Quan điểm về tội phạm của một số nước trong bối cảnh toàn cầu hóa

Chuyên mụcLuật hình sự, Thảo luận pháp luật, Tội phạm học Tội phạm

Các quốc gia đều xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm luôn đi ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong mỗi thời kỳ khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến đổi cả về nội dung lẫn hình thức. Thế kỷ 21 đã xuất hiện những hình thức biến tướng mới của tội phạm. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm và có giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm luôn được các quốc gia ưu tiên quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Bài viết tổng hợp một số quan điểm mới về tội phạm và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay của một số nước.

1. Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống tội phạm ở Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa

a) Quan điểm về tội phạm

Phân tích các quan điểm về tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa của các quốc gia thuộc nhóm này, có thể rút ra một số kết luận:

Thứ nhất, tất cả các quốc gia này trong bối cảnh toàn cầu hóa đều không đề cập về bản chất giai cấp của tội phạm. Họ cho rằng, tội phạm chỉ là một hiện tượng xã hội tiêu cực, có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong. Vì nó mang bản chất tiêu cực luôn đe dọa và gây ra những thiệt hại cho xã hội, do vậy cần được quy định cấm trong luật hình sự để làm cơ sở đấu tranh loại trừ.

Thứ hai, các quốc gia này đều xác định, một người khi thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm đã được ghi nhận trong Luật Hình sự thì mới bị coi là tội phạm. Điều này có nghĩa, tội phạm được xác định trên nguyên tắc: không có luật thì không có tội và “trong luật không có tội phạm thì không có hình phạt”.

Thứ ba, đa số đều thừa nhận trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều loại tội phạm phát triển quá nhanh, có lúc ngoài tầm kiểm soát của nhà nước, cho nên, không thể tránh khỏi những hậu quả nhất định mà tội phạm gây ra. Đồng thời, các quốc gia nói trên đều xác định một số loại tội phạm như: tội phạm ma túy; tội phạm rửa tiền; tội phạm xâm phạm sở hữu sử dụng công nghệ cao; tội phạm khủng bố; tội phạm có tổ chức; tội phạm buôn bán người hiện nay là những tội phạm nguy hiểm nhất cần tập trung đấu tranh và xác định, những tội phạm này trong bối cảnh toàn cầu hóa rất dễ trở thành tội phạm “không biên giới”.

Thứ tư, cùng chung quan điểm mới về tội phạm là phải chịu hình phạt, nhưng không ghi nhận biện pháp trừng trị và phòng ngừa triệt để – đó là áp dụng hình phạt tử hình, nên đã cố gắng loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi hệ thống hình phạt. Đồng thời, tư nhân hóa nhà tù nhằm xã hội hóa hình thức cải tạo người phạm tội. Công tác thống kê tội phạm vẫn trung thành với lý thuyết thống kê theo hành vi phạm tội chứ không theo số vụ án hình sự, nghĩa là, trong mỗi vụ án hình sự, có bao nhiêu hành vi nguy hiểm do chủ thể tội phạm gây ra mà tương ứng với mỗi tội phạm được quy định trong Luật Hình sự thì được coi đó là một tội phạm đã xảy ra. Cơ quan bảo vệ pháp luật xác nhận đó là hành vi phạm tội, đăng ký vào sổ báo cáo, ghi nhận một tội phạm đã xảy ra. Vì vậy, thống kê hàng năm của mỗi quốc gia nói trên thường lên đến hàng triệu tội phạm/năm.

 

b) Quan điểm về giải pháp phòng ngừa

Xuất phát từ những quan điểm trên về tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia nói trên đều có chung quan điểm là:

Một là, các cơ quan bảo vệ pháp luật của mỗi quốc gia phải thường xuyên bám sát thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, kịp thời phát hiện những phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, đề xuất kịp thời sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật hình sự, hoàn thiện hệ thống pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong trường hợp chưa kịp ban hành quy phạm pháp luật thì có thể cho phép các cơ quan tư pháp áp dụng nguyên tắc tương tự,  xác định sự tương đồng giữa hoàn cảnh thực tế cuộc sống và những quy phạm phạm pháp luật tương tự. Linh hoạt thực hiện hai phương pháp khắc phục những lỗ hổng trong pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, đó là áp dụng luật và pháp luật tương tự.

Hai là, do tính chất phức tạp của nhiều loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia, nên các quốc gia này luôn chú ý việc tăng cường cơ sở vật chất cho lực lượng chuyên trách bảo vệ pháp luật với những trang thiết bị hiện đại, đầu tư ngân sách cho các lực lượng đấu tranh phòng, chống tội phạm là ưu tiên số một, trong đó có cả vấn đề lương bổng và chế độ ưu đãi, tinh nhuệ lực lượng bảo vệ pháp luật từ cơ sở đến trung ương và cả các bộ phận phục vụ, các đơn vị nghiên cứu, đào tạo.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương trên cơ sở các hiệp ước và điều ước quốc tế về đấu tranh, phòng chống tội phạm, thường xuyên trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia với nhau trong khu vực và trên thế giới về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

2. Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống một số loại tội phạm ở Liên bang Nga, Trung Quốc trong tình hình hiện nay

a) Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống một số loại tội phạm ở Liên bang Nga

Quan điểm về tội phạm: Quan điểm thứ nhất cho rằng, những hiện tượng tiêu cực mới nổi lên như khiêu dâm, lạm dụng tình dục trẻ em, sử dụng ma túy, mại dâm nam… và những hành vi phạm tội mới du nhập vào Nga như sử dụng công nghệ cao để phạm tội, mua bán người và bộ phận cơ thể người, tội phạm rửa tiền, mua bán ma túy tổng hợp và tổ chức sử dụng ma túy, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia… đó là những “tội phạm mới” hoặc đó là “tội phạm không mang tính truyền thống”. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng, những dạng hành vi nêu trên, trước đây trong lòng xã hội Xô viết không có mà chỉ xuất hiện khi nước Nga chuyển sang chế độ mới với nền kinh tế thị trường. Chính những “tội phạm không mang tính truyền thống” như vậy xuất hiện đã làm cho các cơ quan bảo vệ pháp luật không kịp thích nghi để kiểm soát chúng, đồng nghĩa với việc các nhà lập pháp cũng không kịp nhận diện để bổ sung vào trong luật, và đương nhiên, hệ thống luật của Liên bang Nga về đấu tranh chống tội phạm trở nên lạc hậu, có nhiều lỗ hổng1.

Quan điểm thứ hai cho rằng, tất cả những hiện tượng tiêu cực, dù có nguy hiểm đến đâu cho xã hội, nếu không được quy định trong luật hình sự Liên bang Nga thì không thể coi đó là “tội phạm mới”, bởi tội phạm phải được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) Liên bang và chỉ một người phạm một tội được quy định trong BLHS Liên bang thì mới bị coi là tội phạm (Điều 5 BLHS Liên bang Nga 1996). Đồng thời, quan điểm này cho rằng, những tội phạm đang có xu hướng gia tăng ở nước Nga hiện nay với những thủ đoạn tinh vi xảo quyệt nhờ sử dụng công nghệ cao hoặc mới có sự biến tướng du nhập từ nước ngoài vào như lừa đảo qua mạng internet, qua sàn chứng khoán, buôn bán người, mua bán ma túy, tham nhũng, trốn thuế dưới nhiều hình thức khác nhau… là hình thức “phạm tội mới” mà không thừa nhận đó là “tội phạm không mang tính truyền thống”2. Bởi “tội phạm không mang tính truyền thống” là loại tội phạm đã được quy định trong luật hình sự nhưng thực tế ít xảy ra, thậm chí nhiều năm không xảy ra vụ án nào. Còn tội phạm nào mà thực tế xảy ra nhiều, kể cả với những phương thức thủ đoạn mới tinh vi thì được coi là “tội phạm mang tính truyền thống”3.

Quan điểm về giải pháp đấu tranh phòng, chống với tội phạm hình sự trong bối cảnh toàn cầu hóa của Nhà nước Liên bang Nga: Trên cơ sở biện giải và tổng hợp hai quan điểm về tội phạm nói trên, Quốc hội Liên bang đã thống nhất với quan điểm thứ hai rằng: những hiện tượng tiêu cực mà không được quy định trong BLHS thì không thể coi là “tội phạm mới” hoặc những hành vi biến tướng mới của tội phạm mà tội phạm đó đã được quy định trong BLHS thì coi là “hành vi phạm tội mới” hoặc là “hành vi phạm tội không mang tính truyền thống”4. Ngày 13/5/2008, Quốc hội Liên bang Nga đã họp và quyết định sửa đổi bổ sung BLHS 1996 nhằm giải quyết những vấn đề đấu tranh chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Trên cơ sở Nghị quyết số 63 của Quốc hội Liên bang Nga về sửa đổi BLHS 1996 và một số văn bản chỉ đạo của các cơ bảo vệ pháp luật Nga, có thể tổng hợp một số quan điểm cơ bản mang tính chính sách hình sự quốc gia của Nhà nước Nga trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự hiện nay trên một số phương diện sau:

Thứ nhất, tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính chất hình sự – pháp lý, bởi thế nó chịu sự tác động sâu sắc của ý thức pháp quyền. Ý thức pháp quyền thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội, được thể hiện bằng pháp luật, nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong cộng đồng xã hội nhất định. Sự điều chỉnh đó luôn mang tính cưỡng chế thông qua hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trong một xã hội nếu có hệ thống pháp luật đầy đủ, pháp luật được thực hiện nghiêm minh, mọi công dân đều có ý thức tuân thủ pháp luật thì sẽ hạn chế được các hành vi phạm tội. Ngược lại, pháp luật không đầy đủ, thiếu đồng bộ, không được tôn trọng và thực hiện không nghiêm minh sẽ có nguy cơ làm tăng tình hình tội phạm. Chính vì vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang Nga cần thường xuyên cải tổ, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về phòng, chống tội phạm; thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ  phòng chống tội phạm trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga.

Thứ hai, để ngăn chặn tình trạng tội phạm, cần thiết phải có sức mạnh của Nhà nước. Vì vậy, phải nâng cao vai trò của Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhà nước cần phải cải cách kinh tế và xã hội, bắt đầu từ việc bảo đảm thi hành những tuyên bố trong Hiến pháp Liên bang Nga năm 1992 về bảo đảm các giá trị của con người, quyền và sự tự do của công dân. Đóng vai trò quan trọng của việc thi hành các yêu cầu này có thể chính là cơ quan tự quản địa phương theo mô hình cơ quan tự quản địa phương ở Liên bang Nga hiện nay.

Thứ ba, các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang Nga cần phải xác định rõ ràng con đường và phương pháp tương xứng giữa pháp luật hình sự với nguyên tắc phòng ngừa xã hội của khoa học tội phạm học; hoàn thiện tính hiện thực cơ bản, cân nhắc (tính toán) sự đánh giá chính xác tình hình, khả năng, quy luật và khuynh hướng phát triển xã hội, các biện pháp mang tính cụ thể, chiến lược về việc kiềm chế tội phạm. Xã hội cần phải được tiếp nhận những bảo đảm giúp đỡ có cơ sở của những văn bản chính sách hình sự và phải được xác định phù hợp với quan điểm bảo đảm an ninh quốc gia của Liên bang Nga đối với chiến lược đấu tranh chống tội phạm hình sự.

Thứ tư, các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang cần thiết phải có mức độ quản lý mới, có sức mạnh và hiệu lực trên mặt trận chống tội phạm hình sự; củng cố tăng cường mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và cấu trúc xã hội công dân, hoạt động phối hợp với tất cả các nhánh quyền lực, sự phối hợp không chỉ trong phạm vi hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn cả trong các cơ quan chính quyền – hành chính ở mức độ trong các chủ thể liên bang, khu vực liên bang, cũng như trên phạm vi cả nước.

Thứ năm, Quốc hội Liên bang và Chính phủ Nga khi ban hành các văn bản luật hay văn bản về chính sách pháp luật hình sự phải xác định những nguyên tắc (cơ sở) chính sách nhà nước trong phạm vi đấu tranh với tội phạm; trong trường hợp văn bản được ban hành ở mức độ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cần phải trở thành văn bản có hiệu lực dài hạn, ổn định mà khi thi hành sẽ bảo đảm (tạo điều kiện) thống nhất nỗ lực của chính quyền và sức mạnh xã hội đối với các phương hướng, mục tiêu đối phó với cả những hiện tượng xã hội tiêu cực nảy sinh và cuối cùng là khắc phục tình hình tội phạm hình sự trầm trọng hiện nay ở Liên bang Nga5.

Thứ sáu, các biện pháp đấu tranh của Liên bang Nga với mafia: trước tình hình hoạt động của tội phạm có tổ chức kiểu mafia, Bộ Nội vụ Liên bang Nga đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và các lực lượng đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức, thành lập bộ phận thường trực, chỉ đạo về nghiệp vụ, rà soát lại hệ thống tổ chức các lực lượng này. Bộ Nội vụ Liên bang đã thống nhất tổ chức các bộ phận đấu tranh chống tội phạm có tổ chức. Theo quyết định này, cơ cấu tổ chức của lực lượng đấu tranh chống tội phạm có tổ chức bao gồm: Tổng cục đấu tranh chống tội phạm có tổ chức thuộc Bộ Nội vụ Liên bang; các Cục Liên vùng đấu tranh chống tội phạm có tổ chức thuộc Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ thành phố, tỉnh thuộc Liên bang. Trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga đã có 10 Cục liên vùng và 67 phòng ở các địa phương làm các công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức6.

Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bằng việc ban hành chính sách cho phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật Liên bang Nga. Trong số đó, kế hoạch mang tính quốc tế rất quan trọng là phải thể hiện được Nhà nước Nga trực tiếp và tuyên bố rõ ràng cho cộng đồng quốc tế về sự không khoan nhượng của mình đối với tội phạm, trong đó có tội phạm xuyên quốc gia, về quyết tâm sẵn sàng đấu tranh đến cùng với các loại tội phạm nói chung, tội phạm tham nhũng, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và mafia nói riêng ở Liên bang Nga và trên thế giới7.

 

b) Quan điểm về tội phạm của Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Quan điểm về tội phạm: Điều 14 của BLHS Trung Quốc (1997) đã định nghĩa tội phạm như sau: Tất cả các hành vi gây nguy hiểm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của quốc gia, chia rẽ quốc gia, phá hoại quyền lực chính trị của chuyên chính dân chủ nhân dân và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoại trật tự kinh tế và xã hội; xâm phạm tài sản sở hữu của Nhà nước hoặc của tập thể quần chúng lao động, xâm phạm tài sản của công dân; xâm phạm quyền cá nhân, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân; và các hành vi khác gây nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm nếu theo luật những hành vi này cần phải xử lý bằng hình sự. Tuy nhiên, nếu trong những hoàn cảnh rõ ràng là nhỏ và thiệt hại của các hành vi gây ra là không lớn, thì những hành vì này không bị coi là tội phạm.

Hiện nay, Trung Quốc cũng như hầu hết các nước trên thế giới không đưa ra khái niệm tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trái lại, các nước này đã đưa khái niệm về các vấn đề an ninh truyền thống và vấn đề an ninh phi truyền thống trên cơ sở xem xét đánh giá về lợi ích quốc gia, sự nguy hại đối với xã hội và quyền con người trong bối cảnh các quốc gia, dân tộc trên thế giới có mục tiêu và các bước phát triển chung về hiện đại hóa nền kinh tế; có chung động cơ thúc đẩy hội nhập quốc tế và khu vực; và những yêu cầu về giải quyết các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống nói chung hay an ninh xã hội, an ninh môi trường, an ninh con người nói riêng.

Đây chính là cơ sở nền tảng để xác định hành vi nào là hành vi phạm tội, đồng thời cũng là điều kiện để mở rộng phạm vi xác định của hành vi phạm tội đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội ở bên ngoài Trung Quốc hoặc có liên quan đến những vấn đề toàn cầu khác (ví dụ như việc điều chỉnh của luật đối với những người Trung Quốc ở nước ngoài khác với người gốc Trung Quốc ở nước ngoài như thế nào). Trung Quốc đã nêu ra hàng loạt các vấn đề an ninh phi truyền thống đã và đang bộc lộ ra các diện mạo mới. Những vấn đề này bao gồm các hiện tượng như: sự gia tăng của tội phạm buôn bán ma túy và cướp biển, nguy cơ về ô nhiễm hạt nhân, sự gia tăng của hạt nhân và chuyển giao công nghệ về vũ khí hủy diệt hàng loạt, sự thiếu hụt và yếu kém của hệ thống tài chính tiền tệ, các bệnh truyền nhiễm như AIDS, cúm gà và bệnh suy giảm đường hô hấp (SARC), cũng như sự chuyên quyền và tham nhũng của các quan chức chính phủ trong quá trình đổi mới nền kinh tế xã hội…

Theo đó, Trung Quốc đã đưa ra quan niệm về sự biến đổi đa dạng và phức tạp của tội phạm cũng như là cơ sở để xác định sự xuất hiện những loại tội phạm mới. Một số loại tội phạm trước đây xuất hiện với những hình thức mới nghiêm trọng hơn, trong khi một số loại tội phạm khác lại giảm đi hoặc trở nên ít nghiêm trọng hơn, nhường chỗ cho một số loại tội phạm mới ra đời như tội phạm rửa tiền, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tội phạm lừa đảo kinh tế tài chính quốc tế… Trong vấn đề này, một số nghiên cứu cho thấy, ở Trung Quốc, thời gian qua tội phạm có động cơ kinh tế gia tăng ở tỉ lệ cao hơn tội phạm bạo lực trên đường phố. Những tội phạm lừa đảo và tiền giả hoặc tội phạm gây thiệt hại tài chính lớn thì có tốc độ phát triển tăng nhanh hơn các tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm bạo  lực… Về mặt thực tiễn, mặc dù Trung Quốc vẫn là một trong số nước trên thế giới có tỷ lệ tội phạm thấp, nhưng thời gian qua, tình hình tội phạm vẫn liên tục tăng. Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang đề ra nhiều biện pháp phòng chống những tội phạm cụ thể trong chiến lược tổng thể giải quyết hàng loạt các vấn đề như tội phạm, khủng bố, bệnh dịch, thiên tai… trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Quan điểm về giải pháp phòng ngừa: Trước tình trạng tội phạm có tổ chức phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức:

– Đấu tranh mạnh mẽ chống loại tội phạm này và tập trung vào việc phòng ngừa. Công an các cấp đã đặc biệt quan tâm tới hậu quả nghiêm trọng của tội phạm có tổ chức đối với an ninh xã hội; tập trung nghiên cứu luật pháp, các đặc điểm và xu hướng của tội phạm có tổ chức, kiên quyết tuân theo những phương châm “sớm còn hơn muộn”, “tấn công tốt hơn là bảo vệ”, “nghiêm khắc tốt hơn và bóp chết từ trong trứng”. Ở những khu vực tội phạm có tổ chức chiếm ưu thế, cảnh sát tập trung thời gian và lực lượng để đấu tranh triệt để. Ngăn cản sự phát triển của loại tội phạm này.

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nghiêm khắc trừng phạt những tên tội phạm có tổ chức. Ngành lập pháp Trung Quốc đã bổ sung các điều khoản về chống tội phạm có tổ chức trong BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mới được sửa đổi. Các điều khoản này nhấn mạnh việc trừng phạt nghiêm minh những tên cầm đầu các nhóm tội phạm có tổ chức. Ngoài ra, một số địa phương đã có những quy định của mình về phòng chống tội phạm có tổ chức. Sự tham gia của nhân dân trong việc đấu tranh chống tội phạm có tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc. Vì vậy, lực lượng Công an Trung Quốc tăng cường việc tuyên truyền để làm cho công chúng nhận biết bộ mặt thực và các thủ đoạn thường xuyên của tội phạm có tổ chức và tăng cường khả năng chống lại chúng. Ngoài ra, các cơ quan công an còn tăng cường bảo vệ nạn nhân và người làm chứng để mở rộng thu thập dấu vết và bằng chứng của loại tội phạm này.

– Thành lập các cơ quan chuyên trách chống tội phạm có tổ chức và nhấn mạnh việc đào tạo chuyên môn. Qua đó, các điều tra viên phải hiểu rõ đặc điểm và phương thức hoạt động của tội phạm có tổ chức. Họ cũng phải hiểu và vận dụng luật pháp để điều tra các vụ án có hiệu quả và trừng phạt những tên tội phạm, đặc biệt là những tên cầm đầu một cách nghiêm khắc. Vì vậy, việc thành lập các cơ quan đặc biệt chống tội phạm có tổ chức, huấn luyện các biện pháp phát hiện đấu tranh và nâng cao hiểu biết về luật pháp cho điều tra viên là rất cần thiết.

– Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và đề phòng việc xâm nhập vào lục địa của các “tổ chức xã hội đen” nước ngoài. Đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là một công việc quan trọng trong hợp tác giữa cảnh sát Trung Quốc và nước ngoài, trong đó có hợp tác với ngành Công an Việt Nam.

Chính phủ Trung Quốc đã có các chính sách rõ ràng về đấu tranh chống sự xâm nhập của các tổ chức tội phạm nước ngoài và tuân theo ba nguyên tắc: thứ nhất, không cho phép phát triển các tổ chức bất hợp pháp ở lục địa, một khi đã phát hiện ra thì phải ngăn chặn triệt để; thứ hai, không cho phép tồn tại ở lục địa như là một “bến cảng an toàn” để bọn tội phạm nước ngoài trốn tránh; thứ ba, bất cứ hoạt động tội phạm nào xảy ra ở lục địa sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc theo BLHS Trung Quốc. Trong những năm qua, Công an Trung Quốc đã thường xuyên hợp tác rộng rãi với công an, cảnh sát các nước và khu vực hợp tác đấu tranh chống các tổ chức tội phạm nước ngoài xâm nhập vào Trung Quốc và tội phạm có tổ chức Trung Quốc hoạt động ở nước ngoài. Sự hợp tác này bao gồm trao đổi thông tin về tội phạm, tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ tội phạm, cùng phối hợp điều tra các vụ tội phạm có tổ chức. Thông qua việc trao đổi thông tin tội phạm có thể tìm ra xu hướng của tội phạm có tổ chức trong nước và nước ngoài, sau đó kiểm soát các hoạt động có tổ chức tội phạm. Nhờ sự phối hợp và tương trợ tư pháp, Trung Quốc đã bắt gọn nhiều thành viên của các tổ chức tội phạm đang bị các cơ quan nước ngoài truy nã và đưa chúng ra xét xử. Công an Trung Quốc cũng đã cử các điều tra viên tới một số nước theo lời mời của họ để cùng phối hợp đấu tranh chống tội phạm có tổ chức, đồng thời tham gia các hội nghị quốc tế về tội phạm có tổ chức để tăng cường trao đổi thông tin và kinh nghiệm đấu tranh.

 

3. Kiến nghị hoàn thiện chính sách hình sự ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các quan điểm mới về tội phạm và các quan điểm về phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của một số nước trên thế giới nói trên, chúng ta cần thiết phải nghiên cứu và học tập một số kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, trong cả lý luận và thực tiễn, chúng ta luôn thừa nhận tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực và luôn mang bản chất giai cấp. Đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, với xu thế hoạt động của một số tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, đã vượt ra tầm kiểm soát của biên giới quốc gia, chúng ta phải xác định và dự báo chính xác về các phương thức thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm và các tổ chức tội phạm du nhập vào Việt Nam, để chủ động xây dựng hệ thống biện pháp phòng ngừa đấu tranh.

Thứ hai, tiếp tục và cần thiết phải giữ hình phạt chung thân và hình phạt tử hình trong BLHS. Xét về mọi phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta chưa cho phép loại bỏ hai loại hình phạt này. Đối với hình phạt tử hình, từng loại tội phạm nên đưa hình phạt này vào hay không là do yêu cầu và hiệu quả đấu tranh. Có thể tham khảo kinh nghiệm một số nước: (1) BLHS Trung Quốc chỉ có 7 tội danh có hình phạt tử hình, thậm chí, nhiều tội xâm phạm an ninh quốc gia và một số tội phạm tham nhũng không có hình phạt tử hình, nhưng nhiều đối tượng phạm một trong các tội phạm ở nhóm này vẫn bị tử hình. Bởi vì, cuối mỗi chương tội phạm đều có điều luật quy định hình phạt bổ sung và cho phép các thẩm phán áp dụng “nguyên tắc tương tự” trong xử lý tội phạm hình sự. Cho nên, về hình thức BLHS Trung Quốc rất ít tội danh có án tử hình – đây là một nghệ thuật xây dựng luật và có tác dụng phòng ngừa rất cao; (2) BLHS Liên bang Nga, trong hệ thống hình phạt vẫn có tử hình, nhưng 10 năm nay Nga không áp dụng hình phạt này. Tuy nhiên, họ không loại bỏ hình phạt này mà vẫn để trong BLHS, mặc dù từ 1999 đến nay đã sửa đổi 4 lần. Thay vào đó, Quốc hội ra nghị quyết hoãn áp dụng hình phạt tử hình. Việc duy trì nhưng không áp dụng hình phạt này có tính chất phòng ngừa rất cao. Chúng ta cần nghiên cứu và có thể nên học kinh nghiệm trong vấn đề xây dựng và áp dụng hình thức hình phạt này trong BLHS. Cần tiếp tục duy trì hình phạt tử hình đối với một số tội phạm nguy hiểm theo tinh thần sửa đổi của BLHS năm 2009. Tuy nhiên, hạn chế tới mức thấp nhất việc áp dụng hình phạt này trong một số trường hợp và để làm được điều này, chúng ta cần cân nhắc và hoàn thiện chế định tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) trong BLHS làm căn cứ quyết định hình phạt chính xác.

Thứ ba, thay đổi hình thức hoàn thiện pháp luật hình sự, bằng việc hàng năm Quốc hội nên đưa chương trình hoàn thiện pháp luật hình sự vào một kỳ họp của Quốc hội. Tại kỳ họp đó, Quốc hội sẽ xem xét, thảo luận nên sửa hay không sửa, bổ sung hay không nên bổ sung vào BLHS những hành vi nguy hiểm đang tồn tại, phát triển là tội phạm hay không phải là tội phạm, để có chế tài xử lý nghiêm khắc; đồng thời loại bỏ hay không loại bỏ những quy định không cần thiết cũng như những hành vi không còn tính chất nguy hiểm cho xã hội ra khỏi BLHS, thay vào đó sẽ được điều chỉnh bằng chế tài hành chính.

Thứ tư, nên xem xét và nâng mức tuổi chịu TNHS, cũng như đưa vào trong BLHS vấn đề TNHS đối với pháp nhân.

– Trong những năm gần đây, tội phạm do người chưa thành niên gây ra ngày một gia tăng, thậm chí có nơi có lúc ở mức báo động. Nhiều vụ phạm tội do đối tượng này gây ra đặc biệt nghiêm trọng. Mức độ đáng lo ngại ở đây là nhiều đối tượng phạm tội ở lứa tuổi dưới 14 (tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS hiện hành). Qua khảo sát cho thấy, các vụ vi phạm pháp luật hình sự chiếm tới 62% các em ở lứa tuổi từ 12 đến dưới 14 tuổi, trong đó có nhiều vụ giết người, hiếp dâm, cướp tài sản. Nhiều em khi được hỏi về động cơ và nhận thức hành vi của mình đã trả lời: pháp luật không xử lý người dưới 14 tuổi phạm các tội này nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vấn đề đặt ra, cần thiết phải sửa đổi BLHS quy định lại mức độ tuổi chịu TNHS để phòng ngừa và xử lý đối với loại chủ thể này.

Khẩn trương quy định thiết chế TNHS đối với pháp nhân vào BLHS, bởi nhiều năm qua, hai loại tội phạm đang lợi dụng lỗ hổng này trong pháp luật hình sự  là (1) tội phạm trốn thuế, theo thống kê của Tổng cục Thuế, hầu hết (85%) các doanh nghiệp nhà nước luôn ở trong tình trạng “nợ đọng thuế” nhiều năm; (2) tội phạm môi trường, theo báo cáo của Cục C36 – Bộ Công an và Bộ Tài nguyên Môi trường, ở nước ta có 97% các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ vi phạm về môi trường. Nhưng cả hai tội phạm trên hầu như không xử lý được vì lý do “cả tập thể vi phạm”, không quy kết TNHS cho cá nhân người đứng đầu, do vậy tập thể phải gánh chịu, nhưng pháp luật hình sự không quy định TNHS đối với tập thể (pháp nhân), do đó, các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực này đã lợi dụng triệt để kẽ hở này vi phạm. Kinh nghiệm sau một thời gian thực hiện nền kinh tế thị trường, Trung Quốc và Liên bang Nga đã sửa đổi và bổ sung vào BLHS vấn đề TNHS đối với pháp nhân bằng những hình phạt như: phạt tiền, cấm kinh doanh một số lĩnh vực và giải thể doanh nghiệp.

 

Nguyễn Minh Đức – Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

www.nclp.org.vn

 

(1) L.K. Saviuk. Bàn về quan niệm chính sách hình sự của Nhà nước. Báo Nước Nga 17/2/2000.

(2) GS.TSKH Luật Kozotrkin. I.D. Luật hình sự so sánh: Luật hình sự các nước trên thế giới. Mátxcơva, 2004, tr. 5.

(3) GS.TSKH Luật Ruvalev M.R. Về khái niệm chính sách nhà nước đấu tranh với tội phạm ở Nga. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2006 (tiếng Nga).

(4) Nghị quyết số 63 của Quốc hội Liên bang Nga về sửa đổi BLHS 1996 ngày 13/52008. Báo Nước Nga ngày 14/5/2008.

(5) Báo cáo của Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên bang Nga Traika Youri Iakovlevich trước Hội đồng Liên bang – Quốc hội Liên bang Nga ngày 20/5/2008.

(6) Xem. Saviuk L.K. Các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan xét xử Liên bang Nga. M., 2004. tr.257.

(7) Kế hoạch đấu tranh chống tham nhũng của Tổng thống Liên bang Nga Dmitri Medvedev có hiệu lực ngày 1/10/2008. Báo Nước Nga ngày 19/8/2008.

đánh giá bài viết

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Lưu ý: Vui lòng không cung cấp SĐT ở Nội dung phản hồi để tránh bị người lạ làm phiền