Luật Hiến pháp nước ngoài là một trong những môn học quan trọng nhưng cũng khá khó đối với nhiều sinh viên luật bởi khối lượng kiến thức lớn, liên quan đến nhiều mô hình nhà nước, chính thể, cơ chế tổ chức quyền lực và các học thuyết pháp lý khác nhau trên thế giới. Để giúp người học dễ dàng hệ thống hóa kiến thức, bài viết này tổng hợp câu hỏi ôn thi môn Hiến pháp nước ngoài theo hướng trọng tâm, dễ học và dễ ghi nhớ. Đây sẽ là tài liệu ôn thi luật hiến pháp nước ngoài hữu ích dành cho sinh viên các trường luật, đặc biệt phù hợp để luyện thi kết thúc học phần, thi vấn đáp hoặc chuẩn bị cho các kỳ thi học kỳ. Bên cạnh đó, nội dung còn được trình bày theo dạng đề cương ôn tập luật hiến pháp nước ngoài với nhiều câu nhận định, câu tự luận và phần giải thích chi tiết giúp người học hiểu rõ bản chất của từng vấn đề.
- I. Câu nhận định môn Luật hiến pháp nước ngoài
- 1. Quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp giống với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức.
- 2. Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787 đã chính thức trao cho hệ thống Tòa án thẩm quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến.
- 3. Quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ giống với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức.
- 4. Phương pháp bảo hiến của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ giống với Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp.
- 5. Các phán quyết về Hiến pháp của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức đều có giá trị chung thẩm và có cơ quan cưỡng chế thi hành.
- 6. Phương pháp bảo hiến của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức giống với Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp.
- 7. Trong các cuộc bầu cử Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người trúng cử Tổng thống luôn nhận được sự ủng hộ của số đông cử tri.
- 8. Theo quy định của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787, Tổng thống là do cử tri trực tiếp bầu ra.
- 9. Thụy Sĩ là quốc gia điển hình cho chính thể đại nghị ở Châu Âu lục địa.
- 10. Theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tổng thống Liên bang có thể sử dụng quyền giải tán Đuma Quốc gia trong mọi trường hợp.
- 11. Theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tòa án Hiến pháp là cơ quan có thẩm quyền kết tội và phế truất Tổng thống Liên bang.
- 12. Chủ tịch Thượng viện Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là chủ tọa phiên đàn hạch Tổng thống tại Thượng viện.
- 13. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Cộng hòa Pháp thì Hạ viện yếu thế hơn so với Thượng viện.
- 14. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Vương quốc Anh thì Hạ viện yếu thế hơn so với Thượng viện.
- 15. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thì Thượng viện yếu thế hơn so với Hạ viện.
- 16. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Nhật Bản trên thực tế hiện nay thì Hạ viện hoàn toàn thắng thế so với Thượng viện.
- 17. Các quốc gia tổ chức Nghị viện theo mô hình lưỡng viện thì cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện đều do cử tri trực tiếp bầu ra.
- 18. Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản đã chính thức xác lập ưu thế của Thượng nghị viện so với Hạ nghị viện.
- 19. Theo Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản, Thủ tướng là do Hạ nghị viện bầu ra.
- 20. Trong chính thể đại nghị, trách nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện là trách nhiệm pháp lý.
- 21. Trong chính thể cộng hòa hỗn hợp, Nghị viện có quyền bất tín nhiệm tất cả các thành viên của Chính phủ.
- 22. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức tiến hành luận tội Tổng thống theo một thủ tục giống nhau.
- 23. Bộ trưởng Tư pháp là Tổng công tố của Vương quốc Anh.
- 24. Các quốc gia trong thế giới đương đại đều thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân để thực hành quyền công tố và kiểm sát chung.
- 25. Hiến pháp không thành văn của Vương quốc Anh chỉ bao gồm các tập tục chính trị mang tính Hiến pháp.
- 26. Vương quốc Anh tổ chức Nghị viện theo mô hình lưỡng viện nhằm dung hòa quyền lợi giữa bang lớn và bang nhỏ trong Nhà nước liên bang.
- II. Câu hỏi tự luận môn Luật hiến pháp nước ngoài
I. Câu nhận định môn Luật hiến pháp nước ngoài
Anh (Chị) hãy cho biết các nhận định sau đây là đúng hay sai và giải thích:
1. Quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp giống với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức.
=> Nhận định SAI.
Về quyền khởi kiện:
+ Đối với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức: quyền khởi kiện rộng rãi, đa dạng, phong phú. Bao gồm: các bên tranh chấp, một nhóm chủ thể nhất định và từng cá nhân Cộng hòa Liên bang Đức đủ điều kiện.
+ Đối với Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp, ban đầu khi được thành lập vào năm 1958 thì quyền khởi kiện chỉ được trao cho Tổng thống Pháp. Nhưng đến năm 1974 thì được mở rộng cho nhóm 60 Thượng nghị sĩ và 60 Hạ nghị sĩ. Tháng 3 năm 2000 được mở rộng cho toàn thể công dân Pháp => ban đầu là toan tính chính trị của Charles De Gaulle nhưng sau này khi mục đích đạt được thì Hội đồng Bảo hiến dần được tư pháp hóa.
Về thủ tục giám sát Hiến pháp:
+ Đối với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức:
– Phương pháp giám sát sau: Tòa án Hiến pháp Đức tiến hành xem xét một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến và từ chối áp dụng. Khi đạo luật đó là dự luật và đang nằm trong vòng xem xét của Nghị viện thì không là đối tượng xem xét của Tòa án Đức => không có chức năng phòng hiến.
Tuy nhiên, lý do mà Hans Kelsen cho rằng Tòa án Hiến pháp Đức chỉ nên giám sát sau vì Kelsen không muốn biến Tòa án Hiến pháp Đức thành một viện lập pháp thứ ba, có chức năng cản trở quá trình thông qua đạo luật tại Đức (thông qua Hạ viện và Nghị viện => vốn đã rất phức tạp và nhiều thủ tục) => tâm lý khác với Mỹ.
– Phương pháp giám sát cả cụ thể lẫn trừu tượng: là vụ án Hiến pháp Đức có thể gắn với vụ việc thông thường. Ngoài ra ở Đức cho phép một nhóm chủ thể nhất định: Tổng thống, Thủ tướng, 60 Hạ nghị sĩ, 60 Thượng nghị sĩ, đặc biệt là từng cá nhân Cộng hòa Liên bang Đức đều có quyền yêu cầu Tòa án Hiến pháp Đức xem xét một đạo luật mà Nghị viện ban hành.
+ Đối với Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp:
– Giám sát trước: Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp được xem là công cụ trong tay của Tổng thống Pháp nên theo yêu cầu của Tổng thống thì Hội đồng Bảo hiến sẽ tiến hành xem xét một dự luật do Nghị viện Pháp ban hành trước khi có hiệu lực => kết quả xem xét này là cơ sở để tư vấn cho Cộng hòa Pháp có nên phủ quyết dự luật đó hay không => có chức năng phòng ngừa vi hiến.
Một khi luật đã có hiệu lực và đã áp dụng trong thực tế thì nó không còn là đối tượng xem xét của Hội đồng Bảo hiến.
– Chỉ giám sát trừu tượng: tất cả các giám sát trước đều là giám sát trừu tượng.
Nhận định sai. Vì quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của Hội đồng Bảo hiến Pháp không giống với Tòa án Hiến pháp Đức.
Quyền khởi kiện giám sát Hiến pháp lên Hội đồng Bảo hiến của Pháp ban đầu chỉ thuộc về Tổng thống, sau này dần được tư pháp hóa, mở rộng cho công dân Cộng hòa Pháp cũng được quyền này.
Còn ở Đức, quyền này được trao rộng rãi cho các bên tranh chấp trong vụ án cụ thể, một nhóm chủ thể nhất định theo quy định pháp luật (Tổng thống, Thủ tướng, nhóm Thượng nghị sĩ, nhóm Hạ nghị sĩ nhất định) và từng cá nhân công dân.
Về thủ tục giám sát, Hội đồng Bảo hiến xem xét theo thủ tục hành chính mệnh lệnh, họp kín còn Tòa án Hiến pháp giám sát theo thủ tục tố tụng Hiến pháp riêng độc lập với thủ tục thông thường.
Như vậy cả về quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của hai mô hình bảo hiến này hoàn toàn khác nhau.
2. Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787 đã chính thức trao cho hệ thống Tòa án thẩm quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến.
=> Nhận định SAI.
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 không trao cho hệ thống Tòa án thẩm quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến và từ chối áp dụng.
Hiến pháp năm 1787 không có một điều khoản nào để cho Tối cao Pháp viện Mỹ được quyền tuyên bố đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến và từ chối áp dụng.
Vì tại thời điểm năm 1787 khi viết Hiến pháp thì các nhà Nghị viện có thể chưa từng nghĩ ra thẩm quyền này.
Tòa án ở Mỹ chỉ thật sự có những quyền này khi từ năm 1803 xuất phát từ một án lệ nổi tiếng trong lịch sử tư pháp của nước Mỹ (án lệ Marbury kiện Madison – cha đẻ của bản Hiến pháp Mỹ; người đứng ra thụ lý và giải quyết vụ kiện này là Chánh án Tối cao Pháp viện đầu tiên của nước Mỹ tên là John Marshall).
=> Mô hình này gắn liền với án lệ, với vụ việc thực tế, gắn với một chức danh tư pháp – John Marshall.
Tối cao Pháp viện chỉ có quyền này từ năm 1803 trong vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison.
Phán quyết của Chánh án Tối cao Pháp viện đầu tiên của Mỹ John Marshall đã đặt nền móng kiến tạo cho Tòa án Mỹ quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến khi từ chối một thẩm quyền mà luật năm 1789 trao cho Tòa án nhưng đổi lại ông tạo ra cho Tòa án Mỹ một thẩm quyền quan trọng hơn rất nhiều là tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến.
3. Quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ giống với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức.
=> Nhận định SAI.
+ Hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ:
– Cơ chế giám sát mang tính cụ thể: ở Mỹ, vụ việc về Hiến pháp luôn gắn liền với vụ việc thông thường như án hình sự, án dân sự, án kinh tế,… Trong quá trình giải quyết vụ án thường thì Tòa án mang một đạo luật do Nghị viện ban hành để áp dụng, giải quyết vụ việc đó. Nếu có yêu cầu của bên tranh chấp đề nghị Tòa án phải xem xét tính hợp hiến của đạo luật đó và đặc biệt đương sự chứng minh việc tuyên bố đạo luật đó là hợp hiến hay vi hiến sẽ ảnh hưởng trực tiếp gì đến quyền lợi của mình trong một vụ án cụ thể => sau khi Tòa án tuyên đạo luật hợp hiến hoặc vi hiến thì nó sẽ là đạo luật để giải quyết vụ án thông thường, gắn với một vụ án cụ thể và lợi ích cụ thể của các bên tranh chấp => đối với người Mỹ, chân lý phải là cụ thể.
– Quyền khởi kiện: chỉ thuộc về các bên tranh chấp trong một vụ án cụ thể và phải chứng minh được rằng việc tuyên bố luật vi hiến ảnh hưởng trực tiếp gì đến quyền lợi của mình.
+ Hệ thống Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức:
– Cơ chế giám sát mang tính cả cụ thể lẫn trừu tượng: là vụ án Hiến pháp Đức có thể gắn với vụ việc thông thường. Ngoài ra, ở Đức cho phép một nhóm chủ thể nhất định: Tổng thống, Thủ tướng, 60 Hạ nghị sĩ, 60 Thượng nghị sĩ, đặc biệt là từng cá nhân Cộng hòa Liên bang Đức đều có quyền yêu cầu Tòa án Hiến pháp Đức xem xét một đạo luật mà Nghị viện ban hành.
– Quyền khởi kiện: rộng rãi, đa dạng, phong phú: các bên tranh chấp, một nhóm chủ thể nhất định và từng cá nhân Cộng hòa Liên bang Đức đủ điều kiện.
=> Do đó, quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức là không giống nhau.
Nhận định sai. Bởi quyền khởi kiện và thủ tục giám sát Hiến pháp của Mỹ khác với Tòa án Hiến pháp của Đức.
Quyền khởi kiện lên hệ thống Tòa án Mỹ chỉ thuộc về các bên tranh chấp trong vụ án cụ thể. Còn ở Đức, quyền này được trao rộng rãi cho các bên tranh chấp trong vụ án cụ thể, một nhóm chủ thể nhất định theo quy định pháp luật như Tổng thống, Thủ tướng, nhóm Thượng nghị sĩ, nhóm Hạ nghị sĩ nhất định và từng cá nhân công dân.
Về thủ tục giám sát, Mỹ không có thủ tục tố tụng Hiến pháp riêng mà vụ việc Hiến pháp được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường. Còn Đức có thủ tục tố tụng Hiến pháp riêng, độc lập với thủ tục tố tụng thông thường, được quy định trong Luật về Tòa án Hiến pháp.
4. Phương pháp bảo hiến của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ giống với Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp.
=> Nhận định SAI.
+ Phương pháp bảo hiến của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ:
– Phương pháp giám sát sau: là Tòa án ở Mỹ chỉ được xem xét một đạo luật do Nghị viện Mỹ ban hành có vi hiến hay không và từ chối áp dụng khi đạo luật đó đã được Nghị viện thông qua, đã có hiệu lực và đã phát huy hiệu lực trong thực tế cuộc sống.
Điều này có nghĩa là khi đạo luật đó còn là dự luật thì không còn là đối tượng xem xét của Tòa án => như vậy, với phương pháp giám sát sau không có chức năng phòng ngừa vi hiến.
Vì nước Mỹ là nước có truyền thống phân quyền mạnh, người Mỹ có tư duy rõ ràng: người Mỹ quan niệm rằng việc làm luật là thẩm quyền riêng của Nghị viện mà Tòa án thì không được can thiệp vào => với tư cách là cơ quan áp dụng pháp luật thì Tòa án chỉ được quyền tuyên luật đó là vi hiến và không áp dụng; luật còn là dự thảo thì Tòa án không được can thiệp.
– Giám sát cụ thể: ở Mỹ, vụ việc về Hiến pháp luôn gắn liền với vụ việc thông thường như án hình sự, án dân sự, án kinh tế,… Trong quá trình giải quyết vụ án thường thì Tòa án mang một đạo luật do Nghị viện ban hành để áp dụng, giải quyết vụ việc đó. Nếu có yêu cầu của bên tranh chấp đề nghị Tòa án phải xem xét tính hợp hiến của đạo luật đó và đặc biệt đương sự chứng minh việc tuyên bố đạo luật đó là hợp hiến hay vi hiến sẽ ảnh hưởng trực tiếp gì đến quyền lợi của mình trong một vụ án cụ thể => sau khi Tòa án tuyên đạo luật hợp hiến hoặc vi hiến thì nó sẽ là đạo luật để giải quyết vụ án thông thường, gắn với một vụ án cụ thể và lợi ích cụ thể của các bên tranh chấp => đối với người Mỹ, chân lý phải là cụ thể.
Như vậy, với phương pháp bảo hiến trên thì người Mỹ đã chấp nhận rủi ro: dù đạo luật đó có vi hiến thật nhưng người dân không biết gì => thẩm phán ở Mỹ sẽ làm ngơ, chỉ khi nào có đơn từ của chính đương sự yêu cầu thì mới xem xét.
+ Phương pháp bảo hiến của Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp:
– Giám sát trước: Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp là công cụ trong tay của Tổng thống Pháp, cho nên theo yêu cầu của Tổng thống thì Hội đồng Bảo hiến sẽ tiến hành xem xét một dự luật do Nghị viện Pháp ban hành trước khi nó có hiệu lực => kết quả xem xét này là cơ sở để tư vấn cho Cộng hòa Pháp là có nên phủ quyết dự luật đó hay không => có chức năng phòng ngừa vi hiến.
Một khi luật đã có hiệu lực và đã áp dụng trong thực tế thì nó không còn là đối tượng xem xét của Hội đồng Bảo hiến.
– Chỉ giám sát trừu tượng: tất cả các giám sát trước đều là giám sát trừu tượng.
=> Phương pháp bảo hiến của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp không giống nhau.
5. Các phán quyết về Hiến pháp của hệ thống Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức đều có giá trị chung thẩm và có cơ quan cưỡng chế thi hành.
=> Nhận định SAI.
+ Theo đó, các phán quyết của Tòa án Mỹ về nguyên tắc chỉ có giá trị rất hẹp, có giá trị đối với các bên tranh chấp trong một vụ án cụ thể.
Và Tòa án Mỹ chỉ có quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến và từ chối áp dụng. Còn Nghị viện có sửa luật hay không và sửa như thế nào hay là làm luật mới là việc của Nghị viện, Tòa án không can thiệp => các phán quyết về Hiến pháp của Tòa án Mỹ không có giá trị chung thẩm và hoàn toàn có thể bị kháng cáo, kháng nghị ở cấp cao hơn; có cơ quan cưỡng chế thi hành án như một vụ án thông thường.
+ Còn riêng đối với Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức: các phán quyết về Hiến pháp của Tòa án Hiến pháp Đức không chỉ có giá trị đối với các bên tranh chấp mà còn có giá trị với tất cả các chủ thể trong đời sống chính trị của nhân dân Cộng hòa Liên bang Đức => có giá trị chung thẩm, không thể kháng cáo, kháng nghị ở cấp cao hơn, không có cơ quan cưỡng chế thi hành án mà chỉ được đảm bảo thi hành bằng danh dự, uy tín chuyên môn, trình độ của những người ra phán quyết và bằng văn minh chính trị của những chủ thể trong đời sống chính trị của nhân dân Cộng hòa Liên bang Đức.
=> Như vậy, các phán quyết của Tòa án Hợp chúng quốc Hoa Kỳ không có giá trị chung thẩm và có cơ quan cưỡng chế thi hành; còn các phán quyết của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức có giá trị chung thẩm và không có cơ quan cưỡng chế thi hành.
6. Phương pháp bảo hiến của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức giống với Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp.
=> Nhận định SAI.
+ Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức:
– Giám sát sau: Tòa án Đức chỉ xem xét tính hợp hiến của một đạo luật do Nghị viện Đức ban hành khi đạo luật đó đã được thông qua, đã phát huy hiệu lực trong thực tiễn. Điều này có nghĩa là khi đạo luật đó còn là dự luật và đang nằm trong vòng xem xét của Nghị viện thì nó không là đối tượng xem xét của Tòa án. Mô hình bảo hiến của Đức không có chức năng phòng hiến (phòng ngừa vi phạm Hiến pháp).
Lý do Đức giám sát sau: nếu cho Tòa án Hiến pháp giám sát trước thì nó sẽ có nguy cơ biến Tòa án Hiến pháp Đức thành một viện lập pháp thứ ba làm ngăn cản tiến trình thông qua một đạo luật tại Nghị viện của Đức vốn dĩ đã quá phức tạp.
– Giám sát cả cụ thể lẫn trừu tượng: có nghĩa là ở Đức, Tòa án Hiến pháp sẽ tiến hành xem xét tính hợp hiến của một đạo luật do Nghị viện ban hành theo yêu cầu của các bên tranh chấp trong một vụ án cụ thể (các bên tranh chấp đề nghị xem xét đạo luật đó có hợp hiến hay không).
Ngoài ra ở Đức cho phép một số chủ thể nhất định như Tổng thống, Thủ tướng, một nhóm Thượng nghị sĩ, Hạ nghị sĩ, thậm chí từng cá nhân công dân Cộng hòa Liên bang Đức đủ điều kiện vẫn có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án Hiến pháp Đức xem xét về tính hợp hiến của một đạo luật hay một hành vi nào đó mà không cần chứng minh rằng nó ảnh hưởng gì đến mình (ví dụ công dân thấy vi hiến vẫn có thể đề nghị Tòa án xem xét dù không ảnh hưởng đến mình mà vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc thì Tòa vẫn phải giải quyết).
+ Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp:
– Giám sát trước: Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp chỉ xem xét tính hợp hiến của một đạo luật do Nghị viện ban hành khi nó còn là dự luật và đang nằm trong vòng thảo luận của hai viện Cộng hòa Pháp.
-> Tư vấn cho Tổng thống có phủ quyết luật hay không. Và một khi luật đã được thông qua và có hiệu lực thì không là đối tượng xem xét của Hội đồng Bảo hiến nữa. Với cơ chế này thì Hội đồng Bảo hiến của Pháp có chức năng phòng hiến.
– Chỉ giám sát trừu tượng: vì luật chưa có hiệu lực, chưa có ảnh hưởng đến ai, chưa gây thiệt hại cho ai nên mọi sự giám sát trước đều là giám sát trừu tượng.
7. Trong các cuộc bầu cử Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người trúng cử Tổng thống luôn nhận được sự ủng hộ của số đông cử tri.
=> Nhận định SAI.
– Vì một ứng viên muốn trở thành Tổng thống phải giành được số phiếu tối thiểu là 270.
Về lý thuyết, ứng viên nào giành được đa số tương đối phiếu phổ thông thì giành được toàn bộ phiếu đại cử tri của tiểu bang đó. Đây được gọi là nguyên tắc “được ăn cả, ngã về không – winner takes all” (ứng cử viên nào chỉ được thắng suýt sao 1% phiếu của cử tri ở tiểu bang đó thì toàn bộ số phiếu đại cử tri sẽ thuộc về ứng cử viên đó, không chia chác, không mặc cả, không vớt vát, không chia theo tỷ lệ,…).
Điều này khiến cho về mặt lý thuyết một ứng cử viên chỉ cần giành được hết phiếu đại cử tri ở 11 bang có nhiều đại cử tri nhất là có thể trúng cử chứ không phải luôn nhận được sự ủng hộ của số đông cử tri.
Có những Tổng thống thắng phiếu cử tri nhưng thua phiếu đại cử tri.
Bên cạnh đó, Mỹ theo cơ chế cử tri bầu ra đại cử tri và đại cử tri bầu Tổng thống qua ba giai đoạn.
Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tiến hành theo từng tiểu bang và mỗi bang có một số lượng đại cử tri nhất định tương ứng với số dân bang đó.
Ứng cử viên Tổng thống nào được quá nửa số phiếu hợp lệ ở tiểu bang thì toàn bộ số lượng đại cử tri thuộc về ứng cử viên đó, đặc biệt khi thắng ở các bang lớn có số lượng đại cử tri nhiều.
Trong giai đoạn hai khi cử tri đi bầu ra đại cử tri, các ứng cử viên đi vận động tranh cử ở các bang chỉ cần có chiến lược tranh cử hợp lý thì hoàn toàn có thể thắng cử.
Điều này làm cho người trúng cử Tổng thống Mỹ chắc chắn nhận được sự ủng hộ của số đông đại cử tri nhưng chưa chắc nhận được sự ủng hộ của số đông cử tri.
Cụ thể trong lịch sử bầu cử Tổng thống Mỹ đã có ba vị Tổng thống trúng cử nhưng không đại diện cho số đông nhân dân Mỹ.
8. Theo quy định của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787, Tổng thống là do cử tri trực tiếp bầu ra.
=> Nhận định SAI.
– Theo thể thức do cơ quan lập pháp tiểu bang đó quy định, mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của bang đó tại Quốc hội Liên bang.
Nhưng không một Thượng nghị sĩ, Hạ nghị sĩ hoặc một quan chức nào đang đảm nhiệm chức vụ có lợi tức được chọn làm đại cử tri.
Theo đó, việc bầu cử Tổng thống Mỹ phải trải qua ba giai đoạn:
– Giai đoạn 1: hai Đảng chính trị của Mỹ đề cử các ứng cử viên đại diện cho Đảng mình ra tranh cử Tổng thống Mỹ.
Cuộc bầu cử này diễn ra định kỳ bốn năm một lần và cơ hội để đại diện cho Đảng mình ra ứng cử Tổng thống thuộc về tất cả các Đảng viên, cứ đủ điều kiện, đủ tiêu chuẩn thì ra ứng cử.
Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa phải tiến hành Đại hội Đảng để chốt ứng viên nào đại diện cho Đảng mình ra tranh cử.
Để đề cử một ứng cử viên đại diện cho Đảng mình ra tranh cử là câu chuyện nội bộ của một Đảng. Điều lệ tiêu chuẩn của Đảng, còn pháp luật không can thiệp.
Điều lệ của hai Đảng chính trị ở Mỹ đều quy định: ứng cử viên nào muốn đại diện Đảng ra tranh cử Tổng thống Mỹ thì phải về từng tiểu bang để vận động trong nội bộ Đảng => được ví như cuộc bầu cử sơ bộ, đấu tranh sơ bộ trong nội Đảng.
– Giai đoạn 2: cử tri Mỹ đi bỏ phiếu để bầu ra các đại cử tri (như vậy, theo đúng tinh thần của Hiến pháp Mỹ thì cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ là cuộc bầu cử gián tiếp: dân Mỹ bầu đại cử tri, đại cử tri bầu Tổng thống).
(Số lượng đại cử tri ở Mỹ: tổng số Thượng nghị sĩ + Hạ nghị sĩ + 3 đại cử tri đặc biệt đại diện cho Thủ đô Washington DC => 100 Thượng nghị sĩ + 435 Hạ nghị sĩ + 3 đại cử tri = 538 đại cử tri => ứng cử viên nào được 270 phiếu đại cử tri trở lên thì trở thành Tổng thống Mỹ).
Có một luật chơi được đánh giá rất nghiệt ngã đã tồn tại trong bầu cử Tổng thống Mỹ suốt hơn 300 năm qua: “ĐƯỢC ĂN CẢ, NGÃ VỀ KHÔNG”. Ứng cử viên nào chỉ thắng suýt sao 1% phiếu của cử tri ở tiểu bang đó thì toàn bộ phiếu đại cử tri sẽ thuộc về ứng cử viên đó, không chia chác, không mặc cả, không vớt vát, không chia theo tỷ lệ,…
Luật chơi này làm cho cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ kịch tính đến phút cuối. Đồng thời làm cho Tổng thống Mỹ luôn luôn nhận được sự ủng hộ của quá nửa tổng số đại cử tri (270 phiếu trở lên) nhưng người này chưa chắc nhận được sự ủng hộ của số đông nhân dân Mỹ => đây là trường hợp thắng phiếu cử tri nhưng thua phiếu đại cử tri.
– Giai đoạn 3: đại cử tri Mỹ về thủ đô của tiểu bang mình để bỏ phiếu bầu ra Tổng thống Mỹ => kết quả bỏ phiếu, thùng phiếu bị niêm phong chuyển về và Thượng viện Mỹ là người mở phiếu và công bố người trúng cử => người trúng cử Tổng thống Mỹ phải được 270 phiếu đại cử tri trở lên.
Nếu như không có ứng cử viên nào được 270 phiếu đại cử tri trở lên thì Hạ viện tiến hành bầu Tổng thống Mỹ trong số hai ứng cử viên có số phiếu đại cử tri cao nhất; người nào được nhiều phiếu hơn thì trở thành Tổng thống Mỹ, người thấp hơn thì làm Phó Tổng thống nhưng thực tế hơn 300 năm qua chưa có trường hợp nào như vậy.
Như vậy, theo đúng quy định của Hiến pháp Mỹ thì bầu cử Tổng thống Mỹ là việc cử tri bầu ra đại cử tri, đại cử tri bầu ra Tổng thống Mỹ hay còn gọi là cử tri bầu cử gián tiếp thông qua đại cử tri.
Tuy nhiên trên thực tế nước Mỹ theo cơ chế lưỡng Đảng và vấn đề kỷ luật Đảng rất chặt chẽ, bắt Đảng viên của Đảng nào phải bỏ phiếu ủng hộ Đảng mình => làm cho cuộc bầu cử trên thực tế chẳng khác nào là cuộc bầu cử trực tiếp.
Bởi vì chỉ cần kết thúc giai đoạn hai nhìn vào danh sách đại cử tri là đã biết ai trúng cử Tổng thống Mỹ.
9. Thụy Sĩ là quốc gia điển hình cho chính thể đại nghị ở Châu Âu lục địa.
=> Nhận định SAI.
Đối với quân chủ đại nghị thì Vương quốc Anh là mô hình sáng tạo. Còn Thụy Sĩ là một gương mặt không giống ai với chế độ cai trị rất đặc biệt.
Vì Thụy Sĩ không phải là quốc gia điển hình cho chính thể đại nghị ở Châu Âu lục địa.
Thụy Sĩ theo một chính thể riêng khác biệt với quyền lập pháp thuộc về Quốc hội Liên bang, ngoài nắm quyền làm luật còn có nhiều quyền khác như bầu ra Hội đồng Liên bang.
Quyền hành pháp giao cho Hội đồng Liên bang và do Hội đồng Quốc gia bầu gồm 7 thành viên trong 7 lĩnh vực, nhiệm kỳ 7 năm, mỗi năm một trong 7 người sẽ luân phiên thay nhau làm Chủ tịch Hội đồng Liên bang.
Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp thể hiện thông qua cơ quan lập pháp có quyền xét báo cáo, chất vấn, phê bình và bỏ phiếu bất tín nhiệm với Hội đồng Liên bang nhưng chỉ nhằm mục đích nhắc nhở, cảnh cáo.
Hội đồng Liên bang không bao giờ bị lật đổ, ngược lại Chủ tịch Hội đồng Liên bang không có quyền giải tán Quốc hội Liên bang trước hạn.
Thụy Sĩ – chế độ đặc biệt. Một số thông tin về tổ chức như sau:
+ Có sự phân chia quyền lực giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện và Nghị viện cũng tổ chức thành hai viện: Hội đồng Quốc gia (Hạ viện) và Hội đồng các tiểu bang (Thượng viện).
Nghị viện có quyền lập pháp, quyền ân xá (trên thế giới thường trao cho nguyên thủ quốc gia), giải quyết tranh chấp quyền lực giữa hành pháp và tư pháp => Thụy Sĩ có xu hướng đề cao Nghị viện và trao nhiều quyền cho Nghị viện => chịu ảnh hưởng bởi lý thuyết Nghị viện tối cao.
+ Quyền hành pháp của Thụy Sĩ được trao cho Hội đồng Liên bang (Chính phủ của Thụy Sĩ) => Hội đồng Liên bang do Hội đồng Quốc gia bầu ra.
Hội đồng Liên bang gồm 7 thành viên và nhiệm kỳ 7 năm, cứ mỗi một năm sẽ có một thành viên lên làm Chủ tịch Hội đồng Liên bang (luân phiên 7 năm 7 người).
Chủ tịch Hội đồng Liên bang là nguyên thủ quốc gia (nguyên thủ quốc gia có hai tư cách: đứng đầu Nhà nước và đứng đầu Chính phủ).
Chia làm 7 lĩnh vực cho 7 người phụ trách (đóng vai trò như một bộ trưởng).
Chế độ làm việc của Hội đồng Liên bang độc lập: mỗi người phụ trách một lĩnh vực và đều có cơ hội trở thành Chủ tịch của Hội đồng Liên bang một năm => tạo nên chế độ hành pháp tập thể.
Các quyết định của Hội đồng Liên bang phải có ít nhất 4/7 thành viên đồng ý => hoạt động không mang tính hành chính mệnh lệnh.
+ Mối quan hệ lập pháp và hành pháp: lập pháp của Thụy Sĩ có quyền bầu ra cơ quan hành pháp nên Hội đồng Quốc gia có quyền xét báo cáo công tác, chất vấn, phê bình và có quyền ra tuyên bố bất tín nhiệm đối với Hội đồng Liên bang.
Tuy nhiên, việc tuyên bố bất tín nhiệm chỉ nhằm mục đích làm cho Hội đồng Liên bang phải rút kinh nghiệm, sửa sai chứ không nhằm mục đích lật đổ Hội đồng Liên bang và Hội đồng Liên bang cũng không có quyền giải tán Hội đồng Quốc gia trước hạn.
Lý do: xét về địa lý thì Thụy Sĩ có vị trí địa lý biệt lập => khí hậu lạnh, ôn hòa => làm cho con người Thụy Sĩ thường có tâm lý ôn hòa, trung lập => không bao giờ bị cuốn theo những tác động của các nước láng giềng => có hướng đi riêng.
Đời sống kinh tế rất phát triển, trình độ dân trí cao => đạt được yếu tố văn minh chính trị => mức độ tranh chấp không gay gắt => đề cao tình cảm và tình người => xem quyền lực nhà nước như một nghề trong xã hội như bao nghề khác (làm vì trách nhiệm, vì phụng sự quốc gia) => không đặt ra câu chuyện bất tín nhiệm lật đổ nhau => nếu bất tín nhiệm nhau thì sợ không ai làm => cách cai trị ở Thụy Sĩ giống với lý thuyết của Karl Marx về lý thuyết xã hội chủ nghĩa.
10. Theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tổng thống Liên bang có thể sử dụng quyền giải tán Đuma Quốc gia trong mọi trường hợp.
=> Nhận định SAI.
Vì theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tổng thống Liên bang chỉ có thể sử dụng quyền giải tán Đuma Quốc gia trong 3 trường hợp.
Thứ nhất, sau ba lần mà Đuma Quốc gia không chịu phê chuẩn ứng cử viên Thủ tướng do Tổng thống đề cử.
Thứ hai, trường hợp Đuma Quốc gia tuyên bố bất tín nhiệm Chính phủ, Tổng thống có thể chấp nhận cho Chính phủ từ chức hoặc đề nghị Đuma cho Chính phủ thêm 3 tháng; nếu hết thời hạn này mà Đuma vẫn chưa ra quyết định thì Tổng thống có quyền hoặc cho Chính phủ từ chức hoặc ký sắc lệnh giải tán Đuma.
Thứ ba, trường hợp Chính phủ tự chủ động đặt vấn đề tín nhiệm ra trước Đuma mà nhận được kết quả Đuma bất tín nhiệm.
Ngoài ra, Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định 3 trường hợp Tổng thống không được giải tán Đuma:
+ Đuma mới thành lập chưa được 1 năm (phải để thử sức) thì không được giải tán.
+ Kể từ ngày Đuma Quốc gia ra nghị quyết buộc tội đối với Tổng thống cho đến khi Hội đồng Liên bang có kết luận chính thức về vấn đề này nhằm tránh trường hợp trả đũa Đuma.
+ Đất nước có chiến tranh, tình trạng khẩn cấp và nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang chưa đầy 6 tháng.
Cụ thể:
– Hiến pháp năm 1993 của Liên bang Nga quy định Tổng thống Liên bang Nga được quyền ký sắc lệnh giải tán Đuma Quốc gia trong 3 tình huống sau:
Thứ nhất, sau 3 lần Đuma Quốc gia Nga không phê chuẩn ứng cử viên Thủ tướng do Tổng thống đề cử thì Tổng thống được quyền ký sắc lệnh giải tán Đuma Quốc gia và tự mình bổ nhiệm Thủ tướng.
Các nhà lập hiến cho rằng một trong những chức năng quan trọng của Đuma Quốc gia là phải thành lập được Thủ tướng và Nội các nhưng đến 3 lần không chọn được điều này chứng minh Đuma quá phức tạp và kém năng lực nên cần giải tán để bầu Đuma mới đỡ phức tạp và có năng lực hơn.
(Đặc biệt Thủ tướng Chính phủ là chức danh không thể thiếu để điều hành quản lý đất nước nên Tổng thống phải tự mình bổ nhiệm Thủ tướng tạm thời để quản lý đất nước và không cần Đuma Quốc gia can thiệp).
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là trong Hiến pháp của Nga quy định sau 3 lần nhưng không rõ là 3 lần cho 1 ứng cử viên hay 3 lần này cho 3 ứng cử viên khác nhau => cần có lời giải thích của Tòa án Hiến pháp.
Thứ hai, trong trường hợp Đuma Quốc gia ra tuyên bố bất tín nhiệm với Thủ tướng và Nội các thì Tổng thống Liên bang Nga hoặc là chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng và Nội các hoặc là đề nghị Đuma Quốc gia xem xét trong thời hạn 3 tháng.
Hết thời hạn 3 tháng mà Đuma Quốc gia Nga vẫn giữ nguyên bất tín nhiệm với Thủ tướng và Nội các thì trong tình huống này Tổng thống hoặc chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng và Nội các hoặc là ký sắc lệnh giải tán Đuma.
Thứ ba, trong trường hợp Thủ tướng và Nội các tự đặt vấn đề tín nhiệm ra trước Đuma Quốc gia và Đuma bất tín nhiệm thì Tổng thống hoặc là chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng và Nội các hoặc là đề nghị Đuma Quốc gia xem xét lại trong thời hạn 7 ngày.
Hết thời hạn 7 ngày mà Đuma vẫn giữ nguyên quyết định không tín nhiệm thì Tổng thống hoặc là chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng và Nội các hoặc là ra sắc lệnh giải tán Đuma Quốc gia.
11. Theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tòa án Hiến pháp là cơ quan có thẩm quyền kết tội và phế truất Tổng thống Liên bang.
=> Nhận định SAI.
– Theo quy định tại Điều 93 của Hiến pháp năm 1993, Tổng thống có thể bị xét xử theo thủ tục đàn hạch (impeachment) nếu Tổng thống bị buộc tội phản quốc hoặc phạm tội nghiêm trọng mà Tòa án Tối cao khẳng định có đầy đủ chứng cứ phạm tội và Tòa án Hiến pháp khẳng định việc buộc tội Tổng thống hoàn toàn tuân thủ các quy định của luật tố tụng.
(Khi có từ 1/3 trở lên số đại biểu Hạ viện đề nghị buộc tội Tổng thống, Hạ viện sẽ đưa vấn đề buộc tội Tổng thống ra phiên họp toàn thể của Hạ viện.
Tổng thống sẽ bị buộc tội nếu có đủ từ 2/3 trở lên số phiếu của các thành viên Hạ viện nhất trí buộc tội.
Thượng viện sẽ mở phiên họp toàn thể để xem xét việc buộc tội Tổng thống của Hạ viện.
Tổng thống sẽ bị phế truất khỏi chức vụ khi có ít nhất 2/3 số Thượng nghị sĩ bỏ phiếu nhất trí với sự buộc tội của Hạ viện.
Quyết định của Thượng viện về việc phế truất Tổng thống phải được tiến hành trong vòng 3 tháng kể từ thời điểm buộc tội của Hạ viện.
Sự buộc tội Tổng thống của Hạ viện coi như bị bác bỏ nếu không có đủ ít nhất 2/3 số Thượng nghị sĩ có mặt bỏ phiếu thuận với việc buộc tội của Hạ viện).
Hiến pháp năm 1993 của Liên bang Nga quy định thủ tục phế truất Tổng thống Nga như sau:
Căn cứ nếu có một trong các hành vi sau: phản quốc, vi hiến hoặc phạm một trọng tội nào khác thì thủ tục phế truất như sau:
+ Bước 1: Đuma Quốc gia Nga (Hạ viện) ra một nghị quyết cáo buộc đối với Tổng thống (chỉ thành công khi được 2/3 thành viên Đuma đồng ý).
+ Bước 2: Tòa án Tối cao của Liên bang Nga sẽ ra phán quyết hành vi của Tổng thống có cấu thành tội phạm không (phụ trách luật nội dung).
+ Bước 3: Tòa án Hiến pháp của Liên bang Nga đóng vai trò theo dõi trình tự thủ tục xét xử Tổng thống (phụ trách luật hình thức).
+ Bước 4: Thượng viện Nga sẽ bỏ phiếu phế truất Tổng thống với ít nhất 2/3 thành viên đồng ý.
Nhận định sai. Vì theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 để kết tội và phế truất Tổng thống Liên bang phải có sự tham gia của 4 cơ quan:
1. Đuma Quốc gia Nga.
2. Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga.
3. Tòa án Tối cao Liên bang Nga.
4. Hội đồng Liên bang (Thượng viện).
Mỗi cơ quan có nhiệm vụ riêng. Cho nên Tòa án Hiến pháp không phải là cơ quan có thẩm quyền kết tội và phế truất Tổng thống Liên bang theo Hiến pháp năm 1993.
12. Chủ tịch Thượng viện Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là chủ tọa phiên đàn hạch Tổng thống tại Thượng viện.
=> Nhận định SAI.
– Người chủ tọa phiên đàn hạch Tổng thống Mỹ không phải là Chủ tịch Thượng viện Mỹ mà là Chánh án Tối cao Pháp viện Mỹ.
Có 3 lý do:
Thứ nhất, theo quy định của Hiến pháp Mỹ thì Phó Tổng thống sẽ là Chủ tịch Thượng viện Mỹ, vì vậy nếu để Chủ tịch Thượng viện Mỹ ngồi chủ tọa phiên đàn hạch sẽ không khách quan, không công bằng ở hai góc độ:
+ Có nguy cơ tranh giành quyền lực, nếu Phó Tổng thống đàn hạch thành công thì Phó Tổng thống sẽ lên làm Tổng thống.
+ Bao che, dung túng nhau vì Phó Tổng thống là cấp phó do Tổng thống lựa chọn.
=> Ở cả hai góc độ này đều cho thấy không có sự khách quan và công bằng.
Thứ hai, nước Mỹ là quốc gia có truyền thống phân quyền và phân quyền triệt để, vì vậy để có thể khử được Tổng thống ra khỏi chiếc ghế quyền lực mạnh mẽ và quan trọng đòi hỏi phải có sự hợp sức của hai nhánh quyền lực còn lại đúng theo cơ chế kiềm chế và đối trọng lẫn nhau.
Thứ ba, đàn hạch Tổng thống Mỹ suy cho cùng bản chất là một dạng trách nhiệm pháp lý:
(Muốn đàn hạch Tổng thống thành công thì Tổng thống phải có hành vi sai trái, phải có chứng cứ để chứng minh, phải có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, phải được tiến hành theo quy trình tố tụng, phải có tranh tụng công khai và phải có phán quyết).
=> Đây chính là sở trường, chức năng của Thẩm phán, của phiên tòa, của cơ quan tư pháp => không phải là chức năng, sở trường của Nghị viện.
(Chức năng của Nghị viện là làm luật, sở trường là bỏ phiếu để đo lường niềm tin).
=> Nếu quốc gia nào đó giao quyền phế truất, luận tội quan chức cho Nghị viện thì đó gọi là giao nhầm chức năng và muôn đời Nghị viện sẽ không phế truất và luận tội được ai.
Để luận tội thành công, Nghị viện phải được hỗ trợ từ cơ quan tư pháp.
13. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Cộng hòa Pháp thì Hạ viện yếu thế hơn so với Thượng viện.
=> Nhận định SAI.
Xét về tương quan lực lượng giữa Thượng viện và Hạ viện thì Hạ viện Cộng hòa Pháp thắng thế hơn một chút so với Thượng viện, cụ thể như sau:
– Đối với một dự luật ở Pháp phải được cả Thượng viện và Hạ viện thông qua.
Nếu có sự bất đồng giữa hai viện trong việc thông qua một đạo luật thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải (gồm một nửa Thượng nghị sĩ và một nửa Hạ nghị sĩ).
Trong trường hợp hòa giải không thành và nếu Thủ tướng của nước Pháp mong muốn dự luật mau chóng được thông qua thì Thủ tướng sẽ đề nghị Hạ viện chung quyết với tỷ lệ ít nhất 2/3 số đại biểu có mặt => luật trở thành luật mặc kệ Thượng viện không đồng ý.
– Đối với việc thành lập Thủ tướng và Nội các (một phần của Chính phủ): việc thành lập, giám sát, bất tín nhiệm đều do Hạ viện quyết định, Thượng viện Pháp không có vai trò gì trong lĩnh vực nhân sự.
Ngoài ra Hạ viện Pháp do nhân dân trực tiếp bầu ra thông qua hai vòng.
Một dự luật phải được hai viện thông qua nhưng nếu có bất đồng thì Ủy ban hỗn hợp được thành lập do Chủ tịch Hạ viện làm chủ tịch.
Nếu hòa giải không thành thì Thủ tướng Cộng hòa Pháp sẽ đề nghị Hạ viện chung quyết với tỷ lệ ít nhất 2/3 số đại biểu có mặt.
Bên cạnh đó, tất cả các vấn đề liên quan đến thành lập Chính phủ, chất vấn, phê bình và lật đổ Chính phủ đều do Hạ viện quyết định, Thượng viện không có quyền.
Do đó, xét về tương quan lực lượng giữa hai viện thì Hạ viện có ưu thế hơn Thượng viện.
14. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Vương quốc Anh thì Hạ viện yếu thế hơn so với Thượng viện.
=> Nhận định SAI.
Vì xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức Nghị viện của Vương quốc Anh thì Hạ viện hoàn toàn thắng thế và hoàn toàn áp đảo Thượng viện.
Do luật liên quan đến thuế khóa, tài chính,… chỉ bị trì hoãn tại Thượng viện trong thời hạn 1 tháng sau đó đương nhiên có hiệu lực bất chấp Thượng viện có đồng ý hay không.
Đối với các dự luật khác, khi được Hạ viện thông qua thì Thượng viện có thể trì hoãn tối đa 1 năm, hết thời hạn đó luật đương nhiên có hiệu lực bất chấp Thượng viện có đồng ý hay không.
Hạ viện có toàn quyền trong các vấn đề liên quan đến thành lập, chất vấn và lật đổ Chính phủ mà Thượng viện không có quyền.
Như vậy ở Anh, Hạ viện áp đảo Thượng viện chứ không hề yếu thế hơn.
Mặt khác, bởi vì Nghị viện ở Vương quốc Anh được tổ chức thành hai viện: Quý tộc viện (Thượng viện) và Thứ dân viện (Hạ viện).
Cho đến ngày nay, đặc biệt sau những lần cải cách Nghị viện năm 1911 và năm 1949 thì có thể kết luận chắc chắn rằng: Thứ dân viện đã hoàn toàn thắng thế trước Quý tộc viện; Quý tộc viện đã hoàn toàn mang tính hình thức là hư quyền cùng với sự cáo chung của giai cấp quý tộc phong kiến ở Anh Quốc.
Cụ thể như sau:
+ Đối với một dự luật liên quan đến tài chính – ngân sách: một khi đã được Thứ dân viện bỏ phiếu thông qua thì Quý tộc viện chỉ được trì hoãn dự luật đó trong thời hạn tối đa 30 ngày.
Hết thời hạn 30 ngày thì luật đó đương nhiên trở thành luật, bất chấp Quý tộc viện có đồng ý hay không.
+ Đối với những dự luật khác: một khi đã được Thứ dân viện thông qua thì Quý tộc viện chỉ được quyền trì hoãn dự luật đó tối đa 1 năm.
Hết thời hạn 1 năm, luật đó có hiệu lực bất chấp Quý tộc viện có đồng ý hay không.
+ Tất cả việc giám sát, phê bình đối với Chính phủ Anh Quốc đều do Thứ dân viện quyết định, Quý tộc viện không có vai trò gì.
Nói như thế không có nghĩa là Quý tộc viện là con số 0 mà nó vẫn có một số vai trò nhất định như:
+ Đến trước năm 2009, Quý tộc viện đóng vai trò là cơ quan xét xử cao nhất của Anh và quản lý Tòa án địa phương về mặt tổ chức.
+ Nếu Thủ tướng Anh sử dụng quyền giải tán Nghị viện thì cơ quan bị giải tán là Thứ dân viện, còn Quý tộc viện thì không bao giờ bị giải tán.
15. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thì Thượng viện yếu thế hơn so với Hạ viện.
=> Nhận định SAI.
Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thì Thượng viện và Hạ viện ngang quyền nhau.
Điều này thể hiện ở việc một đạo luật muốn được thông qua phải có sự đồng ý của cả hai viện; Hạ viện nắm độc quyền về tài chính, tiền bạc, ngân sách còn Thượng viện độc quyền về nhân sự, vũ khí và đối ngoại.
– Sự tương quan lực lượng giữa Thượng viện và Hạ viện nhìn chung thì cân bằng, ngang tài ngang sức, mỗi viện nhận một thẩm quyền riêng:
+ Một dự luật ở Mỹ về nguyên tắc phải được Thượng viện và Hạ viện thông qua (thứ tự thông qua không quan trọng).
+ Hạ viện Mỹ được Hiến pháp trao cho quyền nắm độc quyền về tài chính, ngân sách và thuế khóa.
Người Mỹ có câu ngạn ngữ: “Không ai được lấy trong túi của họ đồng nào nếu không có sự đồng ý của Hạ nghị sĩ”.
+ Thượng viện mạnh về quản lý độc quyền nhân sự, an ninh và đối ngoại.
– Tuy nhiên, nếu nghiên cứu thật kỹ trên thực tế thì khó có sự cân bằng tuyệt đối giữa hai viện mà cán cân quyền lực nghiêng về Thượng viện hơn là Hạ viện.
Bởi lẽ Thượng viện do nhân dân Mỹ trực tiếp bầu ra, có nhiệm kỳ 6 năm:
+ Phó Tổng thống Mỹ là Chủ tịch Thượng viện và thay thế Tổng thống khi Tổng thống gặp sự cố.
+ Quy chế làm việc thoải mái => Thượng viện Mỹ lợi dụng điều này để “ngâm” một dự luật đã được Hạ viện thông qua theo ý của Thượng viện.
Trong khi đó Hạ viện có 435 người, nhiệm kỳ 2 năm, quy chế làm việc rất khắt khe nên mỗi Hạ nghị sĩ chỉ được phát biểu 5 phút về một vấn đề.
Vì vậy, các Thượng nghị sĩ của Mỹ có thể lợi dụng vấn đề này để “ngâm” một đạo luật theo đúng ý đồ của họ.
+ Tổng thống không có quyền giải tán Nghị viện vì Mỹ theo chính thể cộng hòa Tổng thống.
16. Xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Nhật Bản trên thực tế hiện nay thì Hạ viện hoàn toàn thắng thế so với Thượng viện.
=> Nhận định SAI.
Theo đúng quy định của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 thì xét về tương quan lực lượng giữa hai viện trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện Nhật Bản thì Hạ viện hoàn toàn thắng thế so với Thượng viện.
Điều này thể hiện ở chỗ:
+ Một dự luật liên quan đến điều ước quốc tế và ngân sách nếu Hạ viện thông qua và Thượng viện không đồng ý thì Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải do Chủ tịch Hạ viện đứng đầu; nếu hòa giải không thành thì Hạ viện chung quyết.
+ Đối với các dự luật khác nếu có bất đồng thì Ủy ban hỗn hợp do Chủ tịch Hạ viện đứng đầu để hòa giải; nếu hòa giải không thành thì Thủ tướng Nhật Bản đề nghị Hạ viện chung quyết.
+ Trong vấn đề bầu Thủ tướng phải có sự đồng ý của quá bán mỗi viện, tuy nhiên nếu không đạt được tỷ lệ này thì mỗi viện sẽ bầu độc lập; nếu thành hai người khác nhau thì Ủy ban hỗn hợp sẽ được thành lập do Chủ tịch Hạ viện đứng đầu; nếu hòa giải không thành thì người được Hạ viện bầu sẽ là Thủ tướng.
+ Nếu Hạ viện bất tín nhiệm Chính phủ mà trong vòng 10 ngày Thượng viện không có ý kiến thì Chính phủ sẽ bị lật đổ.
Cụ thể:
+ Đối với một dự luật về tài chính, ngân sách và hiệp ước thì phải được cả Thượng viện và Hạ viện nhất trí thông qua.
Nếu có sự bất đồng giữa Thượng viện và Hạ viện thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải, Chủ tịch Hạ viện sẽ làm trưởng ban (trong đó một nửa là Thượng nghị sĩ, một nửa là Hạ nghị sĩ) => nếu hòa giải không thành thì quyết định của Hạ viện Nhật là quyết định cuối cùng.
+ Đối với dự luật liên quan đến những vấn đề khác thì nếu có sự bất đồng thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải => nếu hòa giải không thành (Ủy ban do Chủ tịch Hạ viện làm Chủ tịch) mà Thủ tướng Nhật muốn đạo luật nhanh chóng có hiệu lực thì Thủ tướng trình Hạ viện chung quyết với tỷ lệ 2/3 số đại biểu có mặt bất chấp Thượng viện có đồng ý hay không.
+ Đối với vấn đề thành lập chức danh Thủ tướng: Nhật Bản là quốc gia hiếm hoi trên thế giới theo chính thể đại nghị và có quy định Thủ tướng phải được cả Thượng viện và Hạ viện bầu ra theo nguyên tắc sau (64 nước còn lại Thủ tướng do Hạ viện thành lập): để trở thành Thủ tướng của Nhật Bản phải được Hạ viện và cả Thượng viện bầu với tỷ lệ quá bán.
Trong trường hợp không có ứng cử viên nào nhận được số phiếu như trên thì Hạ viện và Thượng viện Nhật Bản sẽ tiến hành bầu Thủ tướng độc lập trong số 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất.
Nếu Hạ viện bầu một người làm Thủ tướng còn Thượng viện lại bầu một người khác làm Thủ tướng thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải (giao cho Chủ tịch Hạ viện làm trưởng ban).
Trong trường hợp hòa giải không thành thì ứng viên nào được Hạ viện bầu sẽ chính thức trở thành Thủ tướng của Nhật Bản.
+ Bất tín nhiệm và giám sát Chính phủ: nếu Hạ viện tuyên bố bất tín nhiệm Chính phủ thì trong vòng 10 ngày mà Thượng viện im lặng, không có ý kiến gì thì coi như Chính phủ bị bất tín nhiệm và bị lật đổ.
Tuy nhiên, ở Nhật Bản trong những năm vừa qua thì chính trường Nhật Bản chứng kiến sự xuất hiện của rất nhiều đảng chính trị; Đảng Dân chủ Tự do dần dần mất đi ưu thế của mình => các đảng phái thi nhau chia ghế trong nghị trường; nhân dân Nhật đang có xu hướng chia rẽ; nước Nhật có lúc rơi vào tình trạng đa đảng nhưng không có đảng nổi trội => Thượng viện Nhật Bản dần dần mạnh lên và giành lại thế cân bằng, thậm chí trong nhiều trường hợp còn tỏ ra lấn át Hạ viện.
+ Với tình hình đa đảng nhưng không có đảng nổi trội để tìm kiếm quá bán của Hạ nghị sĩ đã rất khó khăn, vì vậy để đạt được tỷ lệ 2/3 tại Hạ viện dường như là không tưởng với nước Nhật ngày nay.
Vì vậy nếu dự luật đã bị Thượng viện Nhật bác thì số phận của nó gần như đã chấm hết vì Hạ viện không thể nào chung quyết được với tỷ lệ 2/3.
+ Thượng viện Nhật Bản nổi tiếng với những con người già nua, khó tính, khó thuyết phục, khó xin phiếu.
Thủ tướng Nhật Bản muốn tìm kiếm liên minh ở Hạ viện thì rất dễ nhưng để tìm kiếm liên minh ở Thượng viện là rất khó và áp lực => chính trường Nhật Bản trong mấy chục năm qua thì hầu hết các Thủ tướng đều phải từ chức, đa số bị làm khó làm dễ do không tìm được liên minh ở Thượng viện.
17. Các quốc gia tổ chức Nghị viện theo mô hình lưỡng viện thì cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện đều do cử tri trực tiếp bầu ra.
=> Nhận định SAI.
– Quốc gia nào tổ chức Nghị viện theo mô hình đơn viện thì đương nhiên Nghị viện do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Còn quốc gia nào tổ chức Nghị viện theo mô hình lưỡng viện thì 100% Hạ viện trên thế giới là do nhân dân trực tiếp bầu, còn Thượng viện thì có 6 cách thành lập và trong 6 cách đó thì chỉ có 3 Thượng viện do nhân dân trực tiếp bầu: Thượng viện Mỹ, Thượng viện Nhật Bản và Thượng viện Ba Lan.
Trong 3 Thượng viện này thì chỉ có Thượng viện Nhật Bản và Thượng viện Mỹ là có thực quyền, còn Ba Lan là hư quyền, chỉ mang tính hình thức.
Một số nước tổ chức Nghị viện thành Thượng viện và Hạ viện như:
+ Nước Pháp:
– Thượng viện Pháp: bao gồm 348 Thượng nghị sĩ, do nhân dân bầu gián tiếp thông qua đại cử tri, nhiệm kỳ là 6 năm; cứ 3 năm bầu lại 1/2 để đảm bảo tính kế thừa; công dân Cộng hòa Pháp từ 30 tuổi trở lên mới được ứng cử Thượng nghị sĩ.
– Hạ viện Pháp: gồm 577 thành viên, do nhân dân bầu trực tiếp qua 2 vòng; vòng 1 ứng cử viên thu được từ 12,5% số phiếu trở lên thì được vào vòng 2; đến vòng 2 áp dụng nguyên tắc đa số tương đối.
Công dân Cộng hòa Pháp từ 25 tuổi trở lên mới được ứng cử Hạ nghị sĩ và nhiệm kỳ là 5 năm; ứng cử viên phải đặt một khoản tiền cọc.
+ Nước Anh:
– Quý tộc viện (House of Lords): Quý tộc viện ở Anh Quốc là cơ quan hiếm hoi trên thế giới mà số lượng thành viên không xác định được; có những thành viên chưa từng đi họp lần nào, không biết trụ sở của Thượng viện ở đâu.
Công dân Anh phải từ 21 tuổi trở lên thì mới có tư cách trở thành Thượng nghị sĩ.
Quý tộc viện được chia thành 4 lớp quý tộc như sau:
+ Quý tộc truyền ngôi.
+ Quý tộc suốt đời.
+ Quý tộc tinh thần.
+ Quý tộc pháp quan.
=> Thượng viện Anh hiện nay được xác định khoảng 700 thành viên.
– Thứ dân viện (House of Commons): gồm 650 Hạ nghị sĩ, được bầu ở Anh, Bắc Ireland và xứ Wales.
Công dân Anh Quốc từ 21 tuổi trở lên mới được ứng cử Hạ nghị sĩ; khi ra ứng cử phải đóng tiền cọc và phải thu được 10% số phiếu bầu trở lên thì được trả lại tiền cọc, nếu dưới thì mất cọc.
=> Điều này làm cho người ứng cử phải coi trọng, nghiêm túc trong việc ứng cử, tránh việc phá hoại bầu cử.
Ở Anh Quốc cấm Hạ nghị sĩ, Thẩm phán và quân nhân ứng cử Thượng nghị sĩ.
+ Nước Mỹ:
– Thượng viện Mỹ gồm 100 nghị sĩ, mỗi tiểu bang có 2 Thượng nghị sĩ và nhiệm kỳ là 6 năm; cứ 2 năm bầu lại 1/3.
Công dân Mỹ phải có tuổi đời từ 30 tuổi trở lên và phải định cư ở Mỹ liên tục ít nhất là 9 năm trở lên.
– Hạ viện gồm 435 Hạ nghị sĩ, được bầu theo số dân của mỗi tiểu bang.
Nhiệm kỳ của Hạ viện chỉ có 2 năm; công dân Mỹ từ 25 tuổi trở lên mới được ứng cử Hạ nghị sĩ; công dân Mỹ phải định cư liên tục ít nhất 7 năm trở lên và phải đóng một khoản tiền cọc.
+ Nước Nhật:
– Thượng viện Nhật Bản: do nhân dân trực tiếp bầu, nhiệm kỳ 6 năm, gồm 252 Thượng nghị sĩ; cứ 3 năm bầu lại 1/2.
Công dân Nhật Bản từ 30 tuổi trở lên mới được ứng cử Thượng nghị sĩ.
– Hạ viện Nhật Bản: nhiệm kỳ 4 năm, gồm 480 Hạ nghị sĩ, do nhân dân trực tiếp bầu.
Công dân Nhật từ 25 tuổi trở lên mới được ứng cử Hạ nghị sĩ và phải đặt một khoản tiền cọc.
=> Cơ quan nào do nhân dân trực tiếp bầu thì cơ quan đó có thực quyền, cho dù cơ quan đó có bị “dìm” như Thượng viện Nhật Bản.
Còn cơ quan nào do nhân dân gián tiếp bầu thì sẽ ít thực quyền hơn, ví dụ như Thượng viện Pháp; còn cơ quan nào không do nhân dân bầu thì sẽ hoàn toàn hư quyền và mang tính hình thức.
18. Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản đã chính thức xác lập ưu thế của Thượng nghị viện so với Hạ nghị viện.
=> Nhận định SAI.
– Theo Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản thì xác định ưu thế của Hạ viện so với Thượng viện.
Cụ thể được thể hiện như sau:
+ Đối với một dự luật liên quan đến tài chính và hiệp ước thì phải được cả Thượng viện và Hạ viện thông qua.
Nếu có sự bất đồng giữa Thượng viện và Hạ viện thì thành lập một Ủy ban hỗn hợp để hòa giải => nếu hòa giải không thành thì quyết định của Hạ viện được coi là quyết định cuối cùng.
+ Đối với dự luật có liên quan đến những vấn đề khác: nếu có sự bất đồng giữa Thượng viện và Hạ viện thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải => nếu hòa giải không thành thì Ủy ban này (do Chủ tịch Hạ viện làm Chủ tịch) mà Thủ tướng muốn luật nhanh chóng có hiệu lực thì trình Hạ viện chung quyết với tỷ lệ 2/3 trở lên thì là quyết định cuối cùng.
+ Vấn đề thành lập Thủ tướng: được Hạ viện bầu với tỷ lệ quá bán và Thượng viện bầu với tỷ lệ quá bán.
Nếu không có ứng cử viên nào nhận được số phiếu trên thì Thượng viện và Hạ viện tiến hành bầu Thủ tướng độc lập trong số 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất.
Nếu chọn cùng một người thì người đó làm Thủ tướng; nếu không thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải => nếu hòa giải không thành thì ứng viên nào được Hạ viện chọn thì làm Thủ tướng.
Tuy nhiên, ở Nhật Bản trong những năm gần đây thì xuất hiện nhiều đảng chính trị; Đảng Dân chủ Tự do dần mất đi vị thế của mình => các đảng phái thi nhau chia ghế trong nghị trường => nhân dân Nhật đang có xu hướng chia rẽ và nước Nhật có những lúc rơi vào tình trạng đa đảng nhưng không có đảng nổi trội => nên Thượng viện Nhật bắt đầu dần mạnh lên và giành lại thế cân bằng, thậm chí trong nhiều trường hợp còn tỏ ra lấn át cả Hạ viện.
19. Theo Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản, Thủ tướng là do Hạ nghị viện bầu ra.
=> Nhận định SAI.
Đối với việc thành lập Thủ tướng Nhật Bản, đây là quốc gia đặc biệt quy định Thủ tướng phải được cả Thượng viện lẫn Hạ viện bầu ra với tỷ lệ quá bán Thượng viện và Hạ viện đồng ý.
Tuy nhiên nếu không có ứng cử viên nào đạt tỷ lệ này thì Hạ viện và Thượng viện sẽ tiến hành bầu Thủ tướng một cách độc lập bằng cách Hạ viện và Thượng viện sẽ lựa chọn 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất để bầu Thủ tướng.
Kết quả nếu Hạ viện bầu một người làm Thủ tướng và Thượng viện bầu một người khác thì một Ủy ban hỗn hợp được thành lập để hòa giải.
Nếu hòa giải vẫn không thành thì lúc này người nào được Hạ viện bầu làm Thủ tướng thì chính thức trở thành Thủ tướng.
20. Trong chính thể đại nghị, trách nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện là trách nhiệm pháp lý.
=> Nhận định SAI.
Trong chính thể đại nghị, trách nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện là trách nhiệm chính trị.
Vì các nước này thực hiện kiểm soát Chính phủ theo cơ chế bất tín nhiệm mà cơ chế này đặt ra trách nhiệm chính trị chứ không phải trách nhiệm pháp lý với đặc điểm như: quy kết trách nhiệm trên cơ sở niềm tin, thông qua thủ tục bỏ phiếu và do Nghị viện tiến hành.
– Theo đó, ban đầu trách nhiệm của Thủ tướng và các Bộ trưởng là trách nhiệm pháp lý ở điểm: một khi các Nghị sĩ ở Anh tỏ vẻ không hài lòng và không ủng hộ đối với một Bộ trưởng thì thường các Bộ trưởng bắt các Nghị sĩ phải chứng minh bằng được các Bộ trưởng sai ở điểm nào.
Tuy nhiên điều này vô tình tạo ra sự căng thẳng giữa các Nghị sĩ với các thành viên của Chính phủ.
Các Nghị sĩ thường tìm đủ mọi cách để “chơi tới cùng” các sai phạm của các Bộ trưởng, thậm chí phải “moi móc” cho bằng được sai phạm.
(Làm chính trị thì thông thường không sai chỗ này cũng sai chỗ khác => khi các Nghị sĩ đã tìm được sai phạm thì hậu quả rất nặng nề cho các Bộ trưởng và thậm chí có thể chịu án tù hoặc mất mạng nếu bị quy kết hình sự).
Rút kinh nghiệm điều này và tránh trường hợp “moi móc” và đương đầu trực tiếp với Nghị sĩ nên sau này chỉ cần khi nào Nghị viện cảm thấy khó chịu với mình thì ngay lập tức Thủ tướng và các Bộ trưởng sẽ nộp đơn từ chức.
Vì thế trách nhiệm hình sự đã chuyển hóa thành trách nhiệm chính trị.
21. Trong chính thể cộng hòa hỗn hợp, Nghị viện có quyền bất tín nhiệm tất cả các thành viên của Chính phủ.
=> Nhận định SAI.
Bất tín nhiệm là việc Nghị viện (Hạ viện) cảm thấy không còn tin tưởng Chính phủ => Nghị viện chủ động đưa Chính phủ ra bỏ phiếu đo lường niềm tin và nếu quá bán không tín nhiệm thì Chính phủ phải từ chức (từ chức cả tập thể Chính phủ).
Chỉ có một phần Chính phủ trong chính thể cộng hòa hỗn hợp được thành lập trên cơ sở của Nghị viện, đó là Thủ tướng và Nội các => phải báo cáo công tác trước Nghị viện và có thể bị Nghị viện bất tín nhiệm, lật đổ.
Còn Tổng thống không được thành lập trên cơ sở của Nghị viện nên không báo cáo công tác, không chịu trách nhiệm trước Nghị viện; Tổng thống còn được quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn.
Do vậy, trong chính thể cộng hòa hỗn hợp, Nghị viện chỉ có quyền bất tín nhiệm đối với các chức danh của Chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị viện chứ không phải tất cả các chức danh của Chính phủ.
22. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức tiến hành luận tội Tổng thống theo một thủ tục giống nhau.
=> Nhận định SAI.
Vì trên thế giới có 3 mô hình luận tội với những thủ tục khác nhau. Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức đã áp dụng những mô hình luận tội khác nhau để luận tội Tổng thống của mình.
+ Mỹ chọn mô hình thứ nhất: toàn bộ quá trình giao cho Nghị viện với sự hỗ trợ của Chánh án Tối cao Pháp viện. Hạ viện đóng vai trò viết cáo trạng, Thượng viện đóng vai trò kết luận; Chánh án Tối cao Pháp viện chủ tọa phiên đàn hạch tại Thượng viện.
+ Cộng hòa Pháp chọn mô hình thứ hai: Hạ viện đóng vai trò viết cáo trạng; Thượng viện sẽ lập ra một Tòa án đặc biệt để xét xử.
+ Cộng hòa Liên bang Đức chọn mô hình thứ ba: Nghị viện đóng vai trò viết cáo trạng, Tòa án Hiến pháp sẽ ra phán quyết có tội hay không có tội.
– Luận tội ở Mỹ: toàn bộ quá trình luận tội giao cho Nghị viện; theo đó Hạ viện là cơ quan giữ vai trò viết cáo trạng luận tội (phải có sự giúp sức của Ủy ban điều tra độc lập), Thượng viện là cơ quan xét xử, kết luận có tội hay không (phải có sự giúp sức của Chánh án Tối cao Pháp viện) => đối với Tổng thống Mỹ.
Căn cứ để đàn hạch Tổng thống Mỹ: vi hiến, hối lộ, còn có thể bị đàn hạch khi phạm một tội danh nào đó dẫn đến mất uy tín, thể diện của dân tộc.
Căn cứ đàn hạch Tổng thống Mỹ là rộng nhất trên thế giới.
Thủ tục đàn hạch như sau:
+ Bước 1: Hạ viện Mỹ sẽ thành lập Ủy ban điều tra công khai hoặc bí mật, bao gồm những chuyên gia nhằm tìm ra chứng cứ để buộc tội Tổng thống.
Khi tìm được chứng cứ sẽ đưa ra lời buộc tội đối với Tổng thống Mỹ; lời buộc tội thành công khi có ít nhất 2/3 Hạ nghị sĩ Mỹ có mặt đồng ý.
+ Bước 2: Thượng viện Mỹ sẽ đóng vai trò là cơ quan xét xử và kết tội đối với Tổng thống; lời kết tội này thành công nếu có ít nhất 2/3 Thượng nghị sĩ có mặt đồng ý.
(*Lưu ý: người chủ tọa phiên đàn hạch Tổng thống Mỹ tại Thượng viện Mỹ không phải là Chủ tịch Thượng viện mà là Chánh án Tối cao Pháp viện Mỹ.)
Có 3 lý do:
+ Thứ nhất, theo quy định của Hiến pháp thì Phó Tổng thống Mỹ sẽ là Chủ tịch Thượng viện, vì vậy nếu để Chủ tịch Thượng viện chủ tọa phiên đàn hạch sẽ không công bằng ở hai góc độ:
Góc độ thứ nhất là nguy cơ tranh giành quyền lực nếu Tổng thống bị đàn hạch thành công thì Phó Tổng thống lên làm Tổng thống.
Góc độ thứ hai là khả năng bao che, dung túng nhau vì Phó Tổng thống là người do Tổng thống lựa chọn.
=> Ở cả hai góc độ đều thể hiện sự không công bằng.
+ Thứ hai, nước Mỹ có sự phân quyền triệt để, vì vậy để có thể loại bỏ được Tổng thống khỏi chiếc ghế quyền lực mạnh mẽ của hành pháp thì đòi hỏi phải có sự hợp sức của hai nhánh quyền lực còn lại nhằm tạo ra cơ chế kiềm chế và đối trọng.
+ Thứ ba, bản chất của đàn hạch Tổng thống Mỹ suy cho cùng là một dạng trách nhiệm pháp lý: muốn đàn hạch Tổng thống Mỹ thành công thì Tổng thống phải có hành vi sai trái, phải có chứng cứ để chứng minh, phải được tiến hành theo một quy trình tố tụng, phải có tranh tụng, tranh luận công khai và ra phán quyết.
=> Đây chính là chức năng, sở trường của Thẩm phán, của quan tòa, của cơ quan tư pháp chứ không phải chức năng, sở trường của Nghị viện (làm luật).
Nếu quốc gia nào đó giao quyền phế truất, luận tội quan chức cho Nghị viện thì đó gọi là giao nhầm chức năng và sẽ không thể phế truất, luận tội được ai.
Vì vậy để luận tội thành công thì Nghị viện phải có sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp.
– Thực tiễn đàn hạch ở Mỹ: trong 46 đời Tổng thống Mỹ thống kê như sau:
+ Một Tổng thống Mỹ đã bị đàn hạch thành công và mất chức là Andrew Johnson năm 1868.
+ Một Tổng thống suýt bị đàn hạch là Richard Nixon năm 1973.
+ Hai đời Tổng thống đã nếm mùi đàn hạch nhưng thất bại là Donald Trump và Bill Clinton.
– Luận tội ở Pháp: Hạ viện đóng vai trò viết cáo trạng để tố cáo tội phạm, sau đó Thượng viện thành lập Tòa án đặc biệt để xét xử, kết tội => mô hình kiểu Pháp. Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam cũng giống như vậy.
– Luận tội ở Đức: Hạ viện viết cáo trạng tố cáo tội phạm, Tòa án Hiến pháp đóng vai trò cơ quan xét xử => mô hình Đức.
23. Bộ trưởng Tư pháp là Tổng công tố của Vương quốc Anh.
=> Nhận định SAI.
Vương quốc Anh tổ chức Nghị viện theo mô hình lưỡng viện không phải nhằm dung hòa quyền lợi giữa bang lớn và bang nhỏ trong nhà nước liên bang mà do lịch sử hình thành Nghị viện ở Anh.
Do nhu cầu mở rộng chiến tranh xâm lược và thuộc địa, Vua Anh triệu tập hội nghị gồm quý tộc và thị dân với mục đích tăng thuế và đóng góp thêm vào ngân sách nhưng bị những người này mặc cả để giành quyền làm ra luật lệ.
Ban đầu quý tộc và thị dân đồng ý họp chung nhưng sau này nảy sinh sự phân biệt đẳng cấp giữa quý tộc và thị dân nên họ tách ra họp riêng.
Dần dần những quý tộc này hình thành Quý tộc viện (Thượng viện) và những thị dân này hình thành Thứ dân viện (Hạ viện).
Như vậy, mô hình lưỡng viện của Anh hình thành trên đặc trưng lịch sử chứ không phải nhằm dung hòa quyền lợi giữa các bang và Anh cũng không phải là nhà nước liên bang.
– Quan niệm về tư pháp ở Anh hẹp đến mức không thể hẹp hơn.
Tư pháp = tài phán = xét xử và với quan niệm này thì chỉ có Tòa án mới là cơ quan tư pháp và là cơ quan thực hiện quyền tư pháp; toàn bộ quyền tư pháp tập trung trong Tòa án nên Tòa án nắm trọn vẹn một loại quyền lực.
Tòa án là một nhánh quyền lực thực sự, độc lập, cân bằng mạnh mẽ và đối lập với hai nhánh quyền lực còn lại.
Trên thế giới, quyền công tố rất quan trọng: Nghị viện làm luật, Chính phủ thi hành luật; trong quá trình thi hành luật nếu có người vi phạm thì Chính phủ phải đi điều tra, tìm chứng cứ và bản thân Chính phủ phải viết cáo trạng.
Ở Mỹ, Tổng công tố Liên bang là Bộ trưởng Tư pháp Mỹ do Tổng thống bổ nhiệm và là một thành viên của Chính phủ.
Nước Anh không có Viện công tố; người dân có trình độ dân trí phát triển, người dân có thể tự viết đơn, không cần thuê luật sư nên không có Viện công tố và cũng không có Tổng công tố.
24. Các quốc gia trong thế giới đương đại đều thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân để thực hành quyền công tố và kiểm sát chung.
=> Nhận định SAI.
– Đa số các nước trên thế giới không thành lập Viện kiểm sát vì tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập.
Quyền lực nhà nước được phân thành 3 nhánh quyền lực khác nhau và giao cho 3 cơ quan khác nhau nắm giữ:
+ Quyền lập pháp giao cho Nghị viện.
+ Quyền hành pháp giao cho Chính phủ.
+ Quyền tư pháp giao cho Tòa án.
Ba nhánh quyền lực này cân bằng nhau dẫn đến sự kiểm soát chéo giữa các cơ quan.
Vì vậy mà không cần phải thành lập thêm Viện kiểm sát; tự thân cơ chế phân quyền đã tạo ra sự kiểm soát chéo giữa 3 nhánh quyền lực nên quyền viết cáo trạng tố cáo tội phạm được giao cho Viện công tố trực thuộc Chính phủ.
– Do lịch sử như vậy cho nên đến năm 2009 Thượng viện của Vương quốc Anh vẫn là cơ quan xét xử cao nhất, tối cao nhất.
Tối cao Pháp viện gồm 12 viên Quý tộc pháp quan (Law Lords) đóng vai trò như Tối cao Pháp viện là cơ quan xét xử cao nhất nước Anh và quản lý Tòa án địa phương Anh về mặt tổ chức.
=> Nước Anh không có Tòa án tối cao, không có Tối cao Pháp viện theo nghĩa thông thường.
Bộ trưởng Tư pháp Anh Quốc đồng thời đóng vai trò là Chủ tịch Thượng viện và quản lý 12 viên Quý tộc pháp quan.
=> Qua đó cho thấy Thủ tướng Anh cực kỳ mạnh là trung tâm quyền lực nhà nước.
Đến năm 2009 thì Ủy ban Tư pháp và 12 viên pháp quan tách ra và chính thức thành lập Tòa án tối cao, Tối cao Pháp viện.
25. Hiến pháp không thành văn của Vương quốc Anh chỉ bao gồm các tập tục chính trị mang tính Hiến pháp.
=> Nhận định SAI.
– Hiến pháp không thành văn là việc những vấn đề cơ bản, nguyên thủy của một bản Hiến pháp không được quy định trong một văn bản pháp luật duy nhất mà được quy định rải rác trong rất nhiều nguồn pháp luật khác nhau.
Cụ thể, Hiến pháp không thành văn của Anh có 2 phần chính:
+ Phần thành văn trong Hiến pháp Anh là các hiến chương, đạo luật thông thường và những lời giải thích Hiến pháp của Tòa án; đồng thời phải có liên quan đến phân quyền và nhân quyền.
Ví dụ: Hiến chương Tự do năm 1215,…
+ Phần không thành văn là tất cả những tập tục chính trị mang tính Hiến pháp.
Tập tục chính trị là những thói quen sinh hoạt hàng ngày và được thực hiện lặp đi lặp lại nên không cần văn bản nào quy định.
Ví dụ: cách chọn Thủ tướng Anh bằng việc Nữ hoàng Anh ký quyết định bổ nhiệm nhưng Nữ hoàng chỉ bổ nhiệm Chủ tịch Đảng có đa số ghế trong Hạ viện Anh.
=> Thủ tướng ở Anh là do nhân dân Anh lựa chọn và Nữ hoàng chỉ hợp thức hóa xu hướng của nhân dân.
Hoặc là tập tục nếu Thủ tướng bị Hạ viện bất tín nhiệm thì Thủ tướng Anh phải nộp đơn lên Nữ hoàng để từ chức.
Ngoài ra, Bộ trưởng Tư pháp Anh Quốc đồng thời đóng vai trò là Chủ tịch Thượng viện. Vương quốc Anh không thành lập cơ quan công tố.
26. Vương quốc Anh tổ chức Nghị viện theo mô hình lưỡng viện nhằm dung hòa quyền lợi giữa bang lớn và bang nhỏ trong Nhà nước liên bang.
=> Nhận định SAI.
Thứ nhất, xuất phát từ tương quan lực lượng giữa giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc phong kiến khi làm cách mạng (nguyên nhân mang tính lịch sử của các cuộc cách mạng ở Châu Âu).
+ Giai cấp tư sản hoàn toàn chưa đủ mạnh:
Chưa có khả năng lật đổ hoàn toàn vương triều, chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý đất nước, bản thân giai cấp tư sản cũng không nhận được sự hậu thuẫn của giai cấp tư sản ở các quốc gia lân cận…
+ Giai cấp phong kiến thì chưa hoàn toàn yếu thế:
Với hàng ngàn năm tồn tại thì có khá nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý đất nước và hình ảnh của các vị quân vương vẫn còn để lại dấu ấn khá sâu đậm trong tâm lý, văn hóa chính trị của nhân dân…
Do vậy, khi kết thúc cách mạng tư sản thì đó là một sự thỏa hiệp giai cấp: sự bắt tay giữa tư sản và quý tộc; kết hợp Nghị viện và quân chủ, mỗi bên nắm giữ một nửa.
Trong khi đó, giai cấp tư sản sẽ dần dần lớn mạnh và tích lũy cho mình ngày càng nhiều kinh nghiệm quản lý đất nước; đến khoảng giữa thế kỷ XVIII thì bắt đầu tước bỏ quyền lực của vương triều, toàn bộ quyền hành pháp chuyển dần hết cho Thủ tướng và Nội các.
Cho đến ngày nay, vương triều chỉ còn là cái danh nhưng không còn quyền lực nữa.
Thứ hai, xuất phát từ tâm lý văn hóa của vùng đất Châu Âu.
Khí hậu ôn hòa làm cho người Châu Âu có tính ôn hòa và mềm dẻo, vì vậy người Châu Âu có cách áp dụng học thuyết phân chia quyền lực một cách ôn hòa và mềm dẻo như chính tính cách của họ.
Ở chỗ để hai nhánh quyền lực thành lập trên cơ sở niềm tin của nhau và vì thành lập trên cơ sở đó nên hai nhánh quyền lực này dung túng nhau, đỡ đần nhau, bao che nhau để làm việc, góp ý, phê bình và xây dựng cho nhau.
Cho phép Nghị viện bất tín nhiệm và Thủ tướng có thể đề đơn lên nguyên thủ quốc gia giải tán Nghị viện sớm, công bằng và kiềm chế lẫn nhau.
Thứ ba, Vương quốc Anh được xem là nơi sáng tạo ra hầu hết những đặc điểm căn bản của chính thể đại nghị.
(Chỉ có điều những yếu tố này không được mô tả thành lời và không tạo thành Hiến pháp thành văn mà chỉ hình thành ở những tập tục chính trị).
Chính bản Hiến pháp năm 1949 của Cộng hòa Liên bang Đức đã mô tả lại, vẽ lại những đặc điểm của chính thể đại nghị bằng một bản Hiến pháp thành văn.
Ngoài ra, Bộ trưởng Tư pháp Anh đồng thời đóng vai trò là Chủ tịch Thượng viện. Vương quốc Anh không thành lập cơ quan công tố.
II. Câu hỏi tự luận môn Luật hiến pháp nước ngoài
1. Anh (Chị) hãy phân tích điểm khác nhau cơ bản về cách thức thành lập và vị trí, vai trò của Nguyên thủ quốc gia theo các chính thể đại nghị, cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp.
2. Anh (Chị) hãy phân tích điểm khác nhau cơ bản trong mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp theo các chính thể đại nghị, cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp.
3. Anh (Chị) hãy phân tích điểm khác nhau cơ bản về cơ sở hình thành các mô hình chính thể đại nghị, cộng hòa tổng thống và vai trò của Charles De Gaulle trong việc sáng tạo ra chính thể cộng hòa hỗn hợp.
4. Vì sao nói chính thể cộng hòa hỗn hợp là sự sáng tạo của Charles De Gaulle nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ bất trắc?
5. Đảng chính trị đã làm biến dạng các chính thể này như thế nào và quy luật chung của những sự biến dạng này là gì?
6. Điểm khác nhau cơ bản về cơ sở hình thành và khả năng áp dụng của mô hình bảo hiến phi tập trung và mô hình bảo hiến tập trung.
7. Điểm khác nhau cơ bản về chủ thể bảo hiến và phương pháp bảo hiến của mô hình bảo hiến phi tập trung và mô hình bảo hiến tập trung.
8. Điểm khác nhau cơ bản về quyền khởi kiện, thủ tục bảo hiến và hậu quả của các phán quyết của mô hình bảo hiến phi tập trung và mô hình bảo hiến tập trung.
9. Anh (Chị) hãy giải thích vì sao nói với những sáng tạo của Charles De Gaulle trong bản Hiến pháp 1958, khai sinh ra nền Cộng hòa thứ V của Pháp, đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hoàng kim của Nghị viện.
10. Anh (Chị) hãy giải thích vì sao nói Hội đồng Bảo hiến Cộng hòa Pháp là mô hình bảo hiến mang tính chính trị và dần dần được “tư pháp hóa”.
11. Anh (Chị) hãy giải thích vì sao có ý kiến cho rằng trong hoạt động lập pháp của Cộng hòa Pháp hiện nay thì Thủ tướng đóng vai trò như “một nhà lập pháp thứ hai”.
12. Anh (Chị) hãy lý giải vì sao những quốc gia dân chủ đương đại vẫn duy trì chính thể quân chủ.
13. Anh (Chị) hãy trình bày cơ cấu tổ chức của Nghị viện và tương quan lực lượng giữa hai viện ở Anh, Pháp, Mỹ và Nhật Bản.
14. Anh (Chị) hãy trình bày những quan điểm phổ biến của các quốc gia trên thế giới về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
15. Anh (Chị) hãy phân tích điểm khác nhau cơ bản giữa cơ chế bất tín nhiệm và cơ chế luận tội, phế truất. Vì sao nói trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Nghị viện là một nguyên tắc có tính chất tục lệ, được hình thành từ thực tiễn sinh hoạt chính trị ở Vương quốc Anh?
16. Hiến pháp không thành văn của Vương quốc Anh được hiểu như thế nào và giải thích vì sao Vương quốc Anh có Hiến pháp không thành văn?
Hy vọng bộ câu hỏi ôn thi môn Hiến pháp nước ngoài trên sẽ giúp bạn dễ dàng hệ thống kiến thức, nắm chắc các nội dung trọng tâm và nâng cao kỹ năng phân tích các mô hình hiến pháp, chính thể cũng như cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước trên thế giới. Việc tham khảo thường xuyên những tài liệu ôn thi luật hiến pháp nước ngoài, đề cương ôn tập luật hiến pháp nước ngoài theo hướng tổng hợp, logic sẽ giúp quá trình học tập trở nên hiệu quả hơn, đồng thời hỗ trợ tốt cho việc làm bài thi tự luận, vấn đáp hoặc nghiên cứu chuyên sâu về luật công pháp nước ngoài.


Để lại một phản hồi