Mục tiêu của Luật Cạnh tranh

Chuyên mụcLuật cạnh tranh Luật cạnh tranh
Ứng tuyển cộng tác viên - Hocluat.vn

Mục tiêu chủ yếu của pháp luật cạnh tranh là nhằm đạt được hiệu quả phân bổ và tối đa hóa phúc lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, điều này mới chỉ là sự bắt đầu vì vẫn còn những vấn đề khác.

 

Bài 5: Mục tiêu của Luật Cạnh tranh

Bài này nằm trong Phần II. Vai trò, mục tiêu của luật cạnh tranh của Chương I – Tổng quan chung về cạnh tranh, chính sách cạnh tranh và luật cạnh tranh.

 

Các bài khác tại Phần I

Các bài khác tại Phần II

 


1. Duy trì tính cạnh tranh trên thị trường

Xét theo nghĩa rộng, Luật Cạnh tranh ra đời là để bảo  vệ quá  trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Các quy phạm của luật cạnh tranh có mục tiêu tìm cách phát huy cạnh tranh hiệu quả và không bị bóp méo trên thị trường.

Điều này không có nghĩa là trong một nền  kinh tế thị trường,  tất cả các  ngành kinh tế đều  bị thả cho  cạnh tranh  tự do, không kiểm soát.  Các nước, tùy theo  trình độ phát triển có thể mở cửa  cho  cạnh tranh  ở các  phạm vi khác  nhau. Ở các nước phát triển, các  lĩnh vực như dịch vụ y tế hoặc cung cấp các  tiện ích cơ bản  như giao thông  công cộng, điện,  gas, nước,..  phải chịu sự kiểm soát  của  Chính phủ.  Ở các  nước đang phát triển, phạm vi các  lĩnh vực chịu sự can  thiệp của  Chính phủ  thường lớn hơn, ví dụ như hàng không, khai thác  khoáng sản,… Ngoài  ra, các  nước  có thể  có quan điểm  khác nhau  về phạm vi tác động của các yếu tố xã hội đối với thị trường tự do. Ví dụ, ở Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, ngành nông  nghiệp được  bảo  hộ thông  qua  các  biện  pháp trợ cấp,  trợ giá và quyền mua  can  thiệp để điều tiết thị trường  và như vậy ở các  nước này, thị trường  nông  nghiệp là một thị trường  tương  phản với những gì mà  một thị trường cạnh tranh  yêu cầu.

Từ góc độ kinh tế có thể nói mục tiêu duy nhất của luật cạnh tranh là duy trì tính cạnh tranh  trên thị trường.  Tuy nhiên,  vị trí của  Luật Cạnh  trạnh  không đơn  giản  chỉ có vậy. Nhiều ý kiến cho rằng  nên theo  đuổi một phạm vi mục tiêu rộng  lớn hơn.

2. Tăng cường hiệu quả của nền kinh tế

a. Duy trì cạnh tranh hiệu quả

Nhiều nhà kinh tế cho rằng  mục tiêu chính của  luật cạnh tranh là thúc đẩy và duy trì một quá trình cạnh tranh hiệu quả,  từ đó đạt được cách thức phẩn bổ hiệu quả hơn các nguồn lực22. Các  nhà  kinh tế đi theo  cách tiếp cận  này thuộc  trường  phái  kinh tế học công nghiệp và đặc  biệt là kinh tế học  phúc lợi. Các  nhà  kinh tế này tìm cách chứng minh  tại sao  cạnh tranh  lại được  cho  là làm ra lợi ích lớn nhất  cho  xã hội và để  đạt được hiệu quả.  Để có thể hiểu những vấn đề này tốt hơn trước tiên chúng ta cùng nhau nghiên cứu qua  một số khái niệm cơ bản  của  kinh tế học vi mô.

b. Các thuật ngữ kinh tế cơ bản

– Đường cong của cầu và thặng dư của người tiêu dùng

Người tiêu dùng không đồng nhất  về văn hóa  tiêu dùng. Họ có những ưu tiên khác nhau, có thu nhập khác  nhau  và kết quả  là sẽ sẵn  sàng trả những mức giá khác  nhau cho một hàng hóa cụ thể. Mức giá tối đa mà một người tiêu dùng sẵn  sàng trả cho một hàng hóa là mức giá đặc  cược của anh ta. Khi người tiêu dùng mua số lượng hàng hóa càng lớn thì anh ta sẽ phải trả càng ít cho các đơn vị sản  phẩm mua thêm.  Về lý thuyết, các  nhà  cung cấp  có thể ép  mỗi người tiêu dùng chấp nhận  một mức giá khác  nhau nhưng trên thực tế, điều này thường không khả thi. Do đó, nhà  cung cấp  phải xem xét mối quan hệ  giữa sự sẵn  sàng trả giá của  người  tiêu dùng và số  lượng  hàng hóa  sẽ được mua trên thị trường một cách tổng thể. Nếu chỉ có những người mua sẵn  sàng trả giá cao  được  cung cấp,  số lượng hàng hoá  được  sản  xuất sẽ  ít hơn trong  trường  hợp nếu người mua là người trả giá thấp  hơn được cung cấp.  Trái lại, để bán  được số lượng hàng hóa  lớn hơn  thì mức  giá bán  cần  phải  giảm  để  phù  hợp  với người mua  chỉ sẵn sàng trả giá thấp.  Mối quan hệ giữa giá bán  và lượng  cung được  thể hiện bởi đường cong của cầu thị trường.  Đường cong cầu thông  thường có xung hướng chéo xuống  từ trái sang phải.

Nếu  chúng ta giả sử rằng  giá thị trường  là 500 đồng chúng ta có  thể  thấy  một  số người tiêu dùng sẽ chỉ phải trả 500 đồng cho  một hàng hoá  mà họ có thể trả mức giá cao  hơn  thế.  Điều này dẫn  đến  một hiện tượng  được  kinh tế học  gọi là thặng dư của người tiêu dùng và được chỉ ra bởi vùng gạch chéo ở Đồ thị 1. Đó là sự khác  nhau  giữa mức giá sẵn  sàng trả của  người mua  và mức giá thị trường.

– Độ co dãn của cầu

Số lượng tại đó một lượng hàng hoá  được  yêu cầu  sẽ  tăng  khi giá giảm  (và ngược lại) sẽ  phụ  thuộc  vào  thị trường  đang nghiên cứu  và độ  co  giãn  của  cầu  đối với sản phẩm.

Độ co giãn giá của  cầu  đo tính nhạy  cảm  của  số lượng hàng hoá  được  yêu cầu  căn cứ vào giá. Cầu sẽ được  cho là không co giãn nếu một lượng tăng  về giá dẫn  đến  việc giảm không đáng kể về cầu.  Ví dụ, cầu  đối với dầu  mỏ là không co giãn vì trong nhiều lĩnh vực sử dụng dầu  mỏ không có sản  phẩm thay thế để có thể thực hiện chức  năng tương  tự. Trái lại, cầu  là co giãn nếu  một sự tăng  giá dẫn  đến  giảm đáng kể về cầu.  Ví dụ, cầu  đối với ô tô 4 chỗ là co giãn.

Ở góc  độ kỹ thuật,  độ co giãn giá của  cầu  là sự thay đổi phần trăm về số lượng của một sản  phẩm được  yêu cầu  chia cho  những thay đổi phần trăm tương  ứng trong  giá của  nó. Kết quả  sẽ  là một số âm vì sự giảm cầu  sẽ  được  thể hiện dưới dạng số âm từ điểm  xuất phát.  Nếu cầu  với một sản  phẩm nào  đó giảm  2 phần trăm là kết quả  của việc tăng  giá 1 phần trăm, sự thay đổi của cầu sẽ được  thể hiện là -2 phần trăm. Độ co giãn  của  cầu  khi đó sẽ  là -2 chia  cho  1 (lượng  tăng  giá), bằng -224.  Điển hình, độ co giãn  giảm theo  chiều  đi xuống  của  đường cầu,  do đó ở mức giá cao  hơn cầu  co giãn hơn.  Lý thuyết  kinh tế đặt  đường phân cách giữa  cầu  co  giãn  và cầu  không co  giãn

ở mức  -1. Cầu  là co giãn  ở mức  thấp  hơn  hay  nói cách khác  là âm  hơn  mức  -1. Cầu không co  giãn  trong  khoảng -1 và 0. Nhưng  có  một  điều,  trên  thị trường  khi mà  cầu không co giãn,  sự thiếu hụt hàng hoá  sẽ  dẫn  đến  mức giá cao  hơn.  Một vụ mùa  thất bát có thể lại tốt hơn cho người sản  xuất lương thực so với một vụ mùa  bội thu. Cụ thể là vì sương muối mà sản  lượng cà phê  của  Brazil vào năm  1995 bị giảm  sút nhưng vì cung giảm nên  cà phê  lại được  giá25.

Vị trí của  một  doanh nghiệp đơn  lẻ trên  thị trường  sẽ  khác  với vị trí của  tất cả  các nhà  sản  xuất trên thị trường  như một thể thống  nhất.  Như trên đã nói, nhu cầu  xăng  là không co giãn nhưng giá cho  bất kỳ nhãn  hàng nào  cũng co giãn.  Nếu Petrolimex có tăng  giá xăng nhưng Petro  Vietnam không làm như vậy, các  lái xe sẽ tìm đến  cây xăng của Petro Vietnam và mua xăng ở đây. Tuy nhiên,  nếu tất cả người bán xăng cùng nhau thống  nhất tăng  giá xăng,  lượng xăng  được  yêu cầu  có lẽ sẽ không thay đổi nhiều.

– Độ co giãn chéo của cầu

Độ co giãn của cầu đo mối quan hệ giữa giá của sản  phẩm và cầu đối với sản  phẩm đấy còn độ co giãn giá chéo của cầu lại đo nhu cầu đối với một sản  phẩm (A) tăng bao nhiêu  khi giá của  một sản  phẩm khác  (B) tăng  lên. Nó được  đo bằng sự thay đổi phần trăm về số lượng được  yêu cầu  đối với sản  phẩm A chia cho sự tăng  lên về phần trăm trong giá của B. Độ co giãn chéo của cầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định thị trường  sản  phẩm liên quan.

Độ co giãn  giá chéo là dương nếu  tăng  giá ở sản  phẩm B dẫn  đến  sự tăng  về cầu đối với sản  phẩm A và điều  này cho  thấy rằng  A và B là các  sản  phẩm thay thế được cho nhau. Sự thiếu hụt cà phê  ở Việt Nam, dù rằng  dẫn  tới việc tăng  giá cà phê,  không khiến  cho  người  tiêu  dùng ngừng mua  cà  phê  và  không làm  cho  người  tiêu  dùng chuyển sang mua  chè.  Điều này chỉ ra rằng  người tiêu dùng không coi chè  là một sản phẩm thay thế cho  cà phê  và rằng  nhu  cầu  cà phê  là không co giãn.  Một điểm  quan trọng cần lưu ý là việc khi xem xét hai sản phẩm có thể có sự co giãn giá chéo theo một hướng này và không theo  hướng khác.  Mặc dù người uống  cà phê  có thể không mua chè khi giá cà phê  tăng,  điều này không có nghĩa  là người uống  chè không muốn  mua cà phê  nếu  có sự tăng  giá tương  tự đối với chè.

Nếu các  sản  phẩm là bổ sung cho  nhau  chứ không phải là thay thế nhau  thì chỉ số co giãn giá chéo có thể âm chứ không phải luôn dương. Nếu giá xăng tăng,  cầu đối với ô tô động cơ lớn dùng nhiều  gas  có thể giảm xuống.

– Tối đa hoá lợi nhuận

Kinh tế học  phúc lợi giả định rằng  các  công ty sẽ  hành  xử một cách hợp  lý và theo cách nào  đó để có thể tối đa hoá  lợi nhuận26 còn trên thực tế các  công ty có luôn luôn hành  xử như vậy không thì phải xem xét thêm.27 Cụ thể là, với một công ty có vị trí độc quyền, ban  giám  đốc  có  thể  thích  một  “cuộc  sống yên  ổn” để  tối đa  hoá  lợi nhuận. Nhưng  với các  hoàn cảnh khác  thì chưa  chắc đã  thế.  Chỉ có  điều  chắc chắn là một

công ty sẽ  không để  bị thua  lỗ trong  dài hạn  vì nếu  thế nó chắc chắn sẽ  bị phá  sản. Còn nếu một công ty không đem  lại lãi cho các  cổ đông của  nó sẽ hấp  dẫn  đối với một kẻ chuyên mua lại và sẽ dễ dàng trở thành  nạn nhân  trong một phi vụ mua lại công ty.

– Tính kinh tế nhờ quy mô

Tính kinh tế nhờ quy mô xảy ra khi chi phí sản  xuất bình quân một hàng hoá  giảm xuống  nếu hàng hoá đó được sản  xuất với số lượng lớn. Nếu một nhà máy chỉ sản  xuất một sản  phẩm khi đó  sản  phẩm đó  phải  gánh chịu toàn  bộ  chi phí xây dựng  và vận hành  nhà  máy.  Tuy nhiên,  nếu  nhà  máy  đó  sản  xuất 10.000  sản  phẩm thì chi phí sẽ được  chia đều  cho 10.000  chứ không phải chia cho 1. Tất nhiên  là, một số chi phí (chi phí khả biến) có thể tăng lên cùng với sản xuất (ví dụ như năng lượng, lao động dù rằng chúng có thể không tăng  tỷ lệ với số đơn  vị sản  phẩm tăng  thêm).  Tuy nhiên,  có một số chi phí có thể không tăng,  ví dụ như đối với việc giao hàng, người lái xe tải sẽ được trả tiền như cũ và xăng sẽ tốn như cũ không cần  biết là xe tải đó chở đầy hàng hay chỉ chở một nửa trọng  tải.

Tính kinh tế nhờ quy mô có kết quả  trong  trường  hợp  đạt  được  hiệu quả  trong  sản xuất vì sản  lượng tăng lên28.  Tuy nhiên,  chắc chắn sẽ đến một điểm khi mà chi phí bình quân ngừng giảm và không còn thu được  tính kinh tế nhờ quy mô nữa. Điểm đó được gọi là quy mô hiệu quả  tối thiểu (MES). MES có ý nghĩa  đặc  biệt lớn với luật cạnh tranh vì nó có tác dụng rất lớn trong việc xác định cấu trúc thị trường.  Trường hợp MES là rất lớn trong  tương  quan với thị trường,  như việc một nhà  sản  xuất phải cung cấp  một số lượng lớn sản  phẩm trên thị trường  trước khi đạt được  MES, khi đó chỉ một số công ty, có lẽ chỉ một công ty có thể hoạt  động hiệu quả  trên thị trường.  Tuy nhiên,  trên một thị trường  cạnh tranh,  MES chỉ ở mức thấp  so với tổng  cầu  thì sẽ có nhiều  công ty có thể hoạt  động trên thị trường  đó.

c. Hiệu quả động lực

Toàn bộ phân tích ở trên về hiệu quả  và không hiệu quả  trong  sản  xuất và phân bổ là không toàn  diện.  Người ta đã  khẳng định  rằng  ở điểm  cân  bằng tĩnh nơi mà  công nghệ là cố định và các  chi phí có liên quan đến  một mức độ nhất định. Tuy nhiên,  trên thực  tế nhiều  thị trường  là động, phát  triển liên tục với việc ra đời sản  phẩm và công nghệ mới. Một đánh giá chính xác hơn về phúc lợi của người tiêu dùng sẽ có được nếu tác động của những đổi mới đó được  tính đến.  Điều này liên quan đến  việc chấp nhận

quan điểm  trong  ngắn hạn  về sức  mạnh thị trường  đáng kể có  thể  phát  sinh  nhưng không phải  lúc nào  sức  mạnh thị trường  cũng có  hại cho  phúc lợi người  tiêu dùng. Những  phân tích sau  đây của  một nhà  kinh tế sẽ giải thích rõ điều đó29.

“Trong việc phân tích phúc lợi tĩnh của  sức  mạnh thị trường,  có bằng chứng là một khoản thua  thiệt về thặng dư người  tiêu dùng sẽ  xảy ra trong  trường  hợp  người  tiêu dùng sẵn  sàng trả chi phí biên thì lại không được  cung cấp  hàng hóa.  Sự thực thì điều này cũng thường xảy ra khi có một độc quyền không được điều tiết lại làm tăng  giá lên trên mức chi phí biên  về cung cấp.  Việc tính toán  sự không hiệu quả  tĩnh mà kết quả được phân tích ở các  khía cạnh chi phí sản  xuất thực tế so với chi phí sản  xuất tối thiểu (không hiệu quả về sản xuất), và ở khía cạnh giá được đặt trên chi phí biên về cung cấp (không hiệu quả về phân bổ)… Trong phân tích tĩnh này có một tổng thua thiệt về phúc lợi rất rõ ràng  gắn  với việc lạm dụng sức mạnh thị trường.  Việc phân tích tĩnh không có khía cạnh thời gian vì nó đang tìm đến  một trạng  thái cân  bằng. Một phân tích như thế là không thể  giải thích hoặc bằng sự kết hợp  sự phát  triển công nghệ hoặc bằng sự đổi mới quá  trình và sản  phẩm, mà chỉ liên quan đến  sự phân bổ nguồn lực trong  bối cảnh công nghệ cố định  và chi phí đã  được  định  sẵn.  Trong  thế  giới thực,  thị trường sản  phẩm tiến hóa liên tục theo  thời gian do những phát  hiện công nghệ mới, sự ra đời của những sản phẩm mới  được cải tiến. Những đổi mới đó sinh ra phúc lợi do hiệu quả động lực. Điều này có nghĩa  là một phân tích phúc lợi đúng đắn về sức mạnh thị trường cần tính đến  cả hiệu quả  động và hiệu quả  tĩnh – và bất cứ sự kết hợp nào  giữa hai yếu tố này.

Trong  trường  hợp  các  khía cạnh của  hiệu  quả  động được  đưa  vào phân tích cạnh tranh,  thì sự lạm dụng sức  mạnh thị trường  dẫn  tới sự thua  thiệt về hiệu quả  phân bổ và sự thua  thiệt trong  phúc lợi người  tiêu dùng được  xác định  chủ  yếu  theo  giả định rằng chi phí liên quan của công ty không giảm do sự hợp lý hóa sản  xuất hoặc rằng sự đổi mới sản  phẩm không xảy ra. Theo  trường  phái châu Âu, có thể rút ra kết luận sau đây: sức mạnh thị trường  có thể thúc đẩy tăng   năng suất,   tăng  trưởng  giá trị gia tăng và giảm  chi phí của  quá  trình tăng  trưởng  bất  chấp xu hướng thấp  hơn  mức phân bổ nguồn lực tối ưu trong  cân  bằng tĩnh.

Hiệu quả  động được  phân tích dưới khía  cạnh tổng  thặng dư bao  gồm  thặng dư người tiêu dùng cộng với thặng dư của nhà sản  xuất, phát  triển theo  thời gian với sự ra đời của  một sản  phẩm trong  quá  trình đổi mới. Một sản  phẩm mới thỏa  mãn  một nhu cầu mà không được nuôi dưỡng trước đó. Nếu sản  phẩm được cung cấp  ở mức chi phí sản  xuất biên ngắn hạn  thì khi đó không nhà  cung cấp  nào  bù đắp  được  đầu  tư đã bỏ vào quá  trình nghiên cứu và phát  triển ban  đầu.  Sự đề phòng vấn đề này của nhà cung cấp  có nghĩa  là sẽ không có động lực để đầu  tư và phát  triển sản  phẩm mới. Thậm chí trong  tình huống thị trường  cạnh tranh,  một công ty đầu  tư vào một dự án nếu  giá trị ròng  hiện tại của  khoản sẽ thu về trong  tương  lai phù  hợp  với chi phí đầu  tư và những thua lỗ ban  đầu.  Đánh giá của công ty cạnh tranh sẽ bao  gồm  cả sự cần thiết đối với ít nhất  là một tỉ lệ thông  thường lợi nhuận như trong  điều  kiện cân  bằng. Nhà cung cấp sẽ thờ ơ trong  việc có đầu  tư hay không nếu  họ sau  đó chỉ kiếm được  lợi nhuận đủ bù

đắp  cho chi phí ban  đầu  của  mình cũng như hoàn lại những gì đã đầu  tư. Đổi mới sản phẩm chỉ xảy ra nếu công ty kiếm được hơn mức đầu  tư ban  đầu.  Họ sẽ chỉ đầu  tư trên thực tế nếu  họ dự tính được  sẽ kiếm được  nhiều  lợi nhuận. Tuy nhiên,  khoản lợi nhuận đó có nghĩa  là đặt giá trên mức tổng  chi phí trung  bình tối thiểu trong  ngắn hạn  hoặc có những rào cản  gia nhập hoặc công ty đổi mới có sức  mạnh thị trường.  Thị trường, khi nó vận hành  tốt, giải quyết  sự cân  bằng khó khăn  này bằng việc tạo ra vị trí thống lĩnh thị trường  tạm thời, lợi nhuận siêu ngạch, sau  đó thu hút tất cả cách thức và dạng nhân  tố doanh nghiệp mà bỏ qua  lợi nhuận siêu  ngạch mà trong  điều  kiện cân  bằng khoản đầu  tư biên sẽ chỉ là khoản bù đắp  bởi giá trị hiện tại của khoản lợi nhuận thông thường trong  tương  lai”.

Nhà kinh tế Áo Joseph Schumpeter nhìn nhận  vấn đề  với ý tưởng  rằng  cạnh tranh sẽ là một sự khích lệ tốt hướng đến  đổi mới hơn là độc  quyền. Ông cho  rằng  một nhà độc  quyền có thể sẵn  sàng chấp nhận  rủi ro, chi phí đổi mới và phát  triển kỹ thuật.

Lập  luận  của  Schumpeter là cạnh tranh  trong  đổi  mới còn  quan trọng  hơn  cạnh tranh về giá bởi vì nó là công cụ hiệu quả  hơn trong việc đạt được lợi thế so với một đối thủ nào đó. Điều này được biết đến  như là “sự ganh đua  của Schumpeter”, trường hợp các  công ty cạnh tranh  trong  một cuộc đua  thường xuyên để đưa sản  phẩm mới ra thị trường  trong  “sự bùng nổ của  phá  hủy sáng tạo”, cạnh tranh  là động và các  vị trí sức mạnh thị trường  chỉ là ngắn hạn  vì đổi mới liên tục sẽ trao lợi thế vào tay người khác. Khái niệm về hiệu quả  động và cạnh tranh  động đặc  biệt quan trọng  đối với cái được gọi là “nền kinh tế mới – nền  kinh tế tri thức” của  những thị trường  công nghệ cao.

3. Các mục tiêu khác của pháp luật cạnh tranh

Theo  phân tích ở trên thì mục  tiêu chủ  yếu  của  pháp luật cạnh tranh là nhằm đạt được hiệu quả  phân bổ và tối đa hóa phúc lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên,  điều này mới chỉ là sự bắt đầu  vì vẫn còn những vấn đề khác.  Một câu  hỏi lớn được  đặt ra là liệu có nên xác định việc theo đuổi tính hiệu quả về kinh tế là mục tiêu duy nhất của Luật Cạnh tranh  hay không. Một khi điều  này được  giải quyết,  nó sẽ  tác động đến  nội dung của Luật Cạnh  tranh và cách thức thực thi luật trên thực tế. Nhưng trước hết, chúng ta cùng nhìn nhận  pháp luật cạnh tranh  có thể theo  đuổi những mục tiêu khác  sau  đây:

a. Bảo vệ tự do kinh tế

Việc sử dụng các  quy phạm cạnh tranh  để  bảo  vệ thị trường  mang tính cạnh tranh có thể đạt được hiệu quả  về kinh tế nhưng cũng có thể hậu thuẫn  cho sự tự do kinh tế. Thị trường  mang tính cạnh tranh  sẽ  loại trừ việc tạo ra sức  mạnh thị trường  một cách thái quá.

Như chúng ta biết, luật chống độc  quyền, được  xây dựng  bởi không phải là những chuyên gia trong  lĩnh vực luật thương mại (dù họ đã trở thành  những chuyên gia đầu tiên) cũng không phải  là những nhà  kinh tế (dù  họ  đã  cung cấp  những nền  tảng  cơ bản).  Thay vào đó,  ở Mỹ những chính  trị gia là người mong muốn  có luật cạnh tranh còn  ở châu Âu thì đó  là những học  giả quan tâm  đến  những trụ cột của  hệ  thống  tự

do  kinh tế, những người nhìn nhận  luật cạnh tranh  như là câu  trả lời cho  một vấn đề qua  trọng đối với nền kinh tế: sự nổi lên từ một công ty, một doanh nghiệp như một sự thể hiện hiện tượng  đối lập về quyền lực kinh tế; một quyền lực không chính  danh và có thể vi phạm một cách nguy  hiểm không chỉ tự do kinh tế của  các  tổ chức,  cá nhân khác,  mà còn có thể xâm phạm sự cân  bằng các  quyết  định công cộng bởi sức mạnh độc  đoán của  nó.  Các  công ty, doanh nghiệp có  quyền tự do  kinh doanh của  họ và được thực hiện quyền đó nhưng họ không bao giờ được trở thành  người ép buộc người khác.  Quyền  lực kinh tế của  một công ty không được  vượt quá  thẩm  quyền nó được giao  trong  phạm vi công ty. Vượt quá  những hạn  chế  này,  quyền lực kinh tế của  một công ty được nhìn nhận  là sự lạm dụng và phải được hạn chế,  từ đó không ai có thể ra quyết  định ảnh  hưởng đến  người khác  mà không cho họ biết trước điều đó.

Các phân tích trên lý giải cho sự can thiệp của nhà nước vào hành  vi cạnh tranh trên thị trường.  Một trong  những lập luận nền  tảng  ủng  hộ cấu  trúc thị trường  cạnh tranh, nơi mà từng người bán  và người mua  là không đáng kể trong  mối tương  quan với quy mô của thị trường,  là việc nó phi tập trung hóa và hạn chế quyền lực thị trường và từ đó bảo  vệ tự do kinh tế30.

b. Bảo vệ đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng

Việc bảo  vệ tự do kinh tế hậu  thuẫn  cho thị trường  cạnh tranh  và có thể trong  nhiều thị trường  tạo  ra hiệu  quả  kinh tế. Pháp luật cạnh tranh  có  mục  tiêu hạn  chế  quyền lực thị trường,  từ đó ủng hộ các  doanh nghiệp nhỏ và tìm cách bảo  vệ họ trước những doanh nghiệp lớn. Thay vì bảo  vệ cạnh tranh,  xu hướng có thể là sử dụng các  quy tắc cạnh tranh  để bảo  vệ đối thủ. Ví dụ như pháp luật cạnh tranh  có thể được  sử dụng để bảo  vệ các  công ty nhỏ  trước hành  vi đặt  giá thấp  của  các  công ty thống  lĩnh, hoặc buộc một  công ty thống  lĩnh phải  cho  phép công ty nhỏ  tiếp cận  các  nguồn lực mà công ty lớn này kiểm soát  để công ty nhỏ có thể cạnh tranh  trên thị trường.

Một chính  sách như vậy có thể phù  hợp  với quan điểm  phổ  biến là không tin tưởng vào các  công ty lớn. Nó là cái được  mô tả bởi một số trường  phái như là những người đại chúng, như chúng ta sẽ xem dưới đây, và có thể được  nhìn nhận  như là cạnh tranh “công  bằng” hơn là cạnh tranh  “tự do”. Tuy nhiên,  nó sẽ  làm cho  một chính  phủ  phải nuôi dưỡng các công ty nhỏ và để thúc đẩy một xã hội trong đó công dân được khuyến khích thành  lập doanh nghiệp và tự làm chủ doanh nghiệp của  mình và hành  xử với tư cách là doanh nhân. Việc hạn chế quyền lực thị trường cũng ngăn cản việc phân bổ lại của  cải từ người tiêu dùng nộp  cho  các  công ty có quyền lực thị trường  (một cách cá lẻ hay tập thể) và đảm  bảo  rằng  người tiêu dùng có vô số lựa chọn.

c. Các vấn đề xã hội, chính trị

Pháp luật cạnh tranh cũng có thể được sử dụng để phục  vụ các  chính sách khác  như chính sách về xã hội, về tạo việc làm, về công nghiệp, về môi trường và/hoặc về khu vực (ví dụ, bằng việc cấm  sáp nhập mà có thể gây ra việc sa thải hàng loạt hoặc cho  phép các  thỏa  thuận  hạn chế  mà sẽ giúp bảo  vệ các  ngành công nghiệp đang thua lỗ).

Đánh giá

Bài viết liên quan

Tác giả: Dân Luật 786 Bài viết
Nơi nào mà luật pháp bị xem thường thì luật sư cũng không được coi trọng. Để luật pháp và luật sư cùng được coi trọng thì mỗi luật sư bằng chính hoạt động hàng ngày của mình cần vun đắp cho hệ thống luật pháp được trở nên công minh tiến bộ.

Bình luận

avatar