Quyền con người có tính phổ quát và phải được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, thực hiện. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, việc một người thực hiện quyền có thể ảnh hưởng đến quyền của người khác hoặc đến những lợi ích chung như an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, pháp luật quốc tế cho phép quốc gia giới hạn quyền con người trong một số trường hợp nhất định. Quyền hạn này không phải là “tấm séc trắng” để cơ quan nhà nước tùy ý can thiệp vào quyền; mọi biện pháp hạn chế phải có căn cứ pháp luật, nhằm đúng mục đích chính đáng, thực sự cần thiết, tương xứng và không làm mất đi bản chất của quyền.
- 1. Giới hạn quyền con người là gì?
- 1.1. Những quyền nào có thể bị giới hạn?
- 1.2. Phân biệt giới hạn quyền và tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ về quyền con người
- 2. Những yêu cầu đối với quốc gia khi giới hạn quyền con người
- 2.1. Giới hạn quyền phải được quy định bởi pháp luật
- 2.2. Giới hạn phải nhằm một mục đích chính đáng
- 2.3. Biện pháp hạn chế phải thực sự cần thiết
- 2.4. Biện pháp phải tương xứng với mục đích cần bảo vệ
- 2.5. Không được làm mất đi bản chất của quyền
- 2.6. Biện pháp hạn chế không được phân biệt đối xử
- 2.7. Biện pháp phải có phạm vi và thời hạn rõ ràng
- 2.8. Phải bảo đảm thủ tục công bằng và cơ chế khắc phục
- 3. Hai ví dụ về việc cơ quan nhà nước giới hạn quyền con người
- 3.1. Ví dụ 1: Cơ quan y tế áp dụng biện pháp cách ly để phòng, chống dịch bệnh
- 3.2. Ví dụ 2: Cơ quan công an điều chỉnh địa điểm hoặc tuyến đường của một cuộc tuần hành hòa bình
- 4. Ý nghĩa của việc kiểm soát giới hạn quyền con người
- Kết luận
Giới hạn (hạn chế) quyền là gì? Có những yêu cầu gì với các quốc gia trong việc giới hạn quyền con người? Nêu 2 ví dụ về việc các cơ quan nhà nước giới hạn quyền con người.
1. Giới hạn quyền con người là gì?
Giới hạn quyền con người, còn được gọi là hạn chế quyền con người là việc Nhà nước đặt ra những điều kiện, phạm vi hoặc biện pháp làm thu hẹp khả năng thực hiện một quyền con người nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc một lợi ích công cộng được pháp luật quốc tế thừa nhận.
Nói cách khác, cá nhân vẫn là chủ thể của quyền nhưng việc thực hiện quyền có thể bị giới hạn về thời gian, địa điểm, phương thức hoặc phạm vi. Ví dụ, một người có quyền tự do đi lại nhưng có thể bị cấm vào khu vực đang có dịch bệnh nguy hiểm; một nhóm người có quyền hội họp hòa bình nhưng có thể bị yêu cầu điều chỉnh tuyến đường tuần hành để tránh một địa điểm đang xảy ra nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng.
Giới hạn quyền không có nghĩa là Nhà nước được tùy ý tước bỏ quyền. Trong cấu trúc của pháp luật nhân quyền quốc tế, quyền là nguyên tắc; giới hạn chỉ là ngoại lệ. Vì vậy, các điều khoản cho phép giới hạn phải được giải thích chặt chẽ và theo hướng có lợi cho việc bảo vệ quyền. Các Nguyên tắc Siracusa nhấn mạnh rằng mọi giới hạn phải phù hợp với mục đích của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; không được áp dụng vì mục đích khác với mục đích đã được quy định; đồng thời Nhà nước phải chứng minh rằng biện pháp hạn chế đáp ứng các điều kiện cần thiết.[1]
Những quyền nào có thể bị giới hạn?
Không phải quyền con người nào cũng được giới hạn theo cách giống nhau. Một số quyền được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định rõ các căn cứ hạn chế, tiêu biểu như:
- Quyền tự do đi lại có thể bị hạn chế vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, quyền và tự do của người khác theo khoản 3 Điều 12;
- Quyền thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng có thể bị hạn chế để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe, đạo đức công cộng hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác theo khoản 3 Điều 18;
- Quyền tự do biểu đạt có thể bị hạn chế để tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội theo khoản 3 Điều 19;
- Quyền hội họp hòa bình có thể bị hạn chế vì an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe, đạo đức xã hội hoặc quyền và tự do của người khác theo Điều 21;
- Quyền tự do lập hội có thể bị giới hạn trên những căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 22.
Danh sách mục đích được quy định trong từng điều khoản là danh sách giới hạn. Quốc gia không được tự bổ sung một lý do chung chung như “thuận lợi cho quản lý”, “bảo vệ uy tín của cơ quan” hoặc “ngăn ngừa quan điểm không phù hợp” nếu lý do đó không thuộc mục đích chính đáng được điều ước thừa nhận.
Bình luận về biện pháp tra tấn nghi can khủng bố dưới góc độ luật nhân quyền quốc tế
Bên cạnh đó, có những quyền hoặc những bộ phận của quyền không được phép hạn chế. Chẳng hạn, quyền không bị tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục theo Điều 7 không thể bị giới hạn vì lý do an ninh hay trật tự; quyền có ý kiến mà không bị can thiệp theo khoản 1 Điều 19 cũng không cho phép đặt ra ngoại lệ; Nhà nước chỉ có thể giới hạn việc biểu đạt ý kiến trong những điều kiện nghiêm ngặt của khoản 3 Điều 19. Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc khẳng định quyền giữ ý kiến không thể bị hạn chế và việc hình sự hóa một người chỉ vì quan điểm thực tế hoặc bị quy kết cho họ là không phù hợp với Công ước.[2]
Đối với tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, cần phân biệt giữa quyền có, lựa chọn hoặc thay đổi tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng với quyền thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng. Phần thuộc đời sống tư tưởng bên trong của cá nhân không được hạn chế; chỉ việc biểu hiện ra bên ngoài mới có thể chịu những giới hạn được khoản 3 Điều 18 cho phép.
Phân biệt giới hạn quyền và tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ về quyền con người
Giới hạn quyền trong điều kiện bình thường khác với việc tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ về quyền con người trong tình trạng khẩn cấp.
Giới hạn quyền được áp dụng trong đời sống bình thường, dựa trên điều khoản hạn chế của từng quyền. Ví dụ, cơ quan nhà nước giới hạn địa điểm tổ chức một cuộc hội họp để bảo vệ an toàn công cộng theo Điều 21 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
Trong khi đó, tạm đình chỉ nghĩa vụ theo Điều 4 Công ước chỉ được đặt ra khi có tình trạng khẩn cấp công cộng đe dọa sự sống còn của quốc gia và tình trạng đó đã được chính thức công bố. Biện pháp tạm đình chỉ phải thực sự cần thiết bởi mức độ nghiêm trọng của tình thế; không trái với các nghĩa vụ quốc tế khác; không phân biệt đối xử; đồng thời quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ thông báo theo Công ước.
Một số quyền không thể bị tạm đình chỉ ngay cả trong tình trạng khẩn cấp, bao gồm những quyền được liệt kê tại khoản 2 Điều 4 như quyền không bị tra tấn; quyền không bị bắt làm nô lệ; quyền không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng; nguyên tắc không áp dụng hồi tố pháp luật hình sự; quyền được công nhận là con người trước pháp luật và quyền tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo.
Như vậy, không thể lấy quy định về tình trạng khẩn cấp để hợp pháp hóa một biện pháp vốn bị cấm tuyệt đối. Chẳng hạn, nguy cơ khủng bố nghiêm trọng không cho phép cơ quan an ninh tra tấn nghi can để lấy lời khai.
2. Những yêu cầu đối với quốc gia khi giới hạn quyền con người
Một biện pháp hạn chế quyền không đương nhiên hợp pháp chỉ vì cơ quan nhà nước cho rằng biện pháp đó có ích. Quốc gia phải chứng minh biện pháp đáp ứng đồng thời các yêu cầu về tính hợp pháp, mục đích chính đáng, sự cần thiết, tính tương xứng, không phân biệt đối xử và bảo đảm bản chất của quyền.
Giới hạn quyền phải được quy định bởi pháp luật
Yêu cầu đầu tiên là biện pháp hạn chế phải được quy định bởi pháp luật. Cơ quan công quyền không được hạn chế quyền chỉ dựa trên ý chí chủ quan, chỉ đạo miệng hoặc một quyết định không có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, việc tồn tại một văn bản mang tên “luật”, “nghị định” hay “quyết định” chưa đủ để đáp ứng yêu cầu này. Quy định làm cơ sở hạn chế phải được ban hành đúng thẩm quyền; được công bố và có khả năng tiếp cận; có nội dung đủ rõ ràng để cá nhân có thể dự liệu hành vi nào bị hạn chế và hậu quả pháp lý có thể phát sinh.

Nếu quy định sử dụng những khái niệm quá mơ hồ như “thông tin không phù hợp”, “hành vi gây ảnh hưởng”, “nội dung trái lợi ích chung” mà không có tiêu chí xác định thì cơ quan thực thi có thể được trao quyền tùy tiện quá lớn. Khi đó, người dân không thể dự đoán khi nào việc thực hiện quyền của mình bị coi là vi phạm.
Pháp luật cũng phải có cơ chế kiểm soát việc áp dụng, bao gồm thẩm quyền rõ ràng; trình tự, thủ tục; thời hạn; trách nhiệm giải trình; quyền khiếu nại, khởi kiện và sự giám sát của cơ quan độc lập. Các Nguyên tắc Siracusa cho rằng pháp luật hạn chế quyền không được mang tính tùy tiện hoặc vô lý; phải có các bảo đảm và biện pháp khắc phục hữu hiệu chống lại việc áp dụng trái pháp luật hoặc lạm dụng.[1]
Tại Việt Nam, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng đồng. Quy định này thể hiện yêu cầu giới hạn quyền phải có căn cứ pháp luật và không thể được đặt ra tùy tiện bởi bất kỳ cơ quan nào.
Giới hạn phải nhằm một mục đích chính đáng
Biện pháp hạn chế phải theo đuổi một trong những mục đích được chính điều khoản về quyền cho phép. Các mục đích thường gặp bao gồm:
- Bảo vệ an ninh quốc gia;
- Bảo vệ an toàn công cộng;
- Bảo đảm trật tự công cộng;
- Bảo vệ sức khỏe cộng đồng;
- Bảo vệ đạo đức xã hội;
- Tôn trọng quyền, tự do hoặc uy tín của người khác.
Cơ quan nhà nước phải xác định đúng mục đích thực tế của biện pháp, không được sử dụng một mục đích chính đáng làm cái cớ để đạt mục tiêu khác. Ví dụ, không thể viện dẫn “an ninh quốc gia” một cách chung chung để ngăn chặn những ý kiến phê bình chính sách nhưng không tạo ra nguy cơ cụ thể đối với sự tồn tại, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia.
Tương tự, “trật tự công cộng” không đồng nghĩa với việc bảo đảm mọi hoạt động xã hội diễn ra thuận tiện cho cơ quan quản lý. Một cuộc biểu tình hòa bình có thể gây tiếng ồn, ùn tắc giao thông hoặc làm thay đổi sinh hoạt thông thường; nhưng những bất tiện nhất định là hệ quả có thể dự liệu của việc thực hiện quyền hội họp. Cơ quan nhà nước không thể chỉ dựa vào sự bất tiện để cấm hoàn toàn một cuộc hội họp.
Khi viện dẫn đạo đức xã hội, quốc gia cũng không được chỉ dựa trên một truyền thống tôn giáo, văn hóa hoặc hệ tư tưởng duy nhất. Ủy ban Nhân quyền cho rằng những giới hạn nhằm bảo vệ đạo đức phải được hiểu trên cơ sở tính phổ quát của quyền con người và nguyên tắc không phân biệt đối xử.[2]
Biện pháp hạn chế phải thực sự cần thiết
Quốc gia phải chứng minh có một nhu cầu xã hội cấp thiết và thực tế cần giải quyết. Không thể hạn chế quyền chỉ dựa trên nguy cơ mang tính giả định, suy đoán xa xôi hoặc lo ngại chung chung.
Yêu cầu về tính cần thiết đòi hỏi phải có mối liên hệ trực tiếp, hợp lý giữa việc thực hiện quyền và nguy cơ đối với mục đích cần bảo vệ. Ví dụ, nếu cấm một cuộc hội họp vì lý do an toàn công cộng, cơ quan có thẩm quyền phải đưa ra căn cứ cho thấy cuộc hội họp có nguy cơ cụ thể gây tổn hại đến an toàn; không thể chỉ khẳng định rằng mọi cuộc tập trung đông người đều tiềm ẩn rủi ro.
Phân tích vai trò của cơ quan nhân quyền quốc gia và đề xuất mô hình phù hợp với Việt Nam
Ủy ban Nhân quyền nhấn mạnh rằng khi hạn chế quyền tự do biểu đạt, quốc gia phải chứng minh một cách cụ thể và riêng biệt bản chất của mối đe dọa; tính cần thiết và tương xứng của biện pháp; đồng thời phải xác lập mối liên hệ trực tiếp, tức thời giữa việc biểu đạt và nguy cơ được viện dẫn.[2]
Gánh nặng chứng minh thuộc về quốc gia hoặc cơ quan áp dụng biện pháp hạn chế. Người dân không phải chứng minh trước rằng việc thực hiện quyền của mình hoàn toàn vô hại. Cơ quan nhà nước phải giải thích tại sao biện pháp là cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể.
Biện pháp phải tương xứng với mục đích cần bảo vệ
Tính tương xứng yêu cầu mức độ hạn chế không được vượt quá điều cần thiết để đạt mục đích chính đáng. Cơ quan nhà nước phải lựa chọn biện pháp ít xâm phạm quyền nhất trong số những biện pháp có khả năng giải quyết nguy cơ.
Có thể đánh giá tính tương xứng thông qua các câu hỏi:
- Biện pháp có thực sự giúp đạt được mục đích hay không;
- Có biện pháp nào ít hạn chế quyền hơn nhưng vẫn đạt hiệu quả tương đương hay không;
- Lợi ích đạt được có tương xứng với thiệt hại gây ra cho quyền hay không;
- Phạm vi, thời gian và đối tượng bị áp dụng có quá rộng hay không;
- Biện pháp có được chấm dứt ngay khi lý do hạn chế không còn hay không.
Ví dụ, nếu một cuộc tuần hành có thể gây ách tắc tại một tuyến đường trong thời gian ngắn, việc điều tiết giao thông hoặc điều chỉnh một phần tuyến đường có thể là biện pháp phù hợp. Cấm toàn bộ cuộc tuần hành trên phạm vi thành phố trong nhiều ngày có thể là biện pháp quá mức.
Nguyên tắc tương xứng phải được thể hiện không chỉ trong văn bản pháp luật mà còn trong từng quyết định hành chính và hoạt động thực thi cụ thể. Ủy ban Nhân quyền khẳng định cơ quan hành chính và tư pháp đều phải tuân thủ nguyên tắc tương xứng khi áp dụng các giới hạn quyền.[2]
Đối với quyền hội họp hòa bình, những hạn chế chung áp dụng cho toàn bộ một khu vực hoặc cho mọi cuộc hội họp thường có nguy cơ không tương xứng. Việc cấm hoặc giải tán hội họp phải là biện pháp cuối cùng; cơ quan nhà nước trước hết phải tìm cách tạo điều kiện, quản lý nguy cơ và áp dụng các giải pháp ít hạn chế hơn.[3]
Không được làm mất đi bản chất của quyền
Giới hạn quyền không được biến ngoại lệ thành nguyên tắc hoặc khiến quyền chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa. Nếu một biện pháp làm cho cá nhân hầu như không còn khả năng thực hiện quyền thì biện pháp đó đã xâm phạm bản chất của quyền.
Chẳng hạn, Nhà nước có thể đặt ra một số yêu cầu về thông báo trước đối với hội họp nhằm chuẩn bị biện pháp bảo đảm giao thông, an ninh và an toàn. Tuy nhiên, nếu thủ tục thông báo bị biến thành cơ chế xin phép; cơ quan có thẩm quyền được tùy ý bác bỏ mà không phải nêu lý do; thời hạn giải quyết kéo dài đến sau thời điểm dự kiến tổ chức thì trên thực tế quyền hội họp đã bị vô hiệu hóa.
Đối với quyền tự do đi lại, Ủy ban Nhân quyền nêu rõ các hạn chế không được làm mất đi nguyên tắc tự do đi lại; quan hệ giữa quyền và hạn chế, giữa nguyên tắc và ngoại lệ không được đảo ngược.[4]
Biện pháp hạn chế không được phân biệt đối xử
Quốc gia không được áp dụng giới hạn quyền theo cách phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, dòng dõi hay tình trạng khác.
Một biện pháp có thể có hình thức trung lập nhưng vẫn phân biệt đối xử nếu gây bất lợi đặc biệt cho một nhóm người mà không có lý do khách quan, hợp lý. Ví dụ, quy định cấm mọi hoạt động hội họp sử dụng một ngôn ngữ của dân tộc thiểu số có thể là sự phân biệt đối xử, dù quy định không trực tiếp đề cập tên của nhóm dân tộc đó.
Cơ quan nhà nước cũng không được cho phép hội họp của nhóm ủng hộ chính quyền nhưng cấm những cuộc hội họp hòa bình có nội dung phê bình; cho phép một tôn giáo tổ chức nghi lễ nhưng cản trở vô căn cứ hoạt động tương tự của tôn giáo khác.
Biện pháp phải có phạm vi và thời hạn rõ ràng
Một giới hạn được đặt ra để xử lý tình huống cụ thể không được tồn tại vô thời hạn. Thời gian áp dụng phải gắn với thời gian tồn tại của nguy cơ; phạm vi địa lý phải giới hạn ở nơi cần thiết; đối tượng áp dụng phải được xác định phù hợp.
Ví dụ, nếu một khu vực bị phong tỏa để xử lý nguồn bệnh truyền nhiễm thì phạm vi phong tỏa phải dựa trên đánh giá dịch tễ; biện pháp phải được xem xét lại định kỳ và chấm dứt khi nguy cơ không còn. Việc duy trì hạn chế chỉ vì thuận lợi cho quản lý sẽ không đáp ứng yêu cầu cần thiết và tương xứng.
Đối với các biện pháp kéo dài, cơ quan nhà nước phải thường xuyên đánh giá liệu căn cứ ban đầu còn tồn tại hay không. Việc một biện pháp từng hợp pháp tại thời điểm ban hành không có nghĩa nó sẽ hợp pháp trong toàn bộ thời gian sau đó.
Phải bảo đảm thủ tục công bằng và cơ chế khắc phục
Người bị hạn chế quyền phải được biết căn cứ pháp lý, lý do thực tế, phạm vi và thời hạn của quyết định. Trong trường hợp thích hợp, họ phải có quyền trình bày ý kiến; yêu cầu xem xét lại; khiếu nại hoặc khởi kiện trước cơ quan có thẩm quyền độc lập.
Sự kiểm soát tư pháp đặc biệt quan trọng đối với những biện pháp tác động nghiêm trọng đến quyền như cách ly bắt buộc, cấm xuất cảnh, giám sát bí mật, cấm hội họp hoặc hạn chế tiếp cận thông tin.
Nếu quyết định hạn chế được ban hành trái pháp luật, người bị ảnh hưởng phải có khả năng yêu cầu chấm dứt biện pháp; khôi phục quyền; hủy bỏ quyết định; bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng biện pháp khắc phục khác phù hợp.
3. Hai ví dụ về việc cơ quan nhà nước giới hạn quyền con người
Ví dụ 1: Cơ quan y tế áp dụng biện pháp cách ly để phòng, chống dịch bệnh
Một người được xác định đã tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Cơ quan y tế có thẩm quyền ra quyết định yêu cầu người này cách ly tại một cơ sở y tế trong thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn nguy cơ lây lan cho cộng đồng.
Biện pháp cách ly đã giới hạn quyền tự do đi lại của cá nhân được ghi nhận tại Điều 12 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Tùy điều kiện thực hiện, biện pháp còn có thể ảnh hưởng đến quyền riêng tư, đời sống gia đình, quyền lao động và một số quyền khác.
Việc giới hạn này có thể được coi là hợp pháp vì khoản 3 Điều 12 cho phép hạn chế quyền tự do đi lại nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, cơ quan y tế vẫn phải chứng minh đầy đủ các điều kiện:
- Quyết định cách ly có căn cứ trong luật và được ban hành đúng thẩm quyền;
- Có căn cứ y tế, dịch tễ đáng tin cậy cho thấy cá nhân có nguy cơ truyền bệnh;
- Cách ly là biện pháp cần thiết, không thể thay thế hiệu quả bằng biện pháp ít hạn chế hơn như tự theo dõi sức khỏe tại nhà;
- Thời gian cách ly không dài hơn thời gian cần thiết về chuyên môn;
- Điều kiện cách ly bảo đảm nhân phẩm, nhu cầu thiết yếu và khả năng tiếp cận chăm sóc y tế;
- Người bị cách ly được thông báo lý do và có quyền yêu cầu xem xét quyết định;
- Biện pháp không được áp dụng phân biệt đối xử đối với một dân tộc, quốc tịch hoặc nhóm xã hội nhất định.
Nếu cơ quan y tế cách ly một người chỉ vì họ đến từ một quốc gia có dịch mà không đánh giá yếu tố tiếp xúc, thời gian, tình trạng sức khỏe hoặc các dữ liệu chuyên môn thì quyết định có thể thiếu tính cần thiết. Nếu cách ly kéo dài sau khi xét nghiệm và đánh giá y tế cho thấy người đó không còn nguy cơ thì biện pháp có thể trở nên không tương xứng.
Như vậy, bảo vệ sức khỏe cộng đồng là mục đích chính đáng nhưng không tự động hợp pháp hóa mọi biện pháp cách ly. Tính hợp pháp phải được xem xét dựa trên cách thiết kế và thực hiện biện pháp trong từng trường hợp.
Ví dụ 2: Cơ quan công an điều chỉnh địa điểm hoặc tuyến đường của một cuộc tuần hành hòa bình
Một nhóm công dân thông báo tổ chức cuộc tuần hành hòa bình qua khu vực đang diễn ra hoạt động cứu hộ khẩn cấp và có nhiều phương tiện chuyên dụng ra vào. Cơ quan công an yêu cầu điều chỉnh một đoạn tuyến đường, đồng thời bố trí lực lượng điều tiết giao thông và đề xuất địa điểm gần nhất để người tham gia vẫn có thể truyền đạt thông điệp đến đối tượng mà họ muốn hướng tới.
Quyết định này giới hạn quyền hội họp hòa bình được bảo vệ bởi Điều 21 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; đồng thời có thể ảnh hưởng đến quyền tự do biểu đạt theo Điều 19.
Biện pháp điều chỉnh tuyến đường có thể phù hợp với luật nhân quyền quốc tế nếu có căn cứ pháp luật; nhằm bảo vệ an toàn công cộng hoặc quyền của người khác; dựa trên nguy cơ cụ thể; chỉ giới hạn tại khu vực và thời gian cần thiết; đồng thời vẫn bảo đảm cuộc tuần hành được tổ chức trong phạm vi có thể nhìn thấy và nghe thấy đối tượng hướng tới.
Ủy ban Nhân quyền cho rằng quốc gia không chỉ có nghĩa vụ không can thiệp tùy tiện mà còn phải tạo điều kiện cho hội họp hòa bình. Các hạn chế về thời gian, địa điểm hoặc phương thức phải được đánh giá theo từng trường hợp; không được sử dụng để làm mất khả năng truyền đạt thông điệp của cuộc hội họp.[3]
Trong ví dụ này, cơ quan công an đã chọn giải pháp điều chỉnh một phần tuyến đường thay vì cấm toàn bộ cuộc tuần hành. Đây có thể là biện pháp ít hạn chế hơn và tương xứng với mục tiêu bảo đảm hoạt động cứu hộ.
Ngược lại, nếu cơ quan công an cấm hoàn toàn cuộc tuần hành trên toàn địa bàn chỉ với lý do “có thể gây ùn tắc” mà không đánh giá nguy cơ cụ thể; không cân nhắc điều tiết giao thông; không đề xuất tuyến đường thay thế thì biện pháp có khả năng không đáp ứng yêu cầu cần thiết và tương xứng.
Cũng không thể giải tán cuộc tuần hành chỉ vì một số người phản đối nội dung mà đoàn tuần hành muốn truyền đạt. Cơ quan nhà nước có nghĩa vụ áp dụng biện pháp hợp lý để bảo vệ người tham gia trước hành vi bạo lực của người chống đối; không được sử dụng nguy cơ do người chống đối tạo ra làm lý do mặc nhiên tước bỏ quyền hội họp của nhóm đang hành động hòa bình.
4. Ý nghĩa của việc kiểm soát giới hạn quyền con người
Việc pháp luật cho phép giới hạn một số quyền xuất phát từ nhu cầu điều hòa giữa tự do cá nhân với quyền của người khác và lợi ích chung. Trong một xã hội có tổ chức, quyền của mỗi người không thể được thực hiện theo cách gây tổn hại vô hạn đến cộng đồng. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy những khái niệm như an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội có thể bị sử dụng để biện minh cho sự can thiệp quá mức của Nhà nước.
Do đó, các yêu cầu về tính hợp pháp, mục đích chính đáng, sự cần thiết và tương xứng có vai trò như những hàng rào kiểm soát quyền lực công. Chúng buộc cơ quan nhà nước phải giải thích tại sao cần hạn chế quyền; dựa vào căn cứ nào; tại sao không thể sử dụng biện pháp nhẹ hơn và biện pháp sẽ kéo dài trong bao lâu.
Kiểm soát giới hạn quyền cũng giúp phân biệt giữa quản lý nhà nước hợp pháp với hành vi vi phạm quyền con người. Cùng một mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng, một quyết định cách ly có căn cứ y tế, thời hạn hợp lý và cơ chế xem xét có thể là giới hạn hợp pháp; trong khi việc giam giữ tùy tiện người bị nghi nhiễm bệnh mà không có căn cứ, không thời hạn và không cho khiếu nại có thể là vi phạm quyền.
Trình bày lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng về quyền con người trên thế giới
Tương tự, điều tiết giao thông để một cuộc tuần hành diễn ra an toàn có thể là biện pháp quản lý hợp pháp; nhưng cấm mọi cuộc hội họp có nội dung phê bình cơ quan công quyền là hành vi can thiệp không chính đáng.
Khi xem xét một biện pháp hạn chế quyền, không nên chỉ hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không mà còn phải đặt ra các câu hỏi: mục đích có thuộc những mục đích pháp luật quốc tế cho phép; nguy cơ có thật và cụ thể; biện pháp có ít xâm phạm nhất; phạm vi và thời hạn có phù hợp; có phân biệt đối xử; có cơ chế kiểm tra, khiếu nại và khắc phục hay không.
Kết luận
Giới hạn quyền con người là việc Nhà nước thu hẹp phạm vi hoặc điều kiện thực hiện một quyền trong những trường hợp được pháp luật cho phép nhằm bảo vệ quyền của người khác hoặc những lợi ích công cộng chính đáng. Tuy nhiên, quyền là nguyên tắc còn giới hạn chỉ là ngoại lệ. Mọi biện pháp hạn chế phải được quy định bởi pháp luật; nhằm đúng mục đích chính đáng; thực sự cần thiết; tương xứng; không phân biệt đối xử; không làm mất bản chất của quyền; có phạm vi, thời hạn rõ ràng và chịu sự kiểm soát độc lập. Hai trường hợp cơ quan y tế áp dụng cách ly để phòng dịch và cơ quan công an điều chỉnh tuyến đường của một cuộc tuần hành cho thấy giới hạn quyền có thể là cần thiết trong quản lý xã hội nhưng chỉ hợp pháp khi được áp dụng trên cơ sở chứng cứ, đúng thủ tục và theo phương án ít xâm phạm quyền nhất.
Danh mục tài liệu tham khảo
[1] United Nations, The Siracusa Principles on the Limitation and Derogation Provisions in the International Covenant on Civil and Political Rights, https://digitallibrary.un.org/record/497167/files/E_CN.4_1985_4-EN.pdf, truy cập ngày 12/7/2026.
[2] United Nations Human Rights Committee, General Comment No. 34: Article 19 – Freedoms of Opinion and Expression, https://digitallibrary.un.org/record/715606, truy cập ngày 12/7/2026.
[3] United Nations Human Rights Committee, General Comment No. 37: Article 21 – Right of Peaceful Assembly, https://digitallibrary.un.org/record/3884725/files/CCPR_C_GC_37-EN.pdf, truy cập ngày 12/7/2026.
[4] United Nations Human Rights Committee, General Comment No. 27: Freedom of Movement, https://digitallibrary.un.org/record/366604/files/CCPR_C_21_Rev.1_Add.9-EN.pdf, truy cập ngày 12/7/2026.


Để lại một phản hồi