế đối với tài sản đó.

Vì vậy, khi hỏi thừa kế theo di chúc là gì, có thể hiểu một cách đầy đủ rằng: thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác sau khi chết theo ý chí hợp pháp mà người đó đã thể hiện trong di chúc; việc chuyển dịch này chỉ phát sinh khi người lập di chúc chết; đồng thời di chúc phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể, ý chí, nội dung, hình thức và hiệu lực theo quy định pháp luật.

2. Đặc điểm của thừa kế theo di chúc

– Đặc điểm đầu tiên của thừa kế theo di chúc là dựa trên ý chí đơn phương của người để lại di sản. Khác với hợp đồng, di chúc không cần có sự thỏa thuận giữa người lập di chúc và người được hưởng di sản tại thời điểm lập. Người lập di chúc tự mình quyết định việc để lại tài sản cho ai, cho phần nào, có giao nghĩa vụ gì hay không, có dành tài sản để thờ cúng hay không, có chỉ định người quản lý di sản hay không. Người được chỉ định hưởng di sản có thể biết hoặc không biết về nội dung di chúc khi người lập di chúc còn sống.

Ví dụ, bà E có một người cháu thường xuyên chăm sóc mình lúc tuổi già. Bà E tự nguyện lập di chúc để lại một phần tiền tiết kiệm cho người cháu này. Người cháu không cần phải ký vào di chúc tại thời điểm bà E lập di chúc, bởi di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của bà E. Sau khi bà E chết, nếu di chúc hợp pháp, người cháu có thể được hưởng phần di sản theo nội dung di chúc.

– Đặc điểm thứ hai là chỉ cá nhân mới có quyền lập di chúc. Pháp luật xác định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tổ chức, pháp nhân không lập di chúc theo nghĩa thừa kế như cá nhân, bởi tổ chức không chết theo nghĩa sinh học và việc chấm dứt pháp nhân được xử lý theo cơ chế pháp luật khác. Vì vậy, thừa kế theo di chúc luôn gắn với nhân thân, ý chí và tài sản của một con người cụ thể.

Ví dụ, ông F là chủ sở hữu một thửa đất và một căn nhà. Ông F có thể lập di chúc để lại tài sản của mình cho vợ, con, cháu hoặc người khác. Ngược lại, một công ty không thể “lập di chúc” để lại tài sản sau khi giải thể theo cách của cá nhân, mà tài sản của công ty phải được xử lý theo quy định về doanh nghiệp, nghĩa vụ tài sản và thủ tục chấm dứt hoạt động.

– Đặc điểm thứ ba là người thừa kế theo di chúc không nhất thiết phải thuộc hàng thừa kế theo pháp luật. Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt thừa kế theo di chúc với thừa kế theo pháp luật. Trong thừa kế theo pháp luật, người được hưởng di sản phải thuộc hàng thừa kế theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Nhưng trong thừa kế theo di chúc, người lập di chúc có thể chỉ định người thân, bạn bè, người chăm sóc mình hoặc tổ chức được hưởng di sản, miễn là nội dung đó không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Ví dụ, ông G không có vợ con, được người hàng xóm chăm sóc trong nhiều năm cuối đời. Ông G có thể lập di chúc để lại một phần tài sản cho người hàng xóm này. Nếu không có di chúc, người hàng xóm không phải là người thừa kế theo pháp luật của ông G nên thường không được hưởng di sản. Nhưng nếu có di chúc hợp pháp, người hàng xóm vẫn có thể được nhận phần tài sản mà ông G để lại.

– Đặc điểm thứ tư là di chúc phải xác định được người hưởng di sản và di sản để lại. Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc có các nội dung chủ yếu như ngày, tháng, năm lập di chúc; họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Ví dụ, nếu di chúc chỉ ghi “tôi để lại đất cho con trai” nhưng người lập di chúc có ba người con trai và có nhiều thửa đất khác nhau thì nội dung này rất dễ gây tranh chấp. Ngược lại, nếu di chúc ghi rõ “tôi để lại thửa đất số 123, tờ bản đồ số 05, diện tích 150m², tại xã X, huyện Y, tỉnh Z cho con trai là Nguyễn Văn H, sinh năm…, số căn cước…” thì việc xác định người hưởng và tài sản được hưởng sẽ rõ ràng hơn rất nhiều.

– Đặc điểm thứ năm là thừa kế theo di chúc chỉ phát sinh sau khi người lập di chúc chết. Trước thời điểm mở thừa kế, người được chỉ định trong di chúc chưa trở thành chủ sở hữu tài sản. Người lập di chúc vẫn có toàn quyền đối với tài sản của mình, bao gồm quyền bán, tặng cho, thế chấp, chuyển nhượng hoặc lập di chúc mới nếu đủ điều kiện pháp luật.

Ví dụ, ông K lập di chúc để lại chiếc ô tô cho con trai. Tuy nhiên, hai năm sau, ông K bán chiếc ô tô đó để lấy tiền chữa bệnh. Khi ông K mất, chiếc ô tô không còn là di sản của ông nữa nên người con trai không thể yêu cầu nhận chiếc ô tô theo di chúc. Trường hợp này cho thấy di chúc chỉ có hiệu lực đối với tài sản còn tồn tại trong khối di sản tại thời điểm mở thừa kế.

– Đặc điểm thứ sáu là di chúc có thể được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ. Đây là quyền rất quan trọng của người lập di chúc, bởi hoàn cảnh gia đình, tình trạng tài sản, mối quan hệ giữa các thành viên và mong muốn cá nhân có thể thay đổi theo thời gian. Người lập di chúc không bị ràng buộc vĩnh viễn bởi bản di chúc đã lập trước đó nếu họ còn sống, còn minh mẫn và muốn thay đổi ý chí.

Ví dụ, năm 2021 bà M lập di chúc để lại nhà cho con trai cả. Sau đó, người con trai cả chuyển ra nước ngoài, không chăm sóc bà; trong khi người con gái út sống cùng và phụng dưỡng bà đến cuối đời. Năm 2025, bà M lập di chúc mới để lại nhà cho con gái út. Nếu bản di chúc mới hợp pháp, ý chí sau cùng của bà M sẽ được ưu tiên thực hiện.

– Đặc điểm thứ bảy là di chúc có thể định đoạt tài sản để thờ cúng, di tặng hoặc giao nghĩa vụ cho người thừa kế. Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép người lập di chúc dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng và giao nghĩa vụ cho người thừa kế. Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng.

Ví dụ, cụ N có một căn nhà nhỏ là nơi thờ cúng tổ tiên. Cụ lập di chúc giao căn nhà này cho người con trưởng quản lý, không bán, không chia, chỉ dùng làm nơi thờ cúng gia đình. Nếu nội dung di chúc hợp pháp và phần tài sản đó không ảnh hưởng đến nghĩa vụ tài sản phải thanh toán, căn nhà có thể được xác định là di sản dùng vào việc thờ cúng theo ý chí của cụ N.

– Đặc điểm thứ tám là sự ưu tiên của di chúc không phải tuyệt đối. Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được người lập di chúc cho hưởng hoặc chỉ được hưởng ít hơn mức đó. Nhóm này gồm con chưa thành niên; cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản.

Ví dụ, ông P lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho người con cả, không cho người vợ đang mất khả năng lao động hưởng phần nào. Khi ông P chết, người vợ vẫn có thể yêu cầu hưởng phần di sản bắt buộc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 nếu bà không từ chối nhận di sản và không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản. Điều này cho thấy pháp luật vừa tôn trọng di chúc, vừa bảo vệ một số người thân thích yếu thế.

– Đặc điểm thứ chín là di chúc có thể tồn tại dưới nhiều hình thức. Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản gồm di chúc không có người làm chứng; di chúc có người làm chứng; di chúc có công chứng; di chúc có chứng thực. Di chúc miệng chỉ được đặt ra trong trường hợp tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản; sau 03 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Ví dụ, một người bị tai nạn nặng, tính mạng bị đe dọa và không thể viết di chúc. Người này nói rõ ý chí cuối cùng trước mặt hai người làm chứng. Ngay sau đó, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và trong thời hạn luật định phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người làm chứng. Nếu người đó qua khỏi và sau 03 tháng vẫn còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng này không còn giá trị.

3. Ý nghĩa của thừa kế theo di chúc

– Ý nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất của thừa kế theo di chúc là bảo vệ quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân. Một người làm ra tài sản, tích lũy tài sản hoặc được pháp luật công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì họ có quyền quyết định tài sản đó sẽ được xử lý như thế nào sau khi mình chết. Di chúc chính là công cụ pháp lý để quyền định đoạt này tiếp tục được tôn trọng sau khi người có tài sản qua đời.

Ví dụ, ông Q có một doanh nghiệp gia đình và muốn người con thứ hai tiếp quản vì người này có kinh nghiệm quản lý, còn các con khác không tham gia kinh doanh. Nếu không lập di chúc, phần vốn hoặc tài sản của ông Q có thể bị chia theo pháp luật, dẫn đến nhiều người cùng có quyền nhưng không ai thực sự điều hành hiệu quả. Nếu ông Q lập di chúc rõ ràng, ông có thể chủ động định đoạt phần tài sản kinh doanh cho người phù hợp hơn.

– Ý nghĩa thứ hai là giúp việc phân chia di sản phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng gia đình. Không phải mọi người thừa kế đều có điều kiện sống, đóng góp, nhu cầu và trách nhiệm giống nhau. Có người đã được cha mẹ cho tài sản khi còn sống; có người trực tiếp chăm sóc cha mẹ; có người bệnh tật, khó khăn; có người đủ điều kiện quản lý tài sản chung của gia đình. Thừa kế theo di chúc cho phép người có tài sản cân nhắc những yếu tố này để phân chia hợp lý hơn.

Ví dụ, cha mẹ có ba người con. Người con cả đã được cha mẹ cho tiền mua nhà; người con thứ hai bị bệnh, không có khả năng lao động; người con út có điều kiện kinh tế khá giả. Cha mẹ có thể lập di chúc để lại phần tài sản lớn hơn cho người con thứ hai nhằm bảo đảm cuộc sống lâu dài cho người này. Nếu chỉ chia theo pháp luật, các con cùng hàng thừa kế thường được hưởng phần bằng nhau nhưng cách chia đó có thể không phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

– Ý nghĩa thứ ba là hạn chế tranh chấp thừa kế. Trong nhiều gia đình, tranh chấp không bắt đầu từ việc tài sản quá lớn mà từ việc không ai biết rõ người chết muốn để lại tài sản cho ai. Một bản di chúc hợp pháp, rõ ràng, mô tả đầy đủ tài sản, người hưởng di sản, phần được hưởng và người quản lý di sản sẽ giúp những người thừa kế có căn cứ thực hiện. Nếu di chúc được công chứng hoặc chứng thực trong những trường hợp cần thiết, rủi ro tranh chấp về chữ ký, năng lực nhận thức, sự tự nguyện và thời điểm lập di chúc cũng giảm đi đáng kể.

Ví dụ, bà R có bốn người con và một căn nhà duy nhất. Khi còn sống, bà R nói miệng nhiều lần rằng muốn để lại nhà cho người con gái út vì người này sống cùng, chăm sóc bà. Tuy nhiên, bà R không lập di chúc. Sau khi bà mất, các con còn lại yêu cầu chia đều căn nhà theo pháp luật. Nếu bà R đã lập di chúc rõ ràng, hợp pháp, khả năng tranh chấp giữa các con sẽ được hạn chế hơn rất nhiều.

– Ý nghĩa thứ tư là bảo đảm sự ổn định trong quản lý tài sản sau khi người lập di chúc chết. Với những tài sản khó chia bằng hiện vật như nhà ở duy nhất, đất hương hỏa, cơ sở kinh doanh, cổ phần trong doanh nghiệp, tài sản đang cho thuê hoặc tài sản gắn với truyền thống gia đình, người lập di chúc có thể chỉ định người quản lý, người phân chia hoặc người tiếp tục khai thác tài sản.

Ví dụ, gia đình có một thửa đất dùng làm nhà thờ họ. Nếu người có quyền sử dụng đất không lập di chúc, sau khi người đó chết, các con có thể yêu cầu chia thừa kế, thậm chí bán đất để chia tiền. Nếu người đó lập di chúc dành thửa đất làm nơi thờ cúng và giao cho một người quản lý, ý chí giữ gìn tài sản chung của gia đình có cơ sở pháp lý rõ hơn.

– Ý nghĩa thứ năm là bảo vệ người yếu thế trong gia đình thông qua sự sắp xếp chủ động của người lập di chúc. Di chúc không chỉ là công cụ chia tài sản, mà còn có thể là sự chăm lo cuối cùng của người lập di chúc đối với người thân. Người lập di chúc có thể để lại phần tài sản lớn hơn cho con chưa thành niên, con bị khuyết tật, cha mẹ già yếu, vợ hoặc chồng không có khả năng lao động hoặc người phụ thuộc vào mình.

Ví dụ, ông S có hai người con. Người con cả đã trưởng thành, có công việc ổn định. Người con út bị khuyết tật, cần có người chăm sóc lâu dài. Ông S có thể lập di chúc để lại căn nhà cho người con út sử dụng, đồng thời giao cho người con cả quản lý một khoản tiền dùng vào việc chăm sóc em. Cách lập di chúc như vậy vừa thể hiện trách nhiệm gia đình, vừa giúp bảo vệ người yếu thế sau khi ông S qua đời.

– Ý nghĩa thứ sáu là giúp người lập di chúc thể hiện trách nhiệm với gia đình, dòng họ và các giá trị tinh thần. Nhiều tài sản không chỉ có giá trị kinh tế mà còn gắn với ký ức gia đình, nơi thờ cúng, đất tổ, nhà cũ hoặc tài sản truyền qua nhiều thế hệ. Di chúc giúp người có tài sản thể hiện rõ mong muốn giữ lại một phần tài sản cho mục đích tinh thần, tránh việc sau khi họ mất, tài sản bị chia tách, bán đi hoặc sử dụng trái với ý chí của họ.

Ví dụ, cụ T có một căn nhà cổ do cha mẹ để lại. Cụ không muốn căn nhà bị bán sau khi mình mất nên lập di chúc giao nhà cho người cháu đang ở cùng quản lý, đồng thời yêu cầu dành một phần nhà làm nơi thờ cúng tổ tiên. Nếu nội dung này hợp pháp và không ảnh hưởng đến nghĩa vụ tài sản phải thanh toán, di chúc sẽ giúp bảo vệ ý chí tinh thần của cụ T.

– Ý nghĩa thứ bảy là giúp cơ quan, tổ chức có căn cứ giải quyết thủ tục thừa kế. Khi có di chúc hợp pháp, công chứng viên, cơ quan đăng ký đất đai, ngân hàng, doanh nghiệp hoặc Tòa án có căn cứ rõ hơn để xác định ai là người được hưởng di sản. Đối với tài sản phải đăng ký như nhà đất, xe ô tô, cổ phần, phần vốn góp hoặc tiền gửi ngân hàng, di chúc là một trong những tài liệu quan trọng để thực hiện thủ tục khai nhận di sản, thỏa thuận phân chia di sản hoặc đăng ký sang tên.

Ví dụ, ông U có sổ tiết kiệm tại ngân hàng và lập di chúc để lại toàn bộ khoản tiền này cho vợ. Sau khi ông U mất, người vợ có thể sử dụng di chúc cùng giấy chứng tử, giấy tờ nhân thân và các hồ sơ cần thiết khác để thực hiện thủ tục thừa kế theo yêu cầu của ngân hàng hoặc tổ chức hành nghề công chứng. Nếu không có di chúc, ngân hàng thường phải yêu cầu xác định toàn bộ hàng thừa kế theo pháp luật, khiến thủ tục phức tạp hơn.

– Ý nghĩa thứ tám là góp phần nâng cao ý thức pháp lý trong gia đình và xã hội. Việc lập di chúc hợp pháp cho thấy người có tài sản biết dự liệu rủi ro, biết tôn trọng pháp luật và biết bảo vệ quyền lợi của người thân bằng công cụ pháp lý minh bạch. Thay vì để lại sự mập mờ sau khi qua đời, người lập di chúc chủ động thể hiện ý chí rõ ràng. Đây là cách hành xử văn minh, đặc biệt trong xã hội hiện đại khi tài sản ngày càng đa dạng, quan hệ gia đình ngày càng phức tạp và tranh chấp thừa kế ngày càng dễ phát sinh.

Ví dụ, một gia đình có con chung, con riêng, tài sản riêng, tài sản chung vợ chồng và tài sản kinh doanh. Nếu người có tài sản không lập di chúc, khi họ chết, việc xác định ai được hưởng gì có thể rất phức tạp. Ngược lại, nếu người đó lập di chúc rõ ràng, có công chứng khi cần thiết, liệt kê tài sản cụ thể, xác định phần của từng người và cân nhắc người thừa kế bắt buộc, gia đình sẽ có cơ sở pháp lý tốt hơn để giải quyết thừa kế trong hòa khí.

Tuy nhiên, để thừa kế theo di chúc phát huy đúng ý nghĩa, người lập di chúc nên lập di chúc khi còn minh mẫn, tự nguyện, không chịu áp lực từ bất kỳ ai. Nội dung di chúc cần ghi rõ thông tin người lập di chúc, người được hưởng di sản, tài sản để lại, phần được hưởng, nơi có di sản và các nội dung cần thiết khác. Với tài sản có giá trị lớn hoặc gia đình có nguy cơ tranh chấp nên cân nhắc công chứng, chứng thực di chúc hoặc gửi giữ di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng.

Kết luận

Thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế dựa trên ý chí hợp pháp của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Hình thức thừa kế này có nhiều đặc điểm nổi bật như dựa trên ý chí đơn phương của người lập di chúc; chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế; có thể chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản, di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ và chỉ định người quản lý di sản; đồng thời vẫn bị giới hạn bởi điều kiện di chúc hợp pháp và quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Các ví dụ thực tế cho thấy di chúc không chỉ là văn bản chia tài sản, mà còn là công cụ giúp người có tài sản bảo vệ ý chí cuối cùng, chăm lo cho người thân, giữ gìn giá trị tinh thần và hạn chế tranh chấp trong gia đình. Vì vậy, mỗi người có tài sản nên hiểu đúng thừa kế theo di chúc là gì, biết cách lập di chúc hợp pháp và cân nhắc công chứng, chứng thực khi cần thiết để việc chuyển giao di sản được thực hiện minh bạch, an toàn và đúng với mong muốn của mình.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?

Đã có 864 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!