Quy định về tặng cho tài sản có điều kiện

Quy định về tặng cho tài sản có điều kiện

Tặng cho tài sản có điều kiện là một dạng giao dịch dân sự khá phổ biến trong đời sống, nhất là khi cha mẹ tặng cho nhà đất cho con nhưng yêu cầu con phải chăm sóc, phụng dưỡng; ông bà tặng cho cháu tài sản nhưng yêu cầu không được bán trong một thời gian nhất định; hoặc một người tặng cho tài sản kèm nghĩa vụ phải thực hiện một công việc cụ thể. Tuy nhiên, không phải điều kiện nào ghi trong hợp đồng tặng cho cũng có giá trị pháp lý. Theo Bộ luật Dân sự 2015, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho nhưng điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không được trái đạo đức xã hội. Vì vậy, nếu muốn lập hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, các bên cần hiểu đúng bản chất, điều kiện hợp pháp, thời điểm có hiệu lực và hậu quả pháp lý khi bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ.

1. Tặng cho tài sản có điều kiện là gì?

Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù; bên được tặng cho đồng ý nhận. Nói cách khác, tặng cho tài sản là giao dịch không có đền bù, bên tặng cho chuyển tài sản cho bên được tặng cho trên cơ sở tự nguyện, không nhận lại tiền hoặc lợi ích tương ứng như trong mua bán, chuyển nhượng.

Từ khái niệm chung đó, tặng cho tài sản có điều kiện được hiểu là việc bên tặng cho chuyển tài sản cho bên được tặng cho nhưng có kèm theo yêu cầu bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nhất định. Điều kiện này có thể được thực hiện trước khi tặng cho hoặc sau khi tặng cho, tùy thỏa thuận của các bên và tùy bản chất giao dịch. Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ: bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho; điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Ví dụ, cha mẹ lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con với điều kiện người con phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ khi về già. Đây là dạng tặng cho có điều kiện thường gặp. Điều kiện “chăm sóc, phụng dưỡng” về bản chất không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thậm chí còn phù hợp với truyền thống gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, để hạn chế tranh chấp, điều kiện này cần được ghi cụ thể trong hợp đồng: chăm sóc như thế nào; nghĩa vụ phụng dưỡng gồm những gì; có phải bảo đảm chỗ ở, chi phí sinh hoạt, thuốc men hay không; trường hợp vi phạm thì xử lý ra sao.

Một ví dụ khác, ông A tặng cho cháu B một chiếc xe ô tô với điều kiện B phải tốt nghiệp đại học trước khi nhận xe. Đây là điều kiện thực hiện trước khi tặng cho. Nếu B hoàn thành điều kiện mà ông A không giao xe thì theo Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015, ông A phải thanh toán nghĩa vụ mà B đã thực hiện. Ngược lại, nếu ông A đã giao xe cho B trước và hợp đồng ghi B phải thực hiện nghĩa vụ chăm sóc ông A sau khi nhận xe nhưng B không thực hiện thì ông A có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có căn cứ.

Điểm cần phân biệt là tặng cho có điều kiện không phải là mua bán trá hình. Trong hợp đồng mua bán, bên mua phải trả tiền hoặc lợi ích tương ứng để nhận tài sản. Trong hợp đồng tặng cho có điều kiện, bên được tặng cho có thể phải thực hiện nghĩa vụ nhưng bản chất giao dịch vẫn là tặng cho, không phải trao đổi ngang giá. Nếu trên thực tế các bên có thỏa thuận trả tiền nhưng lại lập hợp đồng tặng cho để né thuế, né nghĩa vụ tài chính hoặc che giấu giao dịch khác thì hợp đồng có thể bị xem xét là giao dịch giả tạo.

2. Điều kiện tặng cho tài sản như thế nào là hợp pháp?

Điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản phải thỏa mãn hai yêu cầu cơ bản: không vi phạm điều cấm của luậtkhông trái đạo đức xã hội. Đây là giới hạn rất quan trọng. Bên tặng cho có quyền đặt ra điều kiện nhưng không được dùng tài sản để buộc bên được tặng cho thực hiện những việc trái pháp luật, trái đạo đức hoặc xâm phạm quyền nhân thân, quyền tài sản hợp pháp của người khác.

Ví dụ, cha mẹ có thể tặng cho con nhà đất với điều kiện con phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ; phải dành một phần nhà để cha mẹ ở đến cuối đời; phải thanh toán một khoản nợ gia đình hợp pháp; hoặc phải thực hiện thủ tục hương khói, thờ cúng theo thỏa thuận phù hợp. Những điều kiện này nhìn chung có thể được xem xét nếu được ghi nhận rõ ràng, không trái luật và không làm phát sinh nghĩa vụ bất hợp pháp.

Ngược lại, nếu điều kiện tặng cho là “con phải ly hôn thì mới được nhận tài sản”, “người được tặng cho không được kết hôn với người này, người kia”, “phải thực hiện hành vi trái pháp luật”, “phải từ bỏ quyền khiếu nại, tố cáo hợp pháp” hoặc “phải giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba” thì điều kiện đó có nguy cơ bị coi là vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Khi điều kiện không hợp pháp, phần điều kiện có thể không được công nhận, thậm chí toàn bộ giao dịch có thể bị tranh chấp tùy tính chất, mục đích và nội dung hợp đồng.

Một điều kiện hợp pháp cũng cần rõ ràng và có khả năng thực hiện. Nếu hợp đồng chỉ ghi chung chung “bên được tặng cho phải sống tốt”, “phải có hiếu”, “phải cư xử đàng hoàng” thì rất khó xác định thế nào là vi phạm. Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền sẽ khó có căn cứ để đánh giá bên được tặng cho đã thực hiện hay chưa. Vì vậy, nếu muốn ràng buộc nghĩa vụ nên diễn đạt thành các hành vi cụ thể, có thể kiểm chứng được.

Ví dụ, thay vì ghi “con phải chăm sóc cha mẹ”, hợp đồng có thể ghi rõ hơn: người con có nghĩa vụ bảo đảm chỗ ở ổn định cho cha mẹ tại căn nhà được tặng cho; không được tự ý đuổi cha mẹ ra khỏi nhà; có trách nhiệm chăm sóc khi cha mẹ ốm đau trong khả năng của mình; hỗ trợ chi phí sinh hoạt hằng tháng theo mức cụ thể nếu các bên có thỏa thuận. Cách ghi càng cụ thể thì khả năng chứng minh vi phạm càng rõ.

Điều kiện tặng cho cũng không nên vượt quá quyền của bên tặng cho đối với tài sản. Nếu tài sản là tài sản chung vợ chồng, tài sản chung của hộ gia đình hoặc tài sản thuộc đồng sở hữu của nhiều người, bên tặng cho chỉ có thể định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình, trừ trường hợp có sự đồng ý hợp pháp của các đồng chủ sở hữu. Nếu một người tự ý tặng cho toàn bộ tài sản chung và đặt điều kiện đối với toàn bộ tài sản, giao dịch có thể bị tranh chấp đối với phần vượt quá quyền định đoạt.

3. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Khi xem xét hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, cần phân biệt tài sản là động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu hay bất động sản. Điều 458 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Ví dụ, một người tặng cho bạn mình một chiếc điện thoại kèm điều kiện người bạn phải hỗ trợ mình làm một công việc nhất định. Nếu hai bên không có thỏa thuận khác, hợp đồng tặng cho động sản thông thường có thể phát sinh hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản. Nhưng nếu tài sản là ô tô, xe máy hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì cần chú ý thời điểm đăng ký sang tên theo quy định.

Đối với bất động sản, Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu; hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Đối với quyền sử dụng đất, khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 quy định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ một số trường hợp luật định. Điều này có nghĩa là nếu tặng cho nhà đất có điều kiện thì các bên nên lập hợp đồng rõ ràng, công chứng hoặc chứng thực đúng quy định, sau đó thực hiện thủ tục đăng ký biến động tại cơ quan đăng ký đất đai.

Ví dụ, cha mẹ tặng cho con quyền sử dụng đất có điều kiện phụng dưỡng. Nếu chỉ viết giấy tay trong gia đình, không công chứng hoặc chứng thực, không đăng ký sang tên thì hợp đồng có thể không đủ điều kiện để thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất. Nếu đã công chứng và sang tên nhưng sau đó người con không thực hiện điều kiện phụng dưỡng, cha mẹ có thể căn cứ hợp đồng và Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 để yêu cầu đòi lại tài sản nhưng nếu bên được tặng cho không tự nguyện trả lại thì thường phải giải quyết bằng thương lượng hoặc khởi kiện tại Tòa án.

Một điểm cần lưu ý là điều kiện tặng cho có thể được thỏa thuận thực hiện trước hoặc sau khi tặng cho. Nếu điều kiện phải thực hiện trước, bên được tặng cho chỉ nhận tài sản sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ. Nếu điều kiện phải thực hiện sau, bên được tặng cho có thể nhận tài sản trước nhưng sau đó phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Việc xác định điều kiện thuộc loại nào cần ghi rõ trong hợp đồng, bởi hậu quả pháp lý của hai trường hợp này không giống nhau.

4. Hậu quả pháp lý khi không thực hiện điều kiện tặng cho

Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rất rõ hai trường hợp. Thứ nhất, nếu bên được tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Thứ hai, nếu bên được tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ví dụ về nghĩa vụ trước khi tặng cho: ông A hứa tặng cho cháu B một khoản tiền nếu B chăm sóc ông trong thời gian ông điều trị bệnh. B đã thực hiện đầy đủ việc chăm sóc theo thỏa thuận nhưng sau đó ông A không giao tiền như đã cam kết. Trường hợp này, nếu chứng minh được thỏa thuận tặng cho có điều kiện và nghĩa vụ đã được hoàn thành, B có thể yêu cầu ông A thanh toán nghĩa vụ mà B đã thực hiện theo Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015.

Ví dụ về nghĩa vụ sau khi tặng cho: cha mẹ tặng cho con một căn nhà, hợp đồng ghi rõ sau khi nhận nhà, người con phải để cha mẹ được ở trong nhà đến cuối đời và có nghĩa vụ chăm sóc khi cha mẹ ốm đau. Sau khi sang tên, người con đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Trong trường hợp này, cha mẹ có quyền yêu cầu đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có căn cứ chứng minh thiệt hại.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc “đòi lại tài sản” không phải lúc nào cũng đơn giản. Nếu tài sản là tiền hoặc động sản còn nguyên trạng, việc hoàn trả có thể thuận lợi hơn. Nhưng nếu tài sản là nhà đất đã sang tên, đã thế chấp, đã chuyển nhượng tiếp cho người khác hoặc đã phát sinh quyền lợi của bên thứ ba thì tranh chấp sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Vì vậy, khi lập hợp đồng tặng cho có điều kiện đối với nhà đất, cần cân nhắc kỹ cách ghi điều kiện, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, quyền lưu cư, quyền sử dụng một phần nhà đất hoặc cơ chế xử lý nếu bên được tặng cho vi phạm.

Một vấn đề khác là bên yêu cầu đòi lại tài sản phải chứng minh được điều kiện tặng cho và hành vi vi phạm điều kiện. Nếu hợp đồng không ghi điều kiện nhưng sau này bên tặng cho nói rằng “tôi tặng cho vì con hứa chăm sóc tôi” thì việc chứng minh sẽ khó hơn. Do đó, mọi điều kiện quan trọng nên được ghi trực tiếp trong hợp đồng tặng cho, được các bên đọc kỹ, ký, điểm chỉ và công chứng hoặc chứng thực nếu pháp luật yêu cầu.

Đối với điều kiện có tính chất kéo dài như chăm sóc, phụng dưỡng, bảo đảm chỗ ở, không bán tài sản trong một thời gian nhất định, các bên nên dự liệu rõ: vi phạm một lần có đủ căn cứ đòi lại tài sản không; phải có thông báo yêu cầu khắc phục trước hay không; thời hạn khắc phục là bao lâu; nếu có nhiều người cùng được tặng cho thì trách nhiệm từng người như thế nào. Những nội dung này không phải lúc nào pháp luật cũng quy định chi tiết nên hợp đồng càng rõ thì càng giảm rủi ro tranh chấp.

5. Tặng cho nhà đất có điều kiện cần lưu ý gì?

Tặng cho nhà đất có điều kiện là dạng giao dịch dễ phát sinh tranh chấp nhất, bởi tài sản thường có giá trị lớn, liên quan đến chỗ ở, tình cảm gia đình và quyền lợi của nhiều người. Ngoài Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 về tặng cho có điều kiện, các bên còn phải chú ý đến quy định về hình thức, công chứng, chứng thực, đăng ký đất đai, điều kiện giao dịch và nghĩa vụ tài chính.

– Trước hết, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực theo khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu hợp đồng tặng cho có điều kiện nhưng điều kiện chỉ được nói miệng, không ghi vào hợp đồng công chứng thì khi phát sinh tranh chấp, bên tặng cho sẽ gặp khó khăn trong việc chứng minh điều kiện là một phần của giao dịch.

– Thứ hai, nếu cha mẹ tặng cho nhà đất cho con với điều kiện phụng dưỡng nên ghi rõ quyền của cha mẹ sau khi tặng cho. Ví dụ, cha mẹ có tiếp tục được ở trong nhà không; ở toàn bộ hay một phần; có được đăng ký thường trú, tạm trú không; người con có được bán, thế chấp, cho thuê nhà đất khi cha mẹ còn sống không; nếu muốn bán thì có cần cha mẹ đồng ý không. Nếu chỉ ghi “phải phụng dưỡng cha mẹ” mà không ghi quyền lưu cư, quyền sử dụng chỗ ở thì sau này rất dễ tranh chấp.

– Thứ ba, cần xác định rõ tài sản tặng cho là tài sản riêng hay tài sản chung. Nếu nhà đất là tài sản chung vợ chồng, cả hai vợ chồng phải cùng tham gia hợp đồng tặng cho, trừ trường hợp có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của một người. Nếu nhà đất liên quan đến hộ gia đình, đồng sở hữu hoặc quyền lợi của người khác thì phải xem xét đầy đủ chủ thể có quyền định đoạt. Tặng cho có điều kiện không thể làm mất quyền của người đồng sở hữu không tham gia giao dịch.

– Thứ tư, cần lưu ý nghĩa vụ thuế, lệ phí. Với nhà đất tặng cho giữa một số quan hệ thân thích như vợ chồng, cha mẹ với con, cha mẹ nuôi với con nuôi, cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ vợ với con rể, ông bà với cháu, anh chị em ruột với nhau, pháp luật có quy định miễn lệ phí trước bạ trong những trường hợp đáp ứng điều kiện. Nghị định 10/2022/NĐ-CP là văn bản hiện hành quy định về lệ phí trước bạ và có hiệu lực từ ngày 01/3/2022. Tuy nhiên, để được miễn, các bên phải có giấy tờ chứng minh quan hệ phù hợp và vẫn phải thực hiện kê khai theo yêu cầu của cơ quan thuế, cơ quan đăng ký.

– Thứ năm, không nên dùng hợp đồng tặng cho có điều kiện để che giấu giao dịch mua bán nhà đất. Ví dụ, hai bên thực tế mua bán nhà đất có giao tiền nhưng lại lập hợp đồng tặng cho để giảm thuế hoặc tránh sự đồng ý của người có quyền lợi liên quan. Khi có tranh chấp, giao dịch có thể bị xem xét bản chất thật, thậm chí bị tuyên vô hiệu nếu có căn cứ về giao dịch giả tạo, trốn tránh nghĩa vụ hoặc vi phạm điều cấm của luật.

6. Có được đòi lại tài sản đã tặng cho có điều kiện không?

Về nguyên tắc, nếu hợp đồng tặng cho có điều kiện hợp pháp và điều kiện phải thực hiện sau khi tặng cho nhưng bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để bên tặng cho bảo vệ quyền lợi của mình khi bên nhận tài sản vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.

Tuy nhiên, muốn đòi lại tài sản, bên tặng cho cần chứng minh ít nhất ba vấn đề: có hợp đồng tặng cho tài sản; hợp đồng có điều kiện hợp pháp; bên được tặng cho không thực hiện hoặc thực hiện không đúng điều kiện. Nếu thiếu một trong các căn cứ này, yêu cầu đòi lại tài sản có thể không được chấp nhận.

Ví dụ, cha mẹ tặng cho con nhà đất nhưng hợp đồng công chứng chỉ ghi “tặng cho không điều kiện”, không có điều khoản về phụng dưỡng, không có văn bản nào khác chứng minh nghĩa vụ của người con. Sau khi sang tên, người con không chăm sóc cha mẹ. Về đạo lý, hành vi của người con có thể bị lên án nhưng về pháp lý, việc đòi lại tài sản theo Điều 462 sẽ khó hơn vì hợp đồng không thể hiện điều kiện tặng cho.

Ngược lại, nếu hợp đồng công chứng ghi rõ bên được tặng cho có nghĩa vụ để cha mẹ ở trong nhà đến cuối đời, chăm sóc khi ốm đau, không được chuyển nhượng nhà đất nếu cha mẹ không đồng ý; sau đó người con đuổi cha mẹ ra khỏi nhà và bán tài sản cho người khác thì bên tặng cho có căn cứ rõ hơn để yêu cầu bảo vệ quyền lợi. Dù vậy, nếu tài sản đã chuyển dịch cho bên thứ ba, vụ việc có thể phải xem xét thêm quyền lợi của người thứ ba, tình trạng đăng ký, việc biết hay không biết về điều kiện và các chứng cứ cụ thể.

Do đó, câu trả lời chính xác là: có thể đòi lại tài sản đã tặng cho có điều kiện nếu bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho và điều kiện đó hợp pháp, được chứng minh rõ ràng. Nhưng trong thực tế, để đòi lại được tài sản, đặc biệt là nhà đất đã sang tên, thường phải có hồ sơ, chứng cứ đầy đủ và có thể phải khởi kiện tại Tòa án nếu bên được tặng cho không tự nguyện trả lại.

7. Kinh nghiệm lập hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện để hạn chế tranh chấp

– Kinh nghiệm đầu tiên là phải ghi điều kiện trực tiếp trong hợp đồng. Điều kiện tặng cho càng quan trọng thì càng không nên chỉ thỏa thuận miệng. Nếu hợp đồng tặng cho nhà đất được công chứng, điều kiện nên được thể hiện rõ trong hợp đồng công chứng. Nếu điều kiện nằm ở một giấy viết tay riêng, thư cam kết riêng hoặc lời nói riêng, việc chứng minh về sau sẽ khó hơn.

– Kinh nghiệm thứ hai là điều kiện phải cụ thể, hợp pháp và có khả năng kiểm chứng. Thay vì ghi “phải chăm sóc tử tế” nên ghi cụ thể nghĩa vụ về chỗ ở, chi phí sinh hoạt, chăm sóc khi đau ốm, quyền sử dụng nhà, quyền lưu cư, thời hạn thực hiện, trường hợp vi phạm và hậu quả pháp lý. Hợp đồng càng rõ, cơ quan giải quyết tranh chấp càng có căn cứ đánh giá.

– Kinh nghiệm thứ ba là không đặt điều kiện xâm phạm quyền nhân thân hoặc trái đạo đức xã hội. Tặng cho có điều kiện không có nghĩa là bên tặng cho được can thiệp tùy tiện vào quyền kết hôn, ly hôn, lựa chọn nơi ở, lựa chọn nghề nghiệp hoặc các quyền nhân thân hợp pháp khác của bên được tặng cho. Điều kiện nên gắn với tài sản, nghĩa vụ chăm sóc, nghĩa vụ tài chính hoặc mục đích tặng cho hợp pháp, không nên biến hợp đồng tặng cho thành công cụ ép buộc đời sống cá nhân.

– Kinh nghiệm thứ tư là dự liệu trước hậu quả khi vi phạm. Nếu bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ, tài sản sẽ được trả lại như thế nào; nếu tài sản đã đăng ký sang tên thì ai chịu chi phí; nếu tài sản đã bị hư hỏng, giảm giá trị thì bồi thường ra sao; nếu tài sản đã được đầu tư, xây dựng thêm thì xử lý thế nào. Những vấn đề này nếu không được dự liệu trước sẽ khiến tranh chấp phức tạp hơn.

– Kinh nghiệm thứ năm là cân nhắc lựa chọn giải pháp pháp lý khác nếu mục tiêu là bảo đảm chỗ ở hoặc phụng dưỡng lâu dài. Trong nhiều trường hợp, thay vì tặng cho toàn bộ nhà đất ngay lập tức, cha mẹ có thể lập di chúc, tặng cho một phần, thỏa thuận quyền lưu cư, giữ lại quyền sử dụng một phần tài sản hoặc chỉ sang tên khi điều kiện đã hoàn thành. Việc chọn tặng cho, di chúc, chuyển nhượng hay thỏa thuận khác cần dựa vào mục tiêu thực tế và mức độ tin cậy giữa các bên.

– Kinh nghiệm thứ sáu là giữ đầy đủ chứng cứ trong quá trình thực hiện điều kiện. Nếu điều kiện là phụng dưỡng, chăm sóc, hỗ trợ chi phí nên có tài liệu chứng minh việc thực hiện hoặc không thực hiện: tin nhắn, giấy chuyển tiền, xác nhận chi phí, tài liệu y tế, lời khai người làm chứng, biên bản làm việc ở địa phương nếu có. Khi tranh chấp xảy ra, chứng cứ thường quyết định khả năng bảo vệ quyền lợi.

Kết luận

Tặng cho tài sản có điều kiện là giao dịch được pháp luật dân sự thừa nhận, cho phép bên tặng cho yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Căn cứ pháp lý trung tâm là Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; nếu nghĩa vụ phải thực hiện trước mà bên được tặng cho đã hoàn thành nhưng bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ đã thực hiện; nếu nghĩa vụ phải thực hiện sau mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đối với nhà đất, hợp đồng tặng cho còn phải tuân thủ quy định về công chứng, chứng thực, đăng ký sang tên và điều kiện giao dịch theo pháp luật đất đai. Để hạn chế tranh chấp, các bên nên ghi điều kiện thật rõ trong hợp đồng, bảo đảm điều kiện hợp pháp, có khả năng thực hiện, có chứng cứ chứng minh và nên cân nhắc kỹ trước khi tặng cho tài sản có giá trị lớn.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?

Đã có 702 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Vui lòng liên hệ hotline: 1900.0164 nếu cần hỗ trợ khẩn cấp!

Phản hồi

  1. Thanks for a marvelous posting! I genuinely enjoyed reading it, you happen to be a great author.I will always bookmark your blog and will eventually come back very soon. I want to encourage you to definitely continue your great job, have a nice weekend!

  2. Thanks for every other magnificent post. The place else may just anyone get that kind of information in such a perfect way of writing? I have a presentation subsequent week, and I am at the look for such info.